thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ tài chính của ngân hàng tmcp ngoại thương việt nam - Pdf 23

DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 HĐQT Hội đồng quản trị
2 HKD Đô la Hồng Kông
3 HSC Hội sở chính
4 L/C Thư tín dụng
5 NHTM Ngân hàng thương mại
6 SWIFT
Hiệp hội viễn thông tài chính liên ngân
hàng toàn thế giới
7 TCKT Tổ chức kinh tế
8 TCTD Tổ chức tín dụng
9 TMCP Thương mại cổ phần
10 WTO Tổ chức thương mại thế giới
11 XNK Xuất nhập khẩu
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng:
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 4
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XUẤT KHẨU DỊCH VỤ 4
TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
CHƯƠNG 2 30
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU DỊCH VỤ TÀI CHÍNH 30
CỦA NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 30
CHƯƠNG 3 71
GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU DỊCH VỤ TÀI CHÍNH CỦA
NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 71
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Biểu:
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 4

Nam nói riêng đang trong quá trình hội nhập, hoạt động xuất khẩu dịch vụ tài chính
của Ngân hàng TMCP Ngoại thương cũng phải đối mặt với những thách thức to lớn
như môi trường pháp lý chưa đồng bộ, áp lực cạnh tranh gay gắt, đòi hỏi cao của thị
trường
Xuất phát từ thực tế trên, đề tài “Thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ tài chính của
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam” được chọn làm đề tài nghiên cứu cho
bản luận văn này. Mục đích chính của đề tài là phân tích về thực trạng xuất khẩu
dịch vụ tài chính của Ngân hàng TMCP Ngoại thương, làm rõ những cơ hội, thách
thức và khả năng, hạn chế của Ngân hàng trong xuất khẩu dịch vụ tài chính và từ đó
đưa ra những giải pháp thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ của Ngân hàng TMCP Ngoại
thương Việt Nam, đem lại mức lợi nhuận lớn và nâng cao vị thế, uy tín của Ngân
hàng.
2
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề cơ bản về xuất khẩu dịch vụ tài chính, tham
khảo kinh nghiệm của các ngân hàng tại các quốc gia xuất khẩu dịch vụ tài chính
lớn trên thế giới, đồng thời phân tích thực trạng xuất khẩu dịch vụ tài chính của
Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam, đánh giá cơ hội, khả năng và thách
thức, hạn chế từ đó đưa ra những giải pháp thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ tài chính của
Ngân hàng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề cơ bản về xuất khẩu dịch
vụ tài chính và thực trạng việc xuất khẩu dịch vụ tài chính của Ngân hàng TMCP
Ngoại thương Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu việc xuất khẩu dịch vụ tài chính của Ngân hàng
TMCP Ngoại thương Việt Nam theo đầy đủ các phương thức xuất khẩu dịch vụ tài
chính trong giai đoạn từ năm 2006 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu

đàm phán Uruguay và bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1995. Hiệp
định được thiết lập nhằm mở rộng phạm vi điều chỉnh của hệ thống thương mại đa
phương sang lĩnh vực dịch vụ chứ không chỉ điều chỉnh một mình lĩnh vực thương
mại hàng hóa như trước đó. Hiệp định gồm nội dung chủ yếu nói về quyền và nghĩa
các nước tham gia thương mại dịch vụ. Tất cả các thành viên của WTO đều tham
gia GATS.
Theo GATS, một dịch vụ tài chính (DVTC) là bất kỳ dịch vụ nào có tính
chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp. Dịch vụ tài chính
bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, mọi dịch vụ
ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm). Đây chưa phải là một
khái niệm mà là sự mô tả nội hàm của thuật ngữ DVTC.
Như vậy ngay cả trong Hiệp định chung về thương mại –dịch vụ tài chính
của WTO cũng không đưa ra định nghĩa về DVTC mà chỉ liệt kê 12 ngành dịch vụ
lớn, trong đó, dịch vụ tài chính được xếp trong phân ngành thứ 7 của bảng danh
mục phân loại bao gồm: Dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, dịch
vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (không kể dịch vụ bảo hiểm)
Dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm gồm có: bảo hiểm trực
tiếp (bao gồm đồng bảo hiểm), trong đó có bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân
thọ; Tái nhượng bảo hiểm; Các dịch vụ bảo hiểm trung gian (như môi giới, đại lý
bảo hiểm); Các dịch vụ bổ trợ bảo hiềm như tư vấn, thẩm định rủi ro và dịch vụ
thanh toán bảo hiểm;
5
Dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (không kể dịch vụ bảo hiểm)
bao gồm: nhận tiền gửi và các loại quỹ có thể hoàn lại từ công chúng; Tất cả các
hình thức cho vay bao gồm tín dụng tiêu dùng, tính dụng thế chấp, bao thanh toán
và tài trợ các giao dịch thương mại; Cho thuê tài chính; Tất cả các dịch vụ thanh
toán và chuyển tiền bao gồm thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, séc du lịch và hối phiếu ngân
hàng; Bảo lãnh và các cam kết; Kinh doanh với danh nghĩa bản thân hoặc khách
hàng trên các sàn giao dịch chính thức hoặc các thị trường phi chính thức các công
cụ tài chính: công cụ thị trường tiền tệ (bao gồm séc, hối phiếu, chứng chỉ tiền gửi),

nội dung Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam. Quyết định này đã quy định rõ các
hoạt động thuộc nhóm ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng và bảo hiểm của Việt
Nam. Nhìn chung, do dựa trên hệ thống phận loại các ngành dịch vụ của WTO và
của Liên hiệp quốc nên hệ thống phân ngành dịch vụ của Việt Nam nói chung và
đối với dịch vụ tài chính, ngân hàng và bảo hiểm nói riêng có những điểm tương
đồng với hệ thống phân loại của thế giới. Tuy nhiên trong phân ngành dịch vụ của
WTO chỉ gọi chung nhóm ngành dịch vụ tài chính thì trong phân ngành của Việt
Nam được gọi tên là nhóm ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng và bảo hiểm.
Trong các loại hình dịch vụ tài chính, dịch vụ ngân hàng là loại hình dịch vụ
xuất hiện sớm nhất, gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hoá. Quá
trình phát triển kinh tế là điều kiện và đòi hỏi sự phát triển của dịch vụ ngân hàng và
ngược lại, sự phát triển của hệ thống ngân hàng đã trở thành động lực thúc đẩy phát
triển nền kinh tế. Dịch vụ ngân hàng đã xuất hiện cách đây hơn 2000 năm. Hầu hết
các ngân hàng đầu tiên xuất hiện tại vùng Địa Trung Hải, cụ thể là tại Hy Lạp và La
Mã, với dịch vụ đầu tiên là đổi tiền và đúc tiền của các thợ vàng, đổi ngoại tệ lấy
bản tệ và dịch vụ chiết khấu thương phiếu giúp các nhà buôn có vốn.
Sự phát triển của những con đường thương mại xuyên lục địa mới và những
biến chuyển trong ngành hàng hải vào các thế kỷ XV, XVI, XVII đã dần chuyển
trung tâm thương mại thế giới từ Địa Trung Hải sang Châu Âu và quần đảo Anh,
nơi ngân hàng trở thành ngành công nghiệp hàng đầu. Sự phát triển của cách mạng
công nghiệp, việc ứng dụng phương thức sản xuất lớn đòi hỏi một sự mở roọng
tương ứng trong thương mại toàn cầu để tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp, đồng
thời, đòi hỏi phải phát triển các phương thức thanh toán và tín dụng mới. Vì vậy, hệ
thống ngân hàng đã nhanh chóng phát triển về loại hình và các dịch vụ mới để đáp
ứng nhu cầu. Từ các ngân hàng tư nhân, quá trình tích tụ và tập trung vốn trong
ngân hàng đã dẫn đến hình thành ngân hàng cổ phần. Quá trình gia tăng vai trò quản
lý nhà nước đối với hoạt động ngân hàng đã tạo ra các ngân hàng thuộc sở hữu nhà
7
nước, các ngân hàng liên doanh, các tập đoàn ngân hàng phát triển mạnh mẽ trong
những năm cuối thế kỷ XX với sự đa dạng về dịch vụ.

8
quy định của tổ chức tài chính, không thể sản xuất trước. Do đó, dịch vụ tài chính
không có sản phẩm dở dang, dự trữ lưu kho.
Tính không ổn định và khó xác định
Một sản phẩm dịch vụ tài chính dù lớn hay nhỏ về quy mô đều không đồng
nhất về thời gian, cách thức, điều kiện thực hiện, khách hàng sử dụng vì vậy rất khó
xác định sự ổn định về mặt chất lượng. Mặt khác chất lượng của sản phẩm DVTC
được cấu thành bởi nhiều yếu tố như uy tín, công nghệ, trình độ nhân sự của tổ chức
tài chính … mà các yếu tố này lại thường xuyên biến động nên rất khó luợng hoá.
Sản phẩm dịch vụ tài chính mang tính cộng đồng, xã hội cao, rủi ro cao
Sản phẩm dịch vụ tài chính mang tính cộng đồng, xã hội cao, rủi ro cao vì nó
gắn liền với các tài sản tài chính của khách hàng. Do vậy, bất cứ sơ suất nào trong
cung ứng dịch vụ tài chính đều có thể gây ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức tài
chính. Nghiêm trọng hơn, nếu một tổ chức tài chính để xảy ra sự cố chẳng hạn:
thiếu tiền mặt, mất khả năng thanh khoản … sẽ nhanh chóng gây ra hiệu ứng mất
lòng tin một cách dây chuyền của khách hàng, có thể làm phá sản tổ chức tài chính
Thêm vào đó, vì các nguồn tài chính luôn luôn vận động, luân chuyển trong nền
kinh tế giữa các tổ chức tài chính, vì vậy một tổ chức tài chính gặp rủi ro có thể gây
ảnh hưởng đến sự tồn tại của hàng loạt các tổ chức khác, ảnh hưởng đến hệ thống
tài chính quốc gia.
1.1.1.3. Chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính
Có các chủ thể sau tham gia cung cấp dịch vụ tài chính:
Các chủ thể nhận tiền gửi:
Dịch vụ tài chính cơ bản mà các trung gian tài chính cung cấp là dịch vụ
ngân hàng và các dịch vụ liên quan đến ngân hàng, trong đó quan trọng nhất là dịch
vụ huy động tiền gửi và cho vay. Các tổ chức nhận tiền gửi gồm: Ngân hàng thương
mại, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng tiết kiệm, Hiệp hội tín
dụng. Trong các tổ chức này, ngân hàng thương mại được thực hiện đầy đủ các dịch
vụ tiền gửi như: nhận tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn ngắn, trung và dài hạn.
Các trung gian đầu tư:

gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay,
chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
Theo Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) của Việt Nam do Quốc hội khóa X
thông qua ngày 12/12/1997 thì: Ngân hàng là loại hình TCTD được thực hiện toàn
bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.
10
Trong đó TCTD được định nghĩa là loại hình doanh nghiệp được thành lập
theo qui định của Luật này và theo các qui định khác của Pháp luật để hoạt động
kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ Ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng
tiền gửi để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Ngoài ra, Nghị định Chính phủ số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/09/2000 có nêu:
NHTM là Ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt
động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các
mục tiêu kinh tế của Nhà nước. Trong đó, hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh
doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử
dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Nếu xét trên phương diện những loại hình dịch vụ mà Ngân hàng cung cấp
thì NHTM là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục dịch vụ tài chính
đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, thanh toán và thực hiện nhiều chức
năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế

[5]
Như vậy, có thể nói NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh về tiền
tệ với hoạt động thường xuyên là huy động vốn, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cung
cấp các dịch vụ tài chính và các hoạt động khác có liên quan. Ngoài ra, NHTM còn
là một định chế tài chính trung gian cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thị trường.
Nhờ vào hệ thống này mà các nguồn tiền nhàn rỗi vốn nằm rải rác trong xã hội sẽ
được huy động và tập trung lại với số lượng đủ lớn để cấp tín dụng cho các Tổ chức
kinh tế, cá nhân nhằm mục đích phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Sự có mặt của
NHTM trong hầu hết các mặt hoạt động của nền kinh tế - xã hội đã chứng minh

chi phí huy động nguồn và lãi suất Ngân hàng cho vay.
Qua các lý luận về hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn nói trên của
Ngân hàng, có thể thấy Ngân hàng thực hiện chức năng là người trung gian đứng ra
dàn xếp giữa người thừa vốn và người thiếu vốn. Thông qua hoạt động cho vay,
Ngân hàng kiểm soát khối lượng tiền trong lưu thông, tăng vòng quay vốn của nền
kinh tế, làm cho khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế không ngừng vận động và sinh
lời.
Thực hiện các dịch vụ khác cho khách hàng: ngày nay, hoạt động dịch vụ
của NHTM trên thế giới đem lại một mức lợi nhuận khổng lồ cho Ngân hàng
(chiếm khoảng 75% tổng số lợi nhuận Ngân hàng) nhưng ở Việt Nam thì con số này
thật khiêm tốn, chỉ chiếm khoảng 25%. Do vậy, vấn đề đa dạng hóa các hoạt động
dịch vụ ở Ngân hàng đang rất được quan tâm. Các dịch vụ này bao gồm:
12
 Hoạt động điện tử liên quan đến Ngân hàng: gồm việc nối mạng từ các máy
tính của Ngân hàng và máy tính của khách hàng, chủ yếu là các công ty để trao đổi
các thông tin dữ liệu giúp cho các công ty quản trị nguồn vốn của mình có hiệu quả
hơn.
 Bảo đảm an toàn vật có giá: Đây là một trong những dịch vụ lâu đời nhất
của NHTM. Do Ngân hàng có đội ngũ nhân viên bảo vệ và có các két sắt giữ tiền
rất an toàn, nên khách hàng có thể ký gửi các tài sản quý, những giấy tờ có giá…
dịch vụ nhận tiền gửi qua đêm. Ở nước ta hiện nay dịch vụ này chưa có nhưng trong
tương lai sẽ dần dần hình thành vì thu nhập của dân của ngày càng tăng lên, đồng
nghĩa với việc các tài sản quý mà người dân sở hữu cũng tăng lên và từ đó phát sinh
nhu cầu được bảo vệ và đây cũng là lúc Ngân hàng phát huy chức năng quan trọng
của mình
 Các nghiệp vụ ủy thác: Ngân hàng nhận ủy thác từ các khách hàng để quản
trị các tài sản khác. Có thể chia thành 2 loại tài sản bằng tiền và hiện vật, phần đông
khách hàng ủy thác cho Ngân hàng quản trị tài sản bằng tiền, ký gửi vào một tài
khoản, ủy thác cho Ngân hàng quản trị một mình hay cùng với người khác. Ngoài
ra, Ngân hàng cũng được ủy thác quản trị tài sản của người cầm cố, của vị thành

tại Việt Nam.
Ngày 01/08/2011, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư số
08/2011/TT-BKHĐT quy định nội dung Danh mục dịch vụ xuất, nhập khẩu Việt
Nam. Danh mục dịch vụ xuất, nhập khẩu Việt Nam là danh mục phân loại các sản
phẩm dịch vụ được xuất khẩu, nhập khẩu giữa đơn vị thường trú của Việt Nam và
đơn vị không thường trú. Danh mục Dịch vụ xuất, nhập khẩu Việt Nam gồm 12
nhóm ngành dịch vụ trong đó bao gồm dịch vụ tài chính (mã 2600).
Như vậy, theo quan điểm nêu trên có thể định nghĩa xuất khẩu dịch vụ tài
chính là hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính của đơn vị thường trú của Việt Nam
cho các đơn vị không thường trú.
Tuy nhiên, trong GATS, thương mại dịch vụ giữa các thành viên WTO (xuất
khẩu dịch vụ) được định nghĩa là việc cung cấp dịch vụ:
(i) từ lãnh thổ của một quốc gia thành viên WTO vào lãnh thổ của bất kỳ một quốc
gia thành viên nào khác;
(ii) trong lãnh thổ của bất kỳ một quốc gia thành viên cho người tiêu dùng dịch vụ
của bất kỳ một quốc gia thành viên nào khác;
(iii) do một người cung cấp dịch vụ từ một quốc gia thành viên thực hiện thông qua
hiện diện thương mại tại lãnh thổ của một quốc gia thành viên khác;
14
(iv) do một người cung cấp dịch vụ từ một quốc gia thành viên thực hiện thông qua
hiện diện của thể nhân của quốc gia thành viên đó trong lãnh thổ của bất kỳ một
quốc gia thành viên khác.
Xuất khẩu dịch vụ tài chính chính là việc cung cấp dịch vụ tài chính giữa các
quốc gia thành viên theo 4 phương thức như trên. Như vậy, quan điểm của WTO
cho chúng ta một khái niệm xuất khẩu dịch vụ cụ thể, thêm vào đó còn phân loại rõ
các phương thức xuất khẩu dịch vụ ngay từ định nghĩa trên. Các nội dung tiếp theo
của luận văn, tác giả sẽ phân tích theo quan điểm của WTO về xuất khẩu dịch vụ
nói chung, xuất khẩu dịch vụ tài chính nói riêng.
 Xuất khẩu dịch vụ tài chính của các Ngân hàng thương mại
Dịch vụ tài chính được xuất khẩu bởi nhiều chủ thể cung cấp dịch vụ tài

pháp quan trọng góp phần cải thiện cán cân thương mại chung của nền kinh tế, là
nguồn thu ngoại tệ quan trọng của quốc gia. Dịch vụ tài chính có giá trị gia tăng cao
đang trở thành lĩnh vực xuất khẩu mới đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu
của Việt Nam (xem bảng 1.1), tạo nguồn vốn cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp
hoá hiện đại hoá đất nước . Xuất khẩu dịch vụ tài chính có hiệu quả sẽ đem lại lợi
ích kinh tế lớn cho đất nước.
Bảng 1.1. Tỷ lệ đóng góp của giá trị xuất khẩu dịch vụ tài chính
vào tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam
Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Giá trị XK
DVTC
(triệu USD)
265 320 397 290 240 262
Tổng giá trị
XK
(triệu USD)
32447,10 39826,20 48561,40 62685,10 57096,30 72191,90
Tỷ lệ đóng
góp (%)
0,82 0,80 0,82 0,46 0,42 0,36
(Nguồn: Tổng cục thống kê, Bộ Kế hoạch và đầu tư)
Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ tài chính của Việt Nam năm 2005 là 265 triệu
USD, năm 2006 là 320 triệu USD, năm 2007 là 397 triệu USD, năm 2008 là 290
triệu USD, năm 2009 là 240 triệu USD. Như vậy, giá trị xuất khẩu đều tăng qua các
năm 2005, 2006, 2007. Tốc độ tăng trưởng năm 2006 là 20,75%, năm 2007 là
29,06%. Năm 2008 và 2009 giá trị xuất khẩu dịch vụ tài chính đã giảm xuống chủ
yếu do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu bắt
nguồn từ Mỹ vào cuối năm 2007. Tuy nhiên, sơ bộ năm 2010, kim ngạch xuất khẩu
dịch vụ tài chính của Việt Nam đã tăng trở lại với mức 9,16%.
16

khả năng hội nhập chủ động, không chỉ chiếm lĩnh và đứng vững ở thị trường nội
địa, mà còn vươn ra thế giới xuất khẩu các dịch vụ. Có vươn lên đáp ứng đòi hỏi
của cạnh tranh thì các ngân hàng thương mại mới có thể tồn tại.
Xuất khẩu dịch vụ tài chính đem lại cho ngân hàng một nguồn thu ngoại tệ
lớn. Điều này góp phần hoàn thành mục tiêu của ngân hàng thương mại là tối đa
hoá lợi nhuận.
Xuất khẩu dịch vụ tài chính giúp các ngân hàng đa dạng hóa rủi ro thông qua
việc mở rộng thị trường, tiếp nhận các kiến thức hoặc kinh nghiệm mới để có thế áp
dụng ở thị trường nội địa.
Xuất khẩu dịch vụ tài chính nâng cao hình ảnh, uy tín, vị thế của các ngân
hàng thương mại. Một ngân hàng thương mại có khả năng xuất khẩu dịch vụ tài
chính, có khả năng cung cấp các dịch vụ tài chính trên lãnh thổ nước khác, có mạng
lưới kinh doanh hoạt động lớn cả trong và ngoài nước sẽ cho thấy đó là một ngân
hàng hoạt động hiệu quả, có chất lượng dịch vụ tốt, tiêu chuẩn quốc tế, sẽ được
khách hàng đánh giá cao và lựa chọn sử dụng dịch vụ. Từ đó, hiệu quả kinh doanh
của ngân hàng ngày một tăng lên.
1.2. Các phương thức xuất khẩu dịch vụ tài chính
Dịch vụ tài chính là một trong những nhóm ngành dịch vụ do vậy nó cũng có
4 phương thức xuấtkhẩu dịch vụ (4 phương thức cung cấp dịch vụ mang tính
thương mại quốc tế) do GATS chia ra như sau:
 Cung cấp qua biên giới
Phương thức cung cấp qua biên giới (gọi tắt là Phương thức 1 hay Mode 1)
là phương thức mà theo đó, dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của một nước này
sang lãnh thổ của một nước khác, không có sự di chuyển của người cung cấp và
18
người tiêu thụ dịch vụ sang lãnh thổ của nhau. Ví dụ các ngân hàng ở hai nước khác
nhau sử dụng dịch vụ của nhau để thông báo L/C, phát hành bảo lãnh ….
Theo phương thức này, cả người cung cấp dịch vụ lẫn người tiêu dùng dịch
vụ đều không di chuyển ra khỏi lãnh thổ nước mình. Dịch vụ tài chính được cung
cấp và tiêu thụ "qua biên giới". Các ngân hàng chủ yếu sử dụng hình thức giao dịch

ngân hàng trong quá trình triển khai dịch vụ ngân hàng mới.
Nhìn chung trong xuất khẩu dịch vụ tài chính, phương thức này thường được
sử dụng bởi các nước phát triển nơi mà có nền giáo dục phát triển vượt bậc đem lại
cho công dân của nước họ lượng kiến thức chuyên sâu, ngành tài chính vô cùng
phát triển đem lại cho các lao động làm việc trong ngành một lượng kinh nghiệm
thực tiễn, phong phú, vận dụng được trong nhiều trường hợp đặc biệt là cho những
nước đi sau trong quá trình phát triển ngành tài chính.
1.3. Những nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu dịch vụ tài chính của các
Ngân hàng thương mại
1.3.1. Các nhân tố vĩ mô
1.3.1.1. Môi trường pháp lý
Hệ thống khung pháp luật do nhà nước thiết lập nhằm quy định các nguyên
tắc hoạt động cơ bản của thị trường dịch vụ tài chính nói chung và hoạt động của
các ngân hàng thương mại nói riêng. Đây là căn cứ cơ bản để các ngân hàng thương
mại thành lập và cung cấp các dịch vụ tài chính nói chung, xuất khẩu dịch vụ tài
chính nói riêng. Sự thống nhất, ổn định, minh bạch, sự vận dụng đúng các tiêu
chuẩn quốc tế của hệ thống các văn bản điều chỉnh hoạt động cung cấp các dịch vụ
tài chính trong phạm vi quốc gia và phạm vi quốc tế có tác động hết sức quan trọng
đến xuất khẩu dịch vụ tài chính của các ngân hàng thương mại. Nó quyết định việc
ngân hàng thương mại có đáp ứng điều kiện cơ bản để thực hiện việc xuất khẩu dịch
vụ tài chính. Nó kiểm soát việc tuân thủ các quy định về an toàn trong cung cấp
dịch vụ tài chính nói chung và xuất khẩu dịch vụ tài chính nói riêng của các ngân
hàng thương mại. Chiến lược, quy mô, phương thức, danh mục, chất lượng dịch vụ
tài chính xuất khẩu của các ngân hàng thương mại phải được xây dựng dựa trên cơ
sở của hệ thống các văn bản pháp lý này, phải được sự cho phép của các cơ quan
quản lý nhà nước về lĩnh vực này. Ở Việt Nam, đó là Ngân hàng nhà nước. Cơ sở
pháp lý quan trọng của hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính cũng như xuất khẩu
dịch vụ tài chính của các ngân hàng thương mại là Luật các TCTD năm 1997; Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng năm 2004;
20

phát triển và ứng dụng hệ thống công nghệ là yếu tố có vai trò quyết định đối với
khả năng cung ứng dịch vụ tài chính cũng như xuất khẩu dịchv ụ tài chính của các
21
ngân hàng thương mại. Khác với các ngành sản xuất vật chất, dịch vụ tài chính
được cung ứng tới khách hàng chủ yếu qua hệ thống công nghệ. Công nghệ của bản
thân quốc gia xuất khẩu dịch vụ tài chính càng cao hay khả năng về cơ sở hạ tầng
có thể ứng dụng công nghệ cao vào xuất khẩu dịch vụ tài chính sẽ quyết định quy
mô, danh mục, chất lượng dịch vụ tài chính xuất khẩu của các ngân hàng thương
mại.
Tương tự khi xuất khẩu dịch vụ tài chính tới các thị trường nhập khẩu, trình
độ công nghệ tại nước nhập khẩu có khả năng tiếp nhận những dịch vụ tài chính nào
cũng sẽ quyết định danh mục dịch vụ tài chính mà các ngân hàng thương mại của
nước xuất khẩu có thể cung cấp. Nếu công nghệ của nước nhập khẩu cao hơn, các
ngân hàng xuất khẩu dịch vụ tài chính có điều kiện tiếp cận, học hỏi và ứng dụng.
Từ đó, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ tài chính của mình ở tất cả các thị
trường.
1.3.2. Các nhân tố thuộc về bản thân các Ngân hàng thương mại
1.3.2.1. Tiềm lực tài chính của các ngân hàng thương mại
Tiềm lực tài chính là thước đo sức mạnh của một ngân hàng tại một thời
điểm nhất định. Tiềm lực tài chính thể hiện qua các chỉ tiêu: quy mô vốn chủ sở
hữu, quy mô tổng tài sản, mức độ an toàn vốn và khả năng huy động vốn, chất
lượng tài sản (tỷ lệ nợ xấu, khả năng thu hồi nợ xấu, …), mức sinh lợi, khả năng
thanh khoản.
Tiềm lực tài chính là nhân tố quyết định đến xuất khẩu dịch vụ tài chính của
các ngân hàng thương mại. Để có thể thực hiện xuất khẩu dịch vụ tài chính, các
ngân hàng thương mại phải có tiềm lực tài chính đủ mạnh. Đối với các dịch vụ cần
đầu tư nguồn vốn lớn tất yếu phải có nguồn vốn mới có thể cung ứng dịch vụ,
nguồn vốn lớn sẽ đủ lực để xuất khẩu đa dạng các dịch vụ tài chính và nâng cao
hiệu quả cung cấp dịch vụ. Vốn cũng cần để mua sắm trang thiết bị, đầu tư công
nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và mở rộng mạng lưới hoạt động, phạm vi, quy mô

lượng, chất lượng các dịch vụ tài chính mà các ngân hàng có thể xuất khẩu dịch vụ
tài chính. Trong sự phát triển chung của hệ thống Ngân hàng hiện nay, hầu hết các
dịch vụ tài chính đều phải được hỗ trợ bởi các giải pháp công nghệ thông tin. Dịch
vụ tài chính là một dịch vụ hết sức nhạy cảm, đòi hỏi sự chính xác đến từng con số
nhỏ, đòi hỏi sự nhanh chóng đến từng giây, từng phút nhất là trong xuất khẩu dịch
vụ tài chính, dữ liệu tài chính liên quan phải được tập hợp từ nhiều thị trường, từ
khắp nơi trên thế giới, Do vậy, công nghệ ngân hàng triển khai càng tiên tiến thì khả
23
năng đáp ứng các yêu cầu này càng cao từ đó tăng khả năng xuất khẩu dịch vụ tài
chính của các ngân hàng thương mại.
1.4. Kinh nghiệm xuất khẩu dịch vụ tài chính của các Ngân hàng Mỹ và
bài học rút ra cho các Ngân hàng thương mại Việt Nam
1.4.1. Kinh nghiệm xuất khẩu dịch vụ tài chính của các Ngân hàng Mỹ
Mỹ là quốc gia phát triển nhất thế giới và điều này đúng đối với cả ngành
ngân hàng của Mỹ. Đây là đất nước sở hữu hầu hết các tập đoàn tài chính ngân hàng
lớn hàng đầu thế giới như JP Morgan Chase, Citi group, Wells Fargo, Bank of New
York, Bank of America, … Các ngân hàng Mỹ cũng là những ngân hàng tiên phong
trong xuất khẩu dịch vụ tài chính trên phạm vi toàn thế giới và thu về giá trị xuất
khẩu lớn cho đất nước. Do vậy, kinh nghiệm của nước Mỹ cũng như của bản thân
các ngân hàng Mỹ trong xuất khẩu dịch vụ tài chính rất đáng để chúng ta nghiên
cứu và học tập những điểm phù hợp với thực tế Việt Nam.
Ngay từ khi mới xuất hiện, ngành công nghiệp ngân hàng đã không ngừng
nỗ lực mở rộng phạm vi cung cấp dịch sang các khu vực khác, sang các quốc gia
khác, nói cách khác xuất khẩu dịch vụ tài chính đã ra đời từ rất sớm. Những ngân
hàng đầu tiên đặt trụ sở tập trung ở các trung tâm thương mại lớn gần biển Địa
Trung Hải, như Athens, Cairo, Jeusalem và Rome, với chức năng hỗ trợ cho giới
thượng gia trong việc mua bán nguyên liệu, hàng hoá và tiến hành hoạt động
chuyển đổi đồng tiền của một quốc gia này sang đồng tiền của quốc gia khác để tạo
sự tiện lợi trong quá trình giao dịch cho các nhà buôn đia phương và khác du lịch. Ở
Mỹ, trong thời kì thuộc địa và cho đến tận thế kỉ 19, việc tài trợ cho các công ty


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status