phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may việt nam đến năm 2020 - Pdf 23

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh quốc tế
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ CHO
NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020
Họ và tên sinh viên : Vũ Bùi Quỳnh
Mã sinh viê : 0852010164
Lớp : Anh 5 – Khối 2 QT
Khóa : 47
Người hướng dẫn khoa học : ThS Nguyễn Thị Thu Trang
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH VẼ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
MỤC LỤC 2
DANH MỤC HÌNH VẼ 2
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ DỆT MAY 4
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ DỆT MAY VIỆT
NAM ĐẾN NĂM 2020 53
Theo quyết định số 34/2007/QĐ-BCN về “Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm
2010, tầm nhìn đến năm 2020” do Bộ Trưởng bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) và
quyết định số 29/QĐ-TTg do Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt, quan điểm phát triển CNHT dệt
may được xác định như sau: 60
- Phát triển sản xuất các loại vải cho may xuất khẩu, một số loại hoá chất, chất trợ nhuộm, các
chất làm mềm; các loại chất giặt, tẩy; các loại hồ dệt có nguồn gốc tinh bột; hồ hoàn tất tổng
hợp; các loại phụ liệu may khác 62
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

xã hội. Có thể thấy ngành dệt may xứng đáng là ngành công nghiệp mũi nhọn cần
tập trung phát triển của đất nước.
Tuy nhiên đằng sau những kết quả rất đáng ghi nhận đó, ngành dệt may đang
bộc lộ những vấn đề cần khắc phục như năng suất lao động chưa cao, vốn đầu tư
chưa được sử dụng hiệu quả. Trở ngại lớn nhất đối với sự phát triển ngành dệt may
là sự thiếu hụt về nguồn cung cấp nguyên phụ liệu khiến cho nhập khẩu tăng làm
cho giá tị gia tăng của ngành chưa cao. Hiện nay ngành dệt may đang phụ thuộc rất
lớn vào nguồn nhập khẩu xơ, sợi, nguyên phụ liệu, hóa chất từ nước khác. Nguyên
nhân chính của tình trạng này do ngành công nghiệp hỗ trợ của nước ta còn yếu
kém, chưa phát triển tương xứng với ngành dệt may.
Thời gian phấn đấu trở thành nước công nghiệp của Việt Nam vào năm 2020
không còn xa. Mục tiêu của nước ta khi đó là phát triển các ngành công nghiệp đặc
biệt là ngành dệt may hội nhập sâu rộng vào kinh tế khu vực và thế giới, từng bước
thoát khỏi phụ thuộc vào gia công, nâng cao giá trị cho sản phẩm, phát triển thành
ngành công nghiệp mũi nhọn, đóng góp lớn vào sự tăng trưởng của nền kinh tế. Tuy
nhiên để thực hiện được mục tiêu đó, ngành công nghiệp hỗ trợ nói chung và ngành
1
công nghiệp hỗ trợ dệt may nói riêng cần phải được hỗ trợ, nghiên cứu thực trạng
và đưa ra một số giải pháp sẽ giúp tìm ra hướng phát triển.
Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết đó, em đã lựa chọn đề tài “Phát triển
công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may Việt Nam đến năm 2020” để nghiên cứu
cho khóa luận này.
2. Mục đích nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là:
- Làm rõ, hệ thống hóa các lý luận có ảnh hưởng tới sự phát triển của ngành
công nghiệp hỗ trợ dệt may.
- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng của ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may
Việt Nam hiện nay.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may cho
Chính Phủ và các doanh nghiệp.

Đông Á, xuất hiện cùng với trào lưu đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các nước
Đông Nam Á (ASEAN) mà chủ yếu là hoạt động lắp ráp (Assembly plants) giữa
những năm 80 của thế kỷ trước và chỉ chính thức được sử dụng một cách rộng rãi ở
Đông Á vào những năm 1990. “Công nghiệp hỗ trợ” trong tiếng Nhật là “Suso-no
San-gyou” trong đó “Suso-no” nghĩa là “chân núi” và “San-gyou” nghĩa là “đỉnh
núi”. Như vậy có thể hiểu rằng người Nhật quan niệm nếu quy trình sản xuất là một
ngọn núi thì ngành công nghiệp hỗ trợ là chân núi còn đỉnh núi là ngành công
nghiệp lắp ráp. Chân núi là toàn bộ những ngành sử dụng kỹ thuật gia công (đúc,
dập, gò, hàn, cắt gọt, khoan đột, uốn kéo, cán ép, tạo hình, dệt lưới, in ấn bao bì )
gia công các loại vật liệu kim loại, gỗ, cao su, các loại vật liệu tổng hợp nhằm chế
tạo ra các loại linh kiện, phụ tùng cho lắp ráp.
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa CNHT và ngành lắp ráp
Nguồn: http://www.thesaigontimes.vn/Home/
Quan hệ giữa ngành công nghiệp hỗ trợ và ngành lắp ráp có thể được mô tả
như hình trên. Cùng một phần chân núi (sản xuất linh kiện, phụ tùng) nếu muốn sản
xuất sản phẩm gì chỉ cần thay đổi phần đỉnh núi (công nghiệp lắp ráp). Như vậy có
4
thể thấy công nghiệp hỗ trợ bao trùm rất nhiều ngành khác nhau từ sản xuất xe máy,
ô tô, dệt may tới các ngành điện tử, cơ khí khác.
Ý thức được vai trò quan trọng của ngành công nghiệp hỗ trợ, một số quốc
gia đã xây dựng khung lý luận chung về công nghiệp hỗ trợ từ khá sớm. Nhật Bản
là quốc gia đầu tiên đã đưa ra được một khái niệm chính thức về công nghiệp hỗ
trợ: “ngành công nghiệp sản xuất những vật dụng cần thiết như nguyên liệu thô, phụ
tùng và các sản phẩm đầu vào khác…cho công nghiệp lắp ráp (gồm ô tô, điện, điện
tử)” (Japan Overseas Enterprises Association, 1994, Study on supporting industries,
Tokyo). Khái niệm này được Bộ Công nghiệp và Thương mại quốc tế Nhật Bản
MITI (sau đổi tên thành METI vào năm 2001) giới thiệu tới các quốc gia châu Á
trong khuôn khổ của kế hoạch phát triển Châu Á mới (New AID Plan) vào năm
1993.
Thái lan cũng đưa ra định nghĩa về công nghiệp hỗ trợ: “các doanh nghiệp

các nhà đầu tư nước ngoài lo ngại khi đầu tư vào Việt Nam đó là sự thiếu hụt các
nhà cung cấp các yếu tố đầu vào hay chính là việc ở Việt Nam thời điểm đó hầu như
chưa có doanh nghiệp CNHT nào đủ khả năng cung cấp linh kiện và phụ tùng.
Nhằm cải thiện môi trường đầu tư và tăng sức cạnh tranh cho nền kinh tế Việt Nam,
Chính phủ nước ta đã cùng kí với Chính phủ Nhật Bản bản “Sáng kiến chung Việt
Nam – Nhật Bản” giai đoạn I (2003-2005) trong đó hạng mục đầu tiên được nhắc
6
tới trong số 44 hạng mục của chiến lược xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc
phát triển, thu hút và sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào CNHT.
Ngày 31/07/2007, Bộ Công Nghiệp (nay là Bộ Công Thương) đã ban hành
quyết định số 34/2007/QĐ - BCN phê duyệt “Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ
trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020” nhưng lại không đưa ra định nghĩa về
CNHT mà chỉ nêu ra các ngành cần phát triển CNHT bao gồm dệt may, da giày,
điện tử - tin học, sản xuất và lắp ráp ô tô, cơ khí và chế tạo. Ngày 24/02/2011, Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 12/2011/QĐ-TTg “về chính sách phát
triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ” trong đó có giải thích thuật ngữ về ngành
CNHT “là các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện,
bán thành phẩm để cung cấp cho các ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp các sản
phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng”. Như vậy là phải rất
lâu sau các nước trên thế giới, Việt Nam mới đưa ra được khái niệm về ngành
CNHT của riêng mình. Khái niệm này khá giống với định nghĩa của các nước Đông
Á và Thái Lan khi chỉ xác định CNHT là ngành sản xuất linh kiện và phụ tùng cho
các ngành lắp ráp. Việc đưa ra định nghĩa này rất phù hợp với thực tiễn phát triển
của đất nước ta khi mà các doanh nghiệp FDI đều chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực
gia công, lắp ráp và tỉ lệ nội địa hóa rất thấp. Đây là một bước đi cần thiết của chính
phủ nhằm nâng cao tỉ lệ nội địa hóa trong các sản phẩm cũng như đẩy mạnh phát
triển công nghiệp nhằm sớm hiện thực hóa mục tiêu trở thành một nước công
nghiệp hiện đại vào năm 2020. Trong văn bản này cũng đề cập tới khái niệm “công
nghiệp hỗ trợ” chứ không sử dụng thuật ngữ “công nghiệp phụ trơ” như thường
được dùng ở nước ta trước đây nhằm tránh quan điểm hiểu nhầm rằng đây là ngành

Nguyễn Mạnh Hà, 2007, “Đi tìm lời giải cho ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam
trong kỳ chiến lược tới”, Thông tin và Dự báo Kinh tế-Xã hội, số 19):
- Giai đoạn 1: Trước khi có FDI, thị trường nội địa đã có một số doanh
nghiệp cung cấp sản phẩm CNHT cho các doanh nghiệp lắp ráp trong nước. Khi có
FDI, các doanh nghiệp CNHT trong nước sẽ được tham gia vào mạng lưới sản xuất
của các doanh nghiệp FDI. Thông qua quá trình hợp tác kinh doanh giữa các doanh
nghiệp, các công nghệ mới sẽ được các doanh nghiệp FDI chuyển giao cho doanh
nghiệp CNHT trong nước. Tuy nhiên để có được sự chuyển giao về công nghệ từ
các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp CNHT trong nước cần phải tỏ ra có khả
năng cạnh tranh về sản phẩm nguyên phụ liệu với hàng nhập khẩu. Nếu không đáp
ứng được điều kiện này, sự hợp tác giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp CNHT
trong nước sẽ không xảy ra và quá trình liên kết giữa các doanh nghiệp sẽ không thể
thực hiện được.
8
- Giai đoạn 2: Khi FDI tăng lên, nhu cầu về sản phẩm CNHT sẽ tăng lên. Khi
đó các doanh nghiệp CNHT mới sẽ được hình thành nhằm đáp ứng nhu cầu nguyên
phụ liệu cho các doanh nghiệp FDI. Các doanh nghiệp này sẽ tạo ra mối liên kết với
doanh nghiệp FDI và được chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI.
- Giai đoạn 3: Sau một khoảng thời gian hoạt động, doanh nghiệp FDI đã tạo
ra thị trường tiêu thụ đủ lớn cho ngành CNHT. Khi nhận thấy ngành CNHT trong
nước đã đủ lớn mạnh, các SMEs nước ngoài sẽ chủ động tìm tới thị trường trong
nước để đầu tư. Các SMEs này có thể là doanh nghiệp độc lập với doanh nghiệp
FDI hay là các công ty có mối quan hệ lâu dài và được doanh nghiệp FDI khuyến
khích đầu tư.
Như vậy có thể khẳng định FDI chỉ phát triển khi: Chính phủ đưa ra các
chính sách nhằm phát triển CNHT trong nước (như giai đoạn 1 và 2) hoặc Chính
Phủ tạo ra môi trường kinh doanh ổn định cho doanh nghiệp FDI, tạo điều kiện để
doanh nghiệp FDI phát triển (như giai đoạn 3).
1.1.2.3. CNHT là ngành đòi hỏi đầu tư lớn, trình độ công nghệ cao.
Ngành công nghiệp hỗ trợ được chúng ta quan tâm tới khá muộn. Ngay cả

Nếu như phát triển ngành CNHT sẽ có tác động “lan tỏa” tới sự phát triển của các
ngành sản xuất khác cũng như tạo sự phát triển chung cho cả nền kinh tế.
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ.
Một là, thị trường tiêu thụ của ngành công nghiệp hỗ trợ. Mỗi ngành công
nghiệp đều phát triển theo một chuỗi giá trị riêng. Tuy nhiên các ngành này đều
được hình thành từ sự liên kết giữa hai khu vực: khu vực thượng nguồn (upstream)
và khu vực hạ nguồn (downstream). Trong đó khu vực thượng nguồn chính là các
ngành CNHT và chúng cung cấp các linh kiện, phụ tùng lắp ráp cho khu vực hạ
nguồn là các ngành công nghiệp chính yếu. ngành CNHT chỉ có thể phát triển được
khi đầu ra phải đủ lớn hay nói cách khác nhu cầu về linh kiện, phụ tùng phải đủ lớn.
Lợi thế lớn của ngành CNHT là lợi thế về quy mô sản xuất lớn dẫn tới giá thành
giảm. Nếu như nhu cầu về CNHT không đủ lớn sẽ khiến cho giá thành của ngành
CNHT cao và các nhà sản xuất sẽ lựa chọn nguồn cung nhập khẩu thay thế.
Hai là, tiến bộ khoa học kỹ thuật. Ngày nay sự đổi mới về khoa học kỹ thuật
diễn ra từng ngày từng giờ và có khả năng to lớn trong việc tăng năng suất. Việc
phát minh ra các loại vật liệu mới cũng như các chi tiết mới có thể giúp phát triển
các ngành công nghiệp cũng như tạo ra các ngành mới. CNHT có vai trò dẫn dắt các
ngành công nghiệp hạ nguồn trong sự phát triển của mình cũng như chịu sự chi phối
trong việc sản xuất các chi tiết, linh kiện mới theo sự nghiên cứu phát triển các sản
phẩm mới của ngành này.
10
Ba là, nguồn lực tài chính. Như đã phân tích ở trên, CNHT là ngành đòi hỏi
nguồn lực tài chính mạnh mẽ. Mặt khác, CNHT là ngành có thời gian thu hồi vốn
lâu, đầu tư công nghệ phức tạp. Do đó doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này
đòi hỏi các nhà đầu tư phải có nguồn lực tài chính dồi dào. Ở các quốc gia đang
phát triển tình trạng thiếu vốn khiến cho việc thu hút FDI là một giải pháp quan
trọng.
Bốn là, mức độ bảo hộ thực tế. Mức độ bảo hộ thực tế là tỷ lệ % giữa thuế
quan danh nghĩa với phần giá trị gia tăng nội địa. Tỷ lệ này cho biết mức độ bảo hộ
thực tế của một ngành sản xuất trong nước. Tỷ lệ này quyết định một phần tới mức

12
Hình 1.3: Quy trình sản xuất và hoàn tất sản phẩm dệt may
Nguồn: Viện nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp.
13
Sản xuất
bông
Sx xơ sợi
tổng hợp
Kéo sợi
Cắt may
Dệt vải mộc
Nhuộm - In hoa
Hoàn tất
Phân bón, thuốc
phòng bệnh dịch
Công nghệ hóa
dầu
Các loại phụ tùng
kim khí và
phi kim loại
Các loại phụ tùng
kim khí và
phi kim loại
Các loại hóa chất
phụ trợ
Các loại thuốc
nhuộm và
hóa chất phụ trợ
Các loại phụ liệu
may

1.2.2.1. Sản xuất nguyên liệu.
a, Ngành bông sợi.
Nghề trồng bông, dệt sợi xuất hiện ở Ấn Độ từ thời tiền sử từ hàng nghìn
năm trước. Bằng chứng về sợi bông hóa thạch được tìm thấy tại địa điểm khảo cổ
Mohenjo-Daro bên bờ sông Indus thuộc Ấn Độ. Từ Ấn Độ nghề trồng bông, dệt sợi
được lan truyền tới vùng Lưỡng Hà rồi sang các nước khác. Việc buôn bán sợi được
xác định vào thời Alexander Đại Đế tại Roma vào khoảng thế kỷ thứ IV trước công
nguyên. Bước vào thế kỷ XX, sợi bông đã trở thành thứ sợi tự nhiên quan trọng của
thế giới.
Ở nước ta, nghề trồng bông đã có lịch sử khoảng trên 2.000 năm. Từ thời
Pháp thuộc, sản lượng bông sản xuất ra đã đủ phục vụ nhu cầu trong nước. Sang
đầu thế kỷ XX, Việt Nam đã bắt đầu xuất khẩu bông sang Nhật Bản, Hồng Kông.
Kể từ khi đất nước bắt đầu quá trình công nghiệp hóa, ngành bông sợi đã trở thành
một trong những ngành trọng tâm của nền kinh tế. Theo quyết định số 1255/QĐ -
BNV của Bộ Nội Vụ ký ngày 27/10/2010, Hiệp hội Bông sợi Việt Nam đã được
thành lập trên cơ sở sáp nhập Hiệp hội Bông vải Việt Nam và Hiệp hội Sợi Việt
Nam. Đây được coi là bước đi quan trọng và được sự ủng hộ của cả hai hiệp hội
trên với kỳ vọng việc sáp nhập sẽ mang lại cho ngành bông sợi những bước phát
triển mới trong thời gian tới.
14
b, Ngành trồng dâu, nuôi tằm.
Ngành sản xuất nguyên liệu là ngành cung cấp các nguyên liệu tự nhiên như
bông len , tơ sợi để xe tơ, chỉ. Ngành này thường phát triển ở các quốc gia có điều
kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển cây bông, đay và nghề trồng dâu nuôi tằm.
Theo phỏng đoán của các nhà lịch sử, nghề trồng dâu nuôi tằm xuất hiện đầu tiên ở
Trung Quốc cách đây khoảng 4.000 - 5.000 năm vào khoảng năm 2.200 trước Công
nguyên triều vua Châu Vương. Vào thời điểm đó người dân Trung Quốc đã biết
nuôi tằm và thuần hóa giống tằm để làm ra tơ lụa phục vụ riêng cho triều đình. Vì lí
do này mà bí mật về nghề trồng dâu nuôi tằm đã được người Trung Quốc giữ kín
trong khoảng hơn 1.000 năm. Theo con đường tơ lụa, nghề trồng dâu nuôi tằm được

Trưng là một trong những trung tâm của nghề ươm tơ, dệt vải và rất có thể cái tên
“Trưng Trắc, Trưng Nhị” được bắt nguồn từ cách gọi “Trứng chắc, trứng nhì” của
người nuôi tằm. Làng Cổ Đô (Ba Vì) có nghề dệt lụa nổi tiếng, tương truyền do
công chúa Ngọc Hoa con gái vua Hùng truyền dạy ( NXB Khoa học xã hội, Thời
đại Hùng Vương, lịch sử kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, 1976, trang 110). Theo
các thư tịch cổ của Trung Quốc (Hán thư, Nam phương dị vật chí) tới thời Bắc
thuộc người Việt đã biết trồng bông, đay, gai để dệt vải ( Trần Quốc Vượng & Hà
Văn Tấn, 1960, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, NXB Giáo dục). Tới thế kỷ
thứ XVIII - XIX, ở nước ta đã hình thành các trung tâm dệt lớn với nhiều loại sản
phẩm đặc sắc như La Khê, Vạn Phúc, Bưởi, Nghi Tàm. Nhiều sản phẩm dệt nổi
tiếng và rất được ưa chuộng cả trong và ngoài nước như the, lụa, lĩnh, đũi, gấm,
vóc, lượt,…
Ngành dệt vải công nghiệp sử dụng các nguyên liệu là xơ và sợi để sản xuất
ra các loại vải chính là vải dệt thoi, vải dệt kim và vải không dệt. Vải dệt thoi được
hình thành từ hai bộ sợi dọc và sợi ngang trong đó sợi dọc là sợi được căng theo
chiều dài của vải. Vải dệt kim được đan bằng tay hoặc bằng máy bởi sự liên kết một
hệ các vòng sợi với nhau. Các vòng sợi (mắt sợi) được liên kết với nhau nhờ kim
dệt giữ vòng sợi cũ trong khi một vòng sợi mới được hình thành ở phía trước vòng
sợi cũ, sau đó hai vòng sợi được lồng với nhau để tạo thành tấm vải. Như vậy vải
dệt kim khác vải dệt thoi ở điểm chỉ cần một sợi đơn cũng có thể hình thành được
tấm vải. Vải không dệt là loại vải tương đối mới được cả nhà sản xuất và người tiêu
dùng ưa thích do dễ dàng sản xuất và giá thành rẻ. Vải không dệt là hỗn hợp nhiều
loại xơ trong đó có một loại xơ đặc biệt có tính chất như chất kết dính. Ở công đoạn
16
cuối cùng khi hỗn hợp xơ được ép thành tấm có chiều dài mong muốn, toàn bộ hỗn
hợp sau đó được ép nóng. Lúc này các sợi xơ đặc biệt sẽ tan chảy từng phần và kết
dính các sợi xơ với nhau và giữ nguyên hình dạng của tấm vải khi toàn bộ hỗn hợp
này nguội.
1.2.2.5. Ngành nhuộm, in.
Nghề nhuộm vải có lịch sử lâu đời. Ở Trung Quốc, Ấn Độ, người dân đã biết

như cái cúc, cái khóa nhưng với quy mô sản xuất hàng loạt lớn của các doanh
nghiệp dệt may thì tổng giá trị mà doanh nghiệp phải bỏ ra không hề nhỏ. Việc tự
chủ được nguồn cung các sản phẩm này với số lượng lớn và ổn định sẽ giúp doanh
nghiệp tiết kiệm được chi phí sản xuất rất lớn. Tuy nhiên hiện nay trong nước các
doanh nghiệp dệt may chưa thể tìm thấy nguồn cung ổn định ở trong nước mà hầu
hết đều nhập khẩu. Việc nhập khẩu hầu hết mọi thứ từ cây kim, sợi chỉ cho tới các
loại máy móc với các loại chi phí không hề rẻ như vận chuyển, bảo hiểm,kho bãi,…
và các rủi ro trong quá trình vận chuyển khiến cho chi phí sản xuất tăng cao và giá
trị gia tăng tạo ra là rất nhỏ. Điều này cũng vô hình chung biến Việt Nam với lợi thế
duy nhất về nguồn nhân công giá rẻ trở thành điểm gia công hàng hóa cho thế giới
trong chuỗi giá trị toàn cầu. CNHT phát triển sẽ giúp doanh nghiệp dệt may tự chủ
được nguồn nguyên phụ liệu trong nước, qua đó giảm chi phí nhập khẩu. Thêm vào
đó với nguồn nguyên phụ liệu được đảm bảo, các doanh nghiệp sẽ tập trung vào các
khâu như thiết kế, marketing, phân phối, bán hàng,… Đây là các công đoạn giúp
cho doanh nghiệp nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm của mình. Hiện nay các
doanh nghiệp dệt may trong nước chủ yếu sản xuất theo phương thức gia công, lợi
nhuận kinh tế thấp chỉ chiếm 10 - 15% giá trị sản phẩm. Nếu tự chủ được nguồn
nguyên phụ liệu các doanh nghiệp có thể mở rộng các phương thức sản xuất có giá
trị cao như FOB, ODM.
Mặt khác việc phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu cũng khiến cho
quá trình sản xuất ngành dệt may mất tính chủ động. Hiện nay ngành dệt may chủ
yếu nhập khẩu các loại nguyên, phụ liệu may. Phương pháp vận chuyển được sử
dụng chủ yếu là tàu biển do giá thành rẻ hơn các phương thức khác rất nhiều. Tuy
nhiên nhược điểm của phương thức vận tải này là thời gian vận chuyển kéo dài và
nhiều rủi ro trong quá trình vận tải mà người nhập khẩu phải gánh chịu. Với những
đơn hàng dệt may lớn cần hoàn thành trong thời gian ngắn, việc phải chờ đợi nguồn
18
hàng sẽ khiến cho doanh nghiệp dệt may bỏ lỡ những cơ hội lớn với những nguồn
lợi nhuận không nhỏ. Điều này cũng khiến cho các đối tác trở nên kém tin tưởng
vào năng lực sản xuất của doanh nghiệp dệt may Việt Nam và sẽ khiến cho các cơ

Mỗi ngành công nghiệp trong nền kinh tế có mối quan hệ hữu cơ mật thiết
với nhau. Sự phát triển của ngành này có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của các
ngành khác và ngược lại. Chẳng hạn, ngành may phát triển sẽ khiến cho nhu cầu về
nguyên, phụ liệu may tăng cao giúp cho ngành trồng dâu, nuôi tằm phát triển, hay
nhu cầu về máy móc trang thiết bị đầu vào của ngành dệt may là cơ hội cho ngành
cơ khí. Ngành cơ khí phát triển lại là ngành có thể cung cấp máy móc cho nhiều
ngành công nghiệp như khai khoáng, xây dựng,…Và các ngành này phát triển sẽ
kéo theo sự phát triển của các ngành cung cấp sản phẩm đầu vào cho chúng phát
triển. Cứ như vậy quá trình lan tỏa sự phát triển mở rộng ra toàn nền kinh tế.
Ngành CNHT là ngành có khả năng cung cấp sản phẩm cho rất nhiều ngành
công nghiệp khác nhau. CNHT phát triển sẽ gia tăng nguồn cung linh kiện, phụ
tùng cho nhiều ngành công nghiệp. Các doanh nghiệp khi đó sẽ có được nguồn
cung đầu vào ổn định và chất lượng. Với những lợi thế đó, các ngành công nghiệp
sẽ giảm bớt tỷ lệ nhập khẩu, tăng dần tỷ lệ nội địa hóa trong các sản phẩm. Cùng
với đó để tận dụng nguồn nguyên liệu đầu vào sẵn có này, các doanh nghiệp dần từ
bỏ hình thức gia công, lắp ráp đơn thuần mà chuyển sang việc tự sản xuất nhằm thu
được nhiều lợi nhuận hơn. Xu thế đó sẽ thúc đẩy các ngành này phát triển.
1.3.4. Tạo thêm nhiều việc làm góp phần giải quyết nạn thất nghiệp và
ổn định xã hội.
Dệt may là ngành có vai trò quan trọng trong việc giải quyết một lượng lớn
lao động. Theo số liệu của Tổng cục thống kê trong báo cáo điều tra lao động và
việc làm tính tới 01/07/2010 cả nước có 50,8 triệu người chiếm 58,5% tổng dân số
trong độ tuổi lao động trong đó có 1,3 triệu người đang thất nghiệp. Hiện nay ngành
dệt may đang giải quyết cho khoảng 2 triệu lao động (theo trang diễn đàn doanh
nghiệp, 2012) và dự kiến theo quy hoạch phát triển ngành dệt may giai đoạn 2010-
2020 sẽ tăng lên 5 triệu lao động vào năm 2020. Hàng năm có khoảng 1,3 triệu
người tham gia vào thị trường lao động Việt Nam khiến cho việc giải quyết nhu cầu
về việc làm trở nên khó khăn khi mà số việc làm tăng thêm thấp hơn nhiều. Việc
ngành CNHT dệt may phát triển sẽ tạo thêm nhiều việc làm cho ngành này cũng
như cho ngành dệt may. Không những vậy CNHT phát triển cũng góp phần thúc

1.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ
trợ dệt may Việt Nam.
21
1.4.1. Quy mô thị trường.
Đối với bất kỳ một ngành sản xuất nào, dung lượng thị trường là yếu tố hết
sức quan trọng ảnh hưởng tới khả năng phát triển của ngành đó. Đặc biệt ngành
CNHT dệt may là ngành đòi hỏi thị trường tiêu thụ phải rất lớn nếu không ngành
này sẽ không thể phát triển. CNHT dệt may là ngành đòi hỏi đầu tư ban đầu rất lớn
cho máy móc, trang thiết bị sản xuất do các loại máy móc sử dụng trong ngành này
đều hết sức hiện đại. Do chi phí đầu tư ban đầu cho tài sản cố định lớn nên điểm
hòa vốn của ngành CNHT dệt may khá cao. Do đó ngành CNHT cần phải sản xuất
với số lượng lớn mới đảm bảo khả năng hoàn vốn. Nếu như thị trường tiêu thụ của
CNHT dệt may nhỏ sẽ làm cho số lượng sản xuất các sản phẩm phụ trợ dệt may ít
làm cho giá thành một đơn vị sản phẩm cao. Các sản phẩm được sản xuất với giá
thành cao hơn giá thành nhập khẩu sẽ không thể cạnh tranh trên chính thị trường
của nước mình.
1.4.2. Tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Do tính chất thường xuyên thay đổi và cải tiến, khoa học kỹ thuật và công
nghệ có vai trò quan trọng đối với bất cứ ngành công nghiệp nào. Vai trò này càng
được khẳng định đối với ngành CNHT dệt may do ngành này phải sử dụng các loại
máy móc hiện đại, công nghệ sản xuất tiên tiến. Môt mặt, sự cải tiến khoa học kỹ
thuật tạo ra ảnh hưởng dẫn dắt khi CNHT tạo ra các loại nguyên, nhiên liệu mới
giúp nâng cao năng suất và chất lượng của sản phẩm cuối cùng. Mặt khác việc đổi
mới về công nghệ trong các ngành công nghiệp chính cũng tạo ra yêu cầu đòi hỏi
ngành CNHT phải luôn luôn nắm bắt khoa học công nghệ để đáp ứng yêu cầu ngày
càng cao của ngành sản xuất chính.
Thêm vào đó với sự phát triển của công nghệ thông tin, quy trình sản xuất
của các doanh nghiệp đang được kết nối với nhau. Dell là một doanh nghiệp sản
xuất máy tính đã rất thành công với mô hình áp dụng mạng liên kết doanh nghiệp.
Quy trinh sản xuất của Dell và các nhà cung cấp được liên kết với nhau trong mạng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status