Tài liệu ôn thi tốt nghiệp môn ngữ văn - Pdf 23

Tài liệu ôn thi tốt nghiệp môn ngữ văn
MỤC LỤC
TÊN BÀI HỌC TRANG
PHẦN 1: NGHỊ LUẬN XÃ HỘI 5
PHẦN 2: NGHỊ LUẬN VĂN HỌC 12
Bài 1: TÂY TIẾN 12
Bài 2: VIỆT BẮC 15
Bài 3: ĐẤT NƯỚC 20
Bài 4: SÓNG 24
Bài 5: ĐÀN GHITA CỦA LORCA 26
Bài 6: NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ 28
Bài 7: AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG 31
Bài 8: VỢ CHỒNG A PHỦ 33
Bài 9: VỢ NHẶT 38
Bài 10: RỪNG XÀ NU 46
Bài 11: NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH 52
Bài 12: CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA 56
Bài 13: HỒN TRƯƠNG BA DA HÀNG THỊT 61
Bài 14: TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP 63
Bài 15: NGUYỄN ĐÌNH CHIỄU- NGÔI SAO SÁNG…. 65
PHẦN 3: CÂU HỎI TÁI HIỆN KIẾN THỨC 67
LỜI NÓI ĐẦU
Nhằm giúp học sinh thuận tiện trong việc ôn tập kì thi tốt nghiệp sắp tới,
tôi biên sọan cuối tài liệu này.Về cơ bản ,tài liệu có 3 phần: nghị luận xã hội,
nghị luận văn học , và CÂU HỎI TÁI HIỆN KIẾN THỨC. Dù đã cố gắng, kể
cả việc tham khảo nhiều bài viết rất QUÝ BÁU của các đồng nghiệp khác,
nhưng do thời gian và năng lực có hạn nên bản thân người viết cũng chưa thật
hài lòng như: thiếu phần phương pháp làm văn nghị luận văn học, số lượng,
chất lượng câu hỏi tái hiện kiến thức, thiếu phần văn học nước ngoài…. Do
đó, chắc chắn tài liệu này còn nhiều thiếu sót. Nhân đây tôi cũng bày tỏ lời
cảm ơn đối với một số HS ở lớp 12C3 vì đã nhiệt tình giúp đỡ thầy hoàn thành

Bồi hồi trong ngực trẻ
(Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập một, tr.122 - 123, NXB Giáo dục - 2008)
HƯỚNG DẪN CHẤM THI
I. Hướng dẫn chung
- Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm
của thí sinh, tránh cách chấm đếm ý cho điểm.
- Do đặc trưng của bộ môn Ngữ văn nên giám khảo cần chủ động, linh hoạt trong việc
vận dụng đáp án và thang điểm; khuyến khích những bài viết có cảm xúc và sáng tạo.
- Việc chi tiết hoá điểm số của các ý (nếu có) phải đảm bảo không sai lệch với tổng điểm
của mỗi ý và được thống nhất trong Hội đồng chấm thi.
- Sau khi cộng điểm toàn bài, làm tròn đến 0,5 (lẻ 0,25 làm tròn thành 0,5; lẻ 0,75 làm
tròn thành 1,0 điểm).
II. Đáp án và thang điểm
I/ PHẦN CHUNG
CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)
Câu 1:(2đ) Nêu những nét chính về cuộc đời và sự
nghiệp văn học của M. Sô-lô-khốp.
a) Cuộc đời:
- Mi-khai-in A-lếch-xan-đrô-vích Sô-lô-khốp (1905-1984) là nhà văn Nga lỗi lạc, đã được nhận
giải thưởng Nô-ben về văn học. 0,25đ.
- M. Sô-lô-khốp sinh trưởng tại vùng sông Đông. Ông tham gia cách mạng từ rất sớm. Trong
chiến tranh chống phát xít, ông là phóng viên mặt trận. 0,75đ
b) Sự nghiệp:
- Tác phẩm tiêu biểu: Truyện sông Đông, Sông Đông êm đềm, Số phận con người,… 0,5đ
- Tác phẩm của M. Sô-lô-khốp thể hiện cách nhìn chân thực về cuộc sống và chiến tranh.0,5đ
Lưu ý : Thí sinh có thể sắp xếp cách khác, nhưng phải nêu đủ các ý trên mới đạt điểm tối đa.
Câu 2( 3đ)Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ về lòng yêu
thương con người của tuổi trẻ trong xã hội hiện nay.
a. Yêu cầu về kĩ năng:
Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; không mắc lỗi

- Việt là một cậu con trai vô tư, tính tình “trẻ con”, ngây thơ, hiếu động. 1,0đ
- Căm thù giặc sâu sắc, khao khát chiến đấu giết giặc, có tinh thần dũng cảm. 1,0đ
- Giàu tình nghĩa với gia đình, rất mực thuỷ chung với quê hương và cách mạng.
1,0đ
- Tác giả đã để cho Việt tự kể chuyện về mình bằng một ngôn ngữ, giọng điệu riêng và qua đó
nhân vật hiện lên cụ thể, sinh động. 1,0đ
- Đánh giá chung về nhân vật. 0,5đ
Lưu ý: Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt được cả yêu cầu về kĩ năng và kiến thức.
Theo chương trình Nâng cao
Câu 3b. Phân tích đoạn thơ trong bài Sóng của Xuân Quỳnh.
MỘT VÀI NHẬN XÉT:
Đề có cấu trúc 3 câu:
Câu 1: Yêu cầu tái hiện kiến thức bằng cách nêu ý: 2đ. (HS chỉ cần học thuộc bài, ghi ý rõ, đúng,
đủ là được điểm.
Câu 2: Yêu cầu viết bài văn NLXH: 3đ.(HS phải viết thành bài văn 3 phần rõ ràng, bàn về một vấn
đề xã hội)
Đáp án của bộ chỉ là những ý chính. Thực chất, muốn đạt điểm 1,5 trở lên, các em phải đáp ứng
yêu cầu về ý, về kĩ năng và cả việc đưa lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục nữa. Do đó, bài làm vừa cần
theo “công thức”đã học, vừa biết vận dụng kiến thức thích hợp.
Câu 3:Yêu cầu viết bài NLVH: 5đ.(HS phải viết thành bài văn 3 phần rõ ràng, bàn về một vấn đề
văn học trong chương trình lớp 12.Có ý rõ ràng, có dẫn chứng lí lẽ, dùng thao tác đúng cách.)
Nhìn vào đáp án của Bộ, ta thấy những ý quan trọng đều có điểm số nhiều hơn. Vậy nên, khi viết
bài, ngoài việc xác định ý, ta cần tập trung nói nhiều hơn các ý đó bằng lí lẽ dẫn chứng.
NHỮNG LƯU Ý KHI LÀM BÀI.(lưu ý của một híam khảo chấm thi TN lâu năm)
1/ Tuyệt đối đừng viết bài văn mà không nêu luận đề_vấn đề chính_ trong mở bài, kết bài.
2/ Không được nhầm lẫn kiến thức,” lấy râu ông nọ chắp cằm bà kia”.
3/ Phải biết xoáy sâu vào trọng tâm để làm nổi bật yêu cầu của đề.
4/ Đừng xác định ý xong rồi liên hệ, huyên thuyên nói “chuyện riêng” của mình trong bài làm.
5/ Đừng thiếu phần nhận xét về nghệ thuật trong bài NL văn học.
6/ Độ dài của bài NL xã hội khỏang 1,5 đến 2 mặt giấy là vừa, đừng viết quá dài hay quá ngắn .

- Có ba yêu cầu cần xác định: Nội dung, thao tác nghị luận, phạm vi tư liệu.
- Ở dạng đề nghị luận về tư tưởng, đạo lí, cần hiểu rõ tư tưởng đó là như thế nào? Tư
tưởng đó đúng hay không đúng? Bài làm cần có những ý nào?
- Đề nghị luận về một hiện tượng đời sống thì cần hiểu rõ hiện tượng đó tốt hay xấu?
Bài văn cần có những ý nào?
 Bước 2 : Lập dàn ý
(Học sinh phải hiểu và học thuộc cấu trúc bài văn như một “công thức chung”.)
CẤU TRÚC BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG (HT) ĐỜI SỐNG
1/ Mở bài:
- Giới thiệu ý có liên quan để dẫn vào hiện tượng.
- Nêu vấn đề: Nêu hiện tượng và nhận định chung (là hiện tượng tốt, cần học tập, phát
huy, hay xấu, nhiều tác hại, cần khắc phục; hoặc từ ngữ phù hợp với đề bài).
2/ Thân bài: ( 4 ý cơ bản )
Ý HIỆN TƯỢNG XẤU HIỆN TƯỢNG TỐT
1 Thực trạng (giải thích, nêu biểu hiện) Thực trạng (giải thích, nêu biểu hiện)
2 Những nguyên nhân của HT Phân tích ý nghĩa, tác dụng của HT
3 Những hậu quả của HT Phê phán hiện tượng trái ngược
4 Đề xuất biện pháp khắc phục HT Đề xuất phương hướng rèn luyện.
3/ Kết bài:
Kết luận chung về hiện tượng. Cảm nghĩ cá nhân.
CẤU TRÚC BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG ĐẠO LÍ (TTĐL)
1 / Mở bài:
- Giới thiệu ý có liên quan để dẫn vào tư tưởng, đạo lí
- Nêu vấn đề: Đề bài có câu trích thì ghi lại nguyên văn câu trích. Đề bài không có câu
trích thì nêu ý của đề và nhận định phù hợp với đề bài.
2/ Thân bài. ( 4 ý cơ bản )
Ý TƯ TƯỞNG ĐÚNG TƯ TƯỞNG KHÔNG ĐÚNG
1 Giải thích đề Giải thích đề
2 Phân tích những mặt đúng (lí lẽ, dẫn
chứng), chỉ ra ý nghĩa, tác dụng của

- Vào tháng 9, các cơ quan công an, CSGT tiến hành ra quân thực hiện tháng ATGT bằng
việc tăng cường tuần tra, kiểm sóat trên các con đường.
- Nhiều băng rôn biểu ngữ tuyên truyền cũng được treo ở nhiều nơi: đường phố, nơi công
cộng…
- Các trường học cũng mời cán bộ công an đến tuyên truyền luật GT cho HS.
- Các cơ quan, đài báo cũng tuyên truyền vận động nhân dân về tháng ATGT.
b/ Phân tích ý nghĩa, tác dụng:
- Việc làm này mang lại cho các tầng lớp nhân dân những hiểu biết về luật GT, nâng cao ý
thức chấp hành luật lệ GT cho mọi người.
- Tháng ATGT góp phần giảm thiểu thiệt hại do TNGT vốn đang diễn ra nghiêm trọng ở
nước ta.( ở VN, mỗi ngày khỏang 30 người chết vì TNGT).
- Tháng cao điểm về ATGT cũng tạo hiệu ứng tốt cho xã hội trong việc thực hiện tốt luật
GT, vì tháng 9 cũng là dịp hàng triệu HS bước vào năm học mới _ tham gia GT.
- Dịp này, nhiều đơn vị, công ty cũng có dịp thể hiện trách nhiệm xã hội của mình bằng
những chương trình từ thiện như: tài trợ mũ bảo hiểm cho HS, nhắn tin nhận quà khi tham
gia hỏi đáp luật GT…
c/ Phê phán những biểu hiện trái ngược:
- Dù là tháng cao điểm về ATGT, nhưng nhiều người vẫn vi phạm luật GT, gây hậu quả
nghiêm trọng…
- Nhiều nơi còn hưởng ứng theo kiểu phong trào, hình thức mà ít thực chất, sau đó “đâu lại
vào đấy.”
- Một số cán bộ, CSGT còn làm việc chưa nghiêm túc, thậm chí nhũng nhiễu, tiêu cực.
d/ Đề xuất phương hướng:
- Cần duy trì tháng cao điểm về ATGT trong tháng 9 vì nó mang lại nhiều lợi ích thiết thực.
- Phải có cơ chế giám sát để tránh “bệnh hình thức”, “bệnh thành tích” trong dịp này.
- Mỗi người dân hãy là một đại sứ thiện chí, một tấm gương tốt cho chương trình này, để
giảm thiểu TNGT ở nước ta.
3/ Kết bài:
- Đánh giá chung về hiện tượng: tốt, ý nghĩa, cần phát huy.
- Nêu mong muốn của bản thân về tình hình GT của đất nước.

b/ Những nguyên nhân của “bệnh vô cảm”.
- Cá nhân những TH, HS đó vốn ích kỉ, không có một quan niệm sống lành mạnh, hài hòa.
- Việc giáo dục của gia đình có thể chưa tốt: nếu từ nhỏ, bố mẹ đã biết chỉ dẫn con làm
những việc tốt, gieo vào lòng con trẻ tình nhân ái thì hẳn sẽ không có hiện tượng này.
- Ở nhà trường việc nhắc nhở, tạo điều kiện cho HS làm việc tốt, biết được ý nghĩa của việc
làm tốt cũng chưa được quan tâm nhiều.
- Trong xã hội vẫn còn nhiều kẻ vô cảm mà chưa bị lên án, trừng phạt, nên TH,HS thấy
hành vi của mình cũng “ bình thường thôi.”
c/ Hậu quả của bệnh vô cảm.
- Bệnh vô cảm khiến người ta hành động như cái máy, biến trái tim con người (vốn sinh ra
để biết đồng cảm, sẻ chia) trở nên chai lì, trơ cứng.
- Bệnh này tàn phá tâm hồn con người, khiến người ta đánh mất ý nghĩa của cuộc sống.
- Về lâu dài, đối với TN, HS nó còn có thể gây chết người, làm xã hội chậm phát triển. Vì
nếu những TN, HS đó sau này mà làm bác sĩ, giáo viên, công chức thì sự vô cảm của họ có
thể làm bệnh nhân tử vong, nhân dân phiền tóai…
d/ Biện pháp khắc phục “bệnh vô cảm”.
- Mỗi cá nhân TN, HS hãy thay đổi suy nghĩ, hành động, vì khi lòng ta đóng khép thì hạnh
phúc của ta, nếu có, cũng trở nên nhỏ bé, vô nghĩa.
- Nhà trường, gia đình cần tổ chức, đưa nhiều thông tin về những hành động nhân ái, “ lá
lành đùm lá rách” cho HS biết, làm theo.
- Xã hội cần lên án , trừng trị những hành động của các cá nhân, tổ chức thiếu tinh thần
trách nhiệm, vô cảm đối với đồng lọai, gây thiệt hại cho XH.
3/ KB:
- Đánh giá chung về hiện tượng: đây là căn bệnh tai hại, cần loại bỏ.
- Nêu mong muốn suy nghĩ của bản thân về căn bệnh này.
VÀI ĐỀ CÙNG DẠNG
Đ1/ Hãy viết một bài văn ngắn ( khoảng 400 từ) nêu suy nghĩ của anh (chị) về hiện tượng
hút thuốc lá trong học sinh hiện nay.
Đ2/ Hãy viết một bài văn ngắn ( khoảng 400 từ) nêu suy nghĩ của anh (chị) về hiện tượng vi
phạm giao thông của một số học sinh hiện nay.

hợp…
c/ Nêu quan niệm đúng có liên quan đến tư tưởng, chỉ rõ ý nghĩa, tác dụng.
- Không nên coi việc vào ĐH là con đường duy nhất để vào đời, mà tùy vào hoàn cảnh, điều
kiện, năng lực mỗi người để chọn cách vào đời phù hợp, như thế sẽ đỡ lãng phí thời gian,
tiền bạc, nhân lực.
- Học nghề là một cách vào đời cũng hợp lí, nhất là trong điều kiện hiện nay: nước ta đang
tiến lên mục tiêu trở thành một nước CN vào năm 2020.
- Việc học nghề mất ít thời gian hơn, ít tốn tiền bạc hơn, nhanh kiếm được việc làm.
- Cho dù học gì thì mục đích cũng là để sau này làm việc hiệu quả, do vậy, ngòai kiến thức
sách vở, nếu bạn có những kĩ năng mềm như: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng làm việc nhóm, ý
thức kỉ luật tốt, chịu khó học hỏi, cầu tiến thì cơ hội luôn mở ra với bạn.
d/ Rút ra bài học nhận thức và hành động.
- Tương lai mỗi người chủ yếu do cá nhân người đó quyết định. Khi học lớp cuối cấp THPT,
HS cần tham khảo thông tin từ sách báo, thầy cô, xác định năng lực, sở thích bản thân để có
quyết định phù hợp.
- Gia đình, nhà trường, XH cần có định hướng đúng đắn, không tạo áp lực cho HS trong
những năm cuối cấp.
- Có rất nhiều tấm gương thành đạt trong XH mà họ chưa học qua một trường ĐH nào. Vì
vậy, các bạn trẻ hãy tin vào bản thân để có lựa chọn đúng đắn, phù hợp.
3/ KB
- Tổng hợp lại vấn đề.
- Liên hệ bản thân.
VÀI ĐỀ CÙNG DẠNG
Đ1/ Suy nghĩ của em về câu nói: “Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau.”
Đ2/ Viết một bài văn trình bày suy nghĩ của em về câu nói: “Chỉ có tiền tài và đại vị thì mới
có hạnh phúc.”
Biên soạn: GV DƯƠNG VĂN TUẤN – năm 2011 Trang 8
Tài liệu ôn thi tốt nghiệp môn ngữ văn
IV/ ĐỀ VỀ MỘT TƯ TƯỞNG ĐÚNG.
ĐỀ: Hãy viết một viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) phát biểu ý kiến của

chặt chẽ trong quan hệ cộng đồng giai cấp, dân tộc.
“Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”
“Lá lành đùm lá rách”
+ Tình thương mở rộng, nâng cao thành tình yêu nhân loại.
- Những tấm gương sáng trong lịch sử coi Tình thương là hạnh phúc của con người:
+ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn cùng chia sẻ ngọt bùi, cùng vào sinh ra tử với
tướng sĩ dưới quyền trong ba cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên – Mông, giành
thắng lợi vẻ vang cho dân tộc.
+ Người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi suốt đời đeo đuổi lí tưởng vì dân vì nước, gác sang
một bên những oan ức, bất hạnh của riêng mình.
+ Người thanh niên Nguyễn Tất Thành xuất phát từ lòng yêu nước thương dân trong tình
cảnh nô lệ nên đã rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Bác luôn lấy tình yêu
thương con người làm mục đích và hạnh phúc cao nhất của cuộc đời mình.
c. Phân tích mặt tiêu cực: Bác bỏ những tư tưởng sai lệch, chỉ ra tác hại.
- Lối sống thờ ơ, vô cảm, thiếu tình thương, không biết quan tâm, chia sẻ, đồng cảm và giúp
đỡ người khác. Lối sống ấy bào mòn nhân cách con người, làm hại đến xã hội.
- Một số cá nhân thậm chí còn nhạo báng, chê bai những việc làm tốt của người khác, lạm
dụng lòng tốt của người khác để chia chác, tư lợi. Những hành động ấy bị XH lên án, trừng
trị.
d. Rút ra bài học nhận thức và hành động.
Biên soạn: GV DƯƠNG VĂN TUẤN – năm 2011 Trang 9
Tài liệu ôn thi tốt nghiệp môn ngữ văn
- Phải coi tình thương, lòng thương người là một tài sản vô giá cuả con người, phải biết giữ
gìn, phát huy nó theo đúng truyền thống đạo lí của cha ông.
- Mỗi người cần tích cực tham gia vào các chương trình nhân ái, từ thiện, góp phần làm
cho xã hội ngày thêm tốt đẹp, tươi sáng.
- Gia đình, nhà trường, xã hội cần quan tâm giáo dục, ươm mầm nhân ái cho tâm hồn con
trẻ.
3. KB:

sông” (Nguyễn Bá Học).
Câu 5 (3 điểm): Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) nêu suy nghĩ của anh (chị) về
câu danh ngôn : “Bạn là người đến với ta khi mọi người đã bỏ ta đi”.
Câu 6 (3 điểm): Hãy viết một bài văn ngắn ( khoảng 400 từ) nêu suy nghĩ của anh (chị) về
hiện tượng nghiện Ka-ra-ô-kê và In-tơ-nét trong nhiều bạn trẻ hiện nay.
Câu 7. (3 điểm): Mặc dù biết là sai, song nhiều học sinh vẫn học “tủ” dẫn đến những kết quả
không mong muốn trong các kì thi. Anh (chị) hãy viết một bài văn ngắn ( khoảng 400 từ) nêu
suy nghĩ của anh (chị) về hiện tượng đó.
Biên soạn: GV DƯƠNG VĂN TUẤN – năm 2011 Trang 10
Tài liệu ôn thi tốt nghiệp môn ngữ văn

Câu 8. (3 điểm): Anh (chị) hãy viết một bài văn ngắn ( khoảng 400 từ) bàn về lòng dũng cảm.
Câu 9. (3 điểm): Anh (chị) hãy viết một bài văn ngắn ( khoảng 400 từ) bàn về lòng tự trọng

Câu 10. (3 điểm): Anh (chị) hãy viết một bài văn ngắn ( khoảng 400 từ) bàn về sự tự tin
Câu 11.(3 điểm): Anh (chị) hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) bàn về lòng nhân ái

C/ CẬP NHẬT MỘT SỐ KIẾN THỨC, THÔNG TIN XÃ HỘI PHỤC VỤ
BÀI LÀM VĂN NLXH. ( HS TỰ CẬP NHẬT)
PHẦN 2: NGHỊ LUẬN VĂN HỌC.
A/ CÁC TÁC PHẨM THƠ.
BÀI 1: “TÂY TIẾN”
I. GIỚI THIỆU.
1/ Tác giả
- Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc.
- Một hồn thơ lãng mạn, tài hoa: nhà thơ của xứ Đoài mây trắng, thơ ông giàu chất nhạc,
họa
- Các tác phẩm chính: Rừng về xuôi; Mây đầu ô Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu của Q.Dũng.
2/ Tác phẩm
a. Hoàn cảnh ra đời bài thơ

+ Đọan thơ này là minh chứng cho câu “ trong thơ có họa”.Tác giả đã vẽ ra một bức tranh
hòanh tráng để diễn tả sự hiểm trở và dữ dội, hoang vu và heo hút nhưng cũng khá thơ
mộng của địa bàn mà đòan quân TT họat động. Đó là nơi có “sương lấp”, có ”hoa về trong
đêm hơi”.Nhưng, nổi bật nhất là những từ ngữ có giá trị tạo hình “khúc khuỷu, thăm thẳm,
cồn mây súng ngửi trời”. Địa hình ở đây thật hiểm trở, trùng điệp, cao, sâu khôn cùng.
+ Hai từ “ngửi trời” được dùng rất hồn nhiên, tinh nghịch và sáng tạo. Núi cao tưởng như
chạm mây, mây tụ lại thành cồn heo hút. Người lính hành quân trong địa hình ấy khác nào
đang đi trong mây, nòng súng chạm đỉnh trời!
- Câu thơ “ Ngàn xuống” như bẻ đôi một đường thẳng ra mà gấp khúc lại, nhằm tạo dốc
núi lên thì cao vút, xuống thì thẳng đứng. Nó làm ta liên tưởng tới câu thơ trong “Chinh phụ
ngâm”: Hình khe thế núi gần xa – Đứt thôi lại nối, thấp đà lại cao.
- Còn câu “ Nhà ai khơi” lại giúp ta hình dung cảnh người lính TT dừng chân bên đồi,
phóng tầm mắt ra xa, họ thấy trong không gian mịt mù mưa sa có những ngôi nhà thấp
thóang ẩn hiện.
=>NX: Những câu thơ này tạo một sự hài hòa khá đặc biệt. Sau các câu có những từ ngữ
gân guốc, trúc trắc là một câu mềm mại tòan thanh bằng.
-Trong không gian và thời gian ấy, luôn có những mối đe dọa đáng sợ:
Chiều chiều
trêu người.”
Từ “chiều chiều”, “đêm đêm” như nhấn mạnh sự thường trực của những âm thanh rùng
rợn phát ra từ tiếng thác chảy và tiếng gầm của vị chúa sơn lâm.
- Trong những cuộc hành quân qua những vùng hiểm trở, người lính TT phải đối diện với
những gian khó nhọc nhằn, thậm chí những hi sinh: “đòan quân mỏi”, “không bước nữa”,
“bỏ quên đời”. Bằng cảm hứng lãng mạn, nhà thơ đã dùng từ” bỏ quên đời” để chỉ cái chết.
Cách nói ấy làm cái chết trở nên thanh thản, nỗi mất mát như vơi đi phần nào.
- Tuy nhiên, hai câu kết lại vẽ ra một cảnh tượng thật đầm ấm:
“Nhớ ôi
thơm nếp xôi”
Khói cơm nghi ngút và mùi hương của lúa nếp như xua tan đi những mệt nhọc trên khuôn
mặt họ.

người, những bông hoa cũng “đong đưa” làm dáng.
3/ Chân dung người lính TT.
- Nếu như các đọan thơ trên chủ yếu nói về thiên nhiên TB, thì đọan thơ thứ ba khắc họa rõ
nhất chân dung người lính TT :
“TT đòan binh
độc hành”
- Những từ Hán Việt làm tăng vẻ đẹp hào hùng bi tráng của chân người lính. Còn những từ
thuần Việt lại cân bằng tính chân thực của c/s hiện thực thời chiến. Điều đó làm bức chân
dung tập thể vừa tổng hợp vừa cụ thể chân thực.
Đây là đòan quân lạ: “không mọc tóc”.Vì họ bị sốt rét làm rụng tóc, hoặc họ cạo trọc tóc để
dễ đánh giáp lá cà. Nhưng đó là cái lạ hoá, gân guốc bắt nguồn từ hiện thực đến từng chi
tiết. « Không mọc tóc » là hậu quả của trận sốt rét rừng. Rồi trải qua nơi rừng thiêng nước
độc, gian khổ thiếu thốn, thuốc men không có
- Câu “ Quân xanh hùm” có 2 ý:
+ Tình rạng sức khỏe tồi tệ của họ. Nhiều bài thơ chống Pháp từng nói tới hiện thực này.
Giọt giọt mồ hôi rơi
Trên má anh vàng nghệ.
(Tố Hữu)
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt rung người vầng trán ướt mồ hôi”
(Chính Hữu)
+ Phẩm chất tinh thần phi thường của họ. Nghĩa là sau vẻ bề ngòai xanh gầy của họ tóat ra
một nội lực, một khí thế mạnh mẽ, quyết liệt. “Dữ oai hùm” là cách nói cường điệu, lãng
mạn. Thiên nhiên và hòan cảnh khắc nghiệt, gian khổ chỉ có thể mài sắc ý chí chiến đấu, chứ
không thể bẻ gãy hoặc làm nhụt chí họ. Họ là những chiến binh dũng cảm, đáng gờm đối với
kẻ thù.
- Vẻ bên ngòai cứng rắn ấy cũng giấu một đời sống nội tâm phong phú, bay bổng , lãng mạn.
Hai câu “Mắt trừng kiều thơm” tả tâm trạng trằn trọc, nhớ nhà, nhớ quê, nhớ người
thương của họ. Tâm hồn nhọ mang những khao khát đời thừơng như bất cứ chàng trai tuổi
đôi mươi nào. Phải yêu cuộc sống và nhiều khao khát thì người lính mới có nhiều khao khát

chẳng về xuôi"
- Tinh thần “một đi không trở lại” thấm nhuần trong tư tưởng và tình cảm của họ.
-Đó là lời thề của họ sau khi đã hòan thành nhiệm vụ, trở về với đất nước quê hương; thề
với những đồng đội đã hi sinh, thề với lòng mình, với quá khứ hào hùng.
- TT trở thành một phần trong tâm hồn của các anh. Cách nói “người đi không hẹn ước”,
hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”, mùa xuân chia phôi thăn thẳm chính là thể hiện tâm trạng
buồn thương, luyến nhớ bâng khuâng khi nghĩ về một khỏang t/g đầy ắp kỉ niệm.
III/ KẾT LUẬN.
Với cảm hứng lãng mạn và ngòi bút tài hoa, Quang Dũng đã khắc họa thành công hình
tượng người lính Tây Tiến trên cái nền cảnh thiên nhiên núi rừng Tây Bắc hùnh vĩ, dữ dội
và mĩ lệ. Hình tượng người lính mang vẻ đẹp lãng mạn, đậm chất bi tráng sẽ còn có sức hấp
dẫn lâu dài đối với người đọc.
CÁC ĐỀ THƯỜNG GẶP, HƯỚNG DẪN HỌC BÀI, LÀM BÀI.
Câu hỏi thường gặp:
1/ Hòan cảnh ra đời bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng?
2/ Phân tích hình tượng người lính trong đọan 1 hoặc đọan 3.
3/ Phân tích hình tượng người lính trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng.
Hướng dẫn:
Câu 1: Trả lời theo phần I.2.a.
Câu 2: Cần học cả bài rồi dùng phần I và phần II.1 hoặc II.3 và phần III để làm bài.
Câu 3 Cần học cả bài rồi dùng phần I và phần II.1 , 2, 3, kết hợp làm rõ 2 ý cơ bản: vẻ đẹp
hào hùng, hào hoa; vẻ đẹp bi tráng của người lính TT. Lấy phẩn III làm kết luận.
******************************
Biên soạn: GV DƯƠNG VĂN TUẤN – năm 2011 Trang 14
Tài liệu ôn thi tốt nghiệp môn ngữ văn
BÀI 2: VIỆT BẮC( TỐ HỮU)
I/ Vài nét chung.
1. Hoàn cảnh sáng tác .
- Việt Bắc là khu căn cứ đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp.
- Tháng 7 năm 1954 hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, hòa bình lập lại ở miền Bắc. Tháng 10

« Tiếng ai tha thiết bên cồn…
…… biết nói gì hôm nay. »
- Người đáp dùng lối nói phiếm chỉ « tiếng ai ». Sau đó mới thấy bóng người qua hình ảnh
hóan dụ_ « áo chàm. » Đây cũng là màu biểu thị sự son sắc, thủy chung_theo quan niệm của
người VB.
- Tâm trạng, tư thế của người đi : « bâng khuâng » buồn nhớ, hồi hộp trong lòng ; « bồn
chồn » không yên trước mỗi bước đi. Câu « cầm tay….hôm nay » thể hiện tâm trạng ấy. Vì
đây là câu hỏi nghiêm trang, không thể trả lời ngay mà phải suy nghĩ, sắp xếp ý tứ.
=> T.H rất tài hoa khi thể hiện cuộc chia tay lớn, mang tính chất chính trị trọng đại trong
hình thức của một cuộc chia tay riêng tư thầm kín.
c/ Lời hỏi tiếp theo của người ở lại.
Đây là lời nhắc nhớ ân tình kháng chiến và CM :
« Mình đi có nhớ những ngày.
…………….
Tân Trào, Hồng Thái mái đình cây đa. »
- Điệp ngữ « mình đi-mình về-có nhớ » trong đọan này như diễn tả nỗi niềm nhớ thương,
như lời nhắn nhủ.
- Đó là thiên nhiên VB dữ dằn, khắc nghiệt :
Mình đi có nhớ những ngày
Biên soạn: GV DƯƠNG VĂN TUẤN – năm 2011 Trang 15
Tài liệu ôn thi tốt nghiệp môn ngữ văn
Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù
Những hình ảnh » mưa nguồn suối lũ », « mây cùng mù » vừa tả thực thiên nhiên VB, vừa
ẩn dụ cho những gian khó của đời sống CM.
- Câu thơ « miếng cơm chắm muối mối thù nặng vai » là để xác nhận thực tế : đời sống vật
chất thiếu thốn và nhiệm vụ CM cao cả, nặng nề.
- Người ở lại còn hỏi nhiều điều khác liên quan đến con người và thiên nhiên VB :
Mình về rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng măng mai để già
Mình đi cò nhớ những nhà

- Tg dùng hai đại từ « ta », « mình » rất linh họat : vừa chỉ người ở lại, vừa chỉ người đi.Đây
là cách xưng hô thân mật hay thấy trong cd.
- Hai từ láy « mặn mà », « đinh ninh » vừa chỉ mức độ t/c sâu nặng, vừa khẳng định t/c của
người KC với VB trước sau như một, không thay đổi.
- Cách so sánh « nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu » như khắc sâu thêm nỗi nhớ
dạt dào, mênh mông.Nó vừa rộng, vừa sâu, vừa xa không kể hết.
- Ba từ « mình » ở câu « mình đi mình lại nhớ mình » được dùng ở ngôi số một. Ở trên, VB
nhắn nhủ người đi đừng quên bản chất CM, thì ở đây, người CM k/đ với VB :sẽ không bao
giờ quên chính mình trong những ngày gian khổ nhưng giàu tình nghĩa ấy. Đó là lời tâm sự
và cũng là lời tự nhủ lòng của người đi.
b/ Nhớ thiên nhiên, nhớ cuộc sống sinh họat khi còn ở VB.
- Nỗi nhớ của người CM với VB giống như nỗi nhớ của những người yêu nhau. Cảnh sắc
thân thuộc ở VB được miêu tả rất sinh động :
Nhớ gì như nhớ người yêu
………… suối Lê vơi đầy
Biên soạn: GV DƯƠNG VĂN TUẤN – năm 2011 Trang 16
Tài liệu ôn thi tốt nghiệp môn ngữ văn
- Nhớ như nhớ người yêu là nỗi nhớ thường trực, không bào giờ dứt trong tâm trí của người
đi. Nỗi nhớ này không khác gì cách nói của nữ sĩ Xuân Quỳnh « Lòng em nhớ đến anh- Cả
trong mơ còn thức ».
- Tiếp theo là những câu thơ cụ thể hóa nỗi nhớ. Đó có thể là kí ức của một buổi hẹn hò
(trăng lên đầu núi) ; là khỏanh khắc cuối ngày (nắng chiều lưng nương) ; là hình ảnh sum
họp bên nhau quanh « bếp lửa » ; là bản làng chìm trong khói sương. Các từ « trăng lên,
nắng chiều, sớm khuya » diễn tả nỗi nhớ bao trùm cả thời gian ở VB.
- Cụm từ « nhớ từng » nhấn mạnh việc người đi không quên một sự vật, hiện tượng, địa
điểm nào của không gian VBN : rừng nứa, bờ tre,ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê.
- Người đi không quên 1 thời gian khổ :
Ta đi ta nhớ những ngày
……… bẻ từng bắp ngô
+ VB chia sẻ với những người k/c từ bát cơm củ sắn của đời sống v/c, đến những « ngọt bùi

- Trong tám dòng thơ tiếp theo, TH đã tạo nên một bức tranh tứ bình độc đáo về VB theo
chủ đề : X,H,TH,Đ.
Bức tranh được tả bằng những câu thơ êm ả, nhẹ nhàng : có màu sắc tươi tắn, có ánh sáng
rực rỡ, có âm thanh vui tươi.Tám dòng này cũng đồng nhất : các câu lục thì tả cảnh, các câu
bát thì nói về người. Cảnh nào, người nào cũng có cái riêng để nhớ. Tất cả là nhờ vào bút
pháp chấm phá của t.g.
_ Bức tranh mùa đông :
Rừng xanh……….
……………….thắt lưng.
+ Mùa đông mà rừng vẫn xanh. Trên cái nền xanh tải dài ấy, bỗng bất ngờ hiện ra bông hoa
chuối đỏ tươi làm ấm lòng vui mắt. Nó như một ngọn đuốc xua tan cái lạnh lẽo vốn có của
mùa đông. Đó là mùa đông chiến thắng , nên nó không u ám, lạnh lẽo như thông thường.
Biên soạn: GV DƯƠNG VĂN TUẤN – năm 2011 Trang 17
Tài liệu ôn thi tốt nghiệp môn ngữ văn
+ Trong cảnh ấy, ánh nắng buổi sáng chiếu rọi làm lóe lên ánh sáng trên lưỡi dao mà người
đi rừng dắt ở lưng. Ý thơ vừa khỏe, vừa đẹp. Trong núi rừng VB, con người như một vệt
sáng di chuyển nhưng ko bị vùi lấp, mà TN đang tôn lên vẻ đẹp của con người.
- Bức tranh mùa xuân :
Ngày xuân……………
………… chuốt từng sợi giang.
+ Mơ là lòai hoa đặc trưng của VB. Nó nở một màu trắng miên man, tinh khiết đẹp đến nao
lòng. T.H còn nói về màu trắng này trong một bài thơ khác :
Ôi sáng xuân nay xuân 41
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ.
(Theo chân Bác)
+ Trong cảnh xuân ấy là dáng vẻ cần mẫn của người l.đ. Bao nhiêu ân cần, nhẫn nại, chịu
thương chịu khó dồn trong một chữ « chuốt ». « Chuốt » là chẻ, vót một cách cẩn trọng kĩ
càng, trơn láng, gọn gàng. Con người là chủ nhân của mùa xuân, đang tô điểm cho sắc xuân
thêm lộng lẫy.
- Bức tranh mùa hạ :

núi rừng VB trở thành « lũy sắt dày » để chống giặc, để « che bộ đội, vây quân thù ».
- Mênh mông » là từ chỉ sự rộng lớn, bao la. Còn « bốn mặt sương mù » lại chỉ đặc trưng
của thiên nhiên VB. Cụm từ này tương phản với bốn từ « chiến khu một lòng ». Cả chiến
khu một lòng hợp sức đánh giặc. Nhờ đó ta đã làm nên những chiến công vang dội ở Phủ
Thông, đèo Giàng, sông Lô, phố Ràng, Hòa Bình, Tây Bắc…
=> Đọan thơ có âm hưởng hào hùng,vang dội. Điệp từ « nhớ », đại từ « ai » như khẳng định
thêm ân tình của người kháng chiến đối với VB.
e/ Nhớ VB trong chiến đấu và chiến thắng.
Đọan thơ này là một bản anh hùng ca với khí thế mạnh mẽ của cả dân tộc ra trận.
Biên soạn: GV DƯƠNG VĂN TUẤN – năm 2011 Trang 18
Tài liệu ôn thi tốt nghiệp môn ngữ văn
Những đường VB của ta.
……………
Vui lên VB đèo De núi Hồng.
* Đầu tiên là VB trong mùa chiến dịch :
Những đường…………….
………………như là đất rung.
+ Cụm từ « của ta » thể hiện ý thức làm chủ của người KC đối với ĐN nói chung và với căn
cứ địa không thể xâm phạm_ VB_ nói riêng.Hai câu này vừa nói được sự rộng lớn của
không gian VB, vừa nói được độ dài của cuộc KC trường kì của dt ta.
+ Từ láy « rầm rập » không những diễn tả được tiếng động mạnh của bước chân mà còn
giúp ta hình dung ra nhịp độ khẩn trương, nhanh chóng của cuộc KC ở giai đọan quyết
định.
- Hai câu tiếp theo cụ thể hóa tiếng bước chân ở trên :
Quân đi …………
…………bạn cùng mũ nan
+ Hai từ láy « điệp điệp trùng trùng » một mặt miêu tả độ dài vô tận của đòan quân nhấp
nhô uốn lượn theo sườn núi, mặt khác nó còn diễn tả khí thế tự tin vào sức mạnh của quân
ta.
+ Hình ảnh « ánh sao » vừa có nghĩa thực, chỉ sao trời trong những đêm dài hành quân, vừa

VB là đầu não của cuộc KC, nơi hội tụ của niềm tin, t.c hi vọng của những người VN yêu
nước.
VB là cội nguồn sức mạnh, nơi có cụ Hồ sáng soi, có TW, CP « luận bàn việc công » để đem
về chiến thắng.
III/ KẾT LUẬN
1/ Nội dung :
Biên soạn: GV DƯƠNG VĂN TUẤN – năm 2011 Trang 19
Tài liệu ôn thi tốt nghiệp môn ngữ văn
VB là khúc hùng ca và cũng là khúc tình ca về CM, về cuộc kháng chiến và con người kháng
chiến. Bài thơ là lời nhắn nhủ của Tố Hữu : Hãy nhớ mãi và phát huy truyền thống quý báu
anh hùng bất khuất, ân nghĩa thủy chung của CM, của con người Việt Nam.
2/ Nghệ thuật :
- Mang đậm tính dân tộc.
- Cấu tứ bài thơ là cấu tứ ca dao với 2 nhân vật trữ tình « ta », « mình », người đi, người ở
hát đối đáp với nhau.
- Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, nhưng sinh động, giàu hình ảnh, nhạc điệu.
- Tác giả dùng tiểu đối, phép điệp, ẩn dụ, so sánh, để nhấn mạnh ý và tạo nhịp điệu uyển
chuyển, hài hòa, dễ nhớ.
- Giọng điệu trữ tình, thiết tha, ngọt ngào như lời ru đưa ta vào thế giới của kỉ niệm và tình
nghĩa thủy chung.
Câu hỏi thường gặp:
1/ Hòan cảnh ra đời bài thơ VB.
2/ Phân tích một đọan thơ, khỏang 12 câu, trong bài thơ VB.
Hướng dẫn:
Câu 1: Trả lời theo phần I.
Câu 2: Tùy theo đề mà giới thiệu, dẫn thơ, phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật.
*******************************
BÀI 3 : ĐẤT NƯỚC (NGUYỄN KHOA ĐIỀM)
I/ GIỚI THIỆU
1/ Tác giả :

Biên soạn: GV DƯƠNG VĂN TUẤN – năm 2011 Trang 20
Tài liệu ôn thi tốt nghiệp môn ngữ văn
- Đất nước lớn lên bằng quá trình chiến đấu chống ngoại xâm “Đất Nước lớn lên khi dân
mình biết trồng tre đánh giặc”. Cây tre là một hình tượng gắn với quá trình dựng nước và
giữ nước của người Việt. Khi xưaThánh Gióng nhổ tre đánh giặc Ân. Còn trong thời hiện
đại thì “Tre giữ làng giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín”(Thép Mới). Vậy nên
nhà thơ Nguyễn Duy thốt lên trong xúc động :
“Thân gầy guộc lá mỏng manh
Mà sao nên lũy nên thành tre ơi”
→ Cây tre của Nguyễn Khoa Điềm gợi sự liên tưởng sâu xa. Bờ tre kết lại sẽ thành lũy giữ
nước, cây tre làm nhà, làm vật dụng sinh hoạt, làm mũi tên, hầm chông, làm gậy đánh giặc.
- Đất nước gắn với quá trình lao động cần cù, gian khó:
“cái kèo cái cột thành tên
… xay, giã, giần, sàng”.
+ “Kèo”, “cột” là gỗ hoặc tre nói chung, khi nó được dùng làm nhà thì mới gọi tên là kèo, là
cột. Đó là sự sáng tạo của con người.
+ “Một nắng hai sương” là thành ngữ chỉ sự từng trải, khó nhọc của người lao động.
+ Nhịp thơ ngắn, biện pháp liệt kê: “xay, giã, giần, sàng” nhằm cụ thể hóa những công việc
phải làm để có được hạt gạo cho đời.
=> Có thể nói Nguyển Khoa Điềm đã đưa đất nước từ “thiên thư”, từ “một mối xa thư đồ
sộ”, từ “hai vầng nhật nguyệt chói lòa” ở trên trời, trở về với miếng trầu của bà, mái tóc của
mẹ, cây tre trước ngõ, mái nhà ta ở. Cái nhìn mới mẻ ấy gợi sự xúc động cho người đọc. Về
nghệ thuật, ta thấy tác giả ghi hoa hai từ Đất Nước là để thể hiện sự trân trọng. Câu thơ xen
kẽ dài ngắn, dễ bộc lộ tình cảm tự nhiên theo dòng cảm xúc. Giọng thơ như lời tâm sự gần
gũi, thân tình. Ngôn ngữ dùng nhiều chất liệu văn học dân gian.
2) Đất nước được cảm nhận trên nhiều phương diện
- Ở đoạn thơ này, tác giả trả lời cho câu hỏi: đất nước là gì ?
“Đất là nơi anh đến trường

làm nên Đất Nước muôn đời”

b) Đất nước được cảm nhận theo chiều dài của lịch sử dân tộc.
- Tác giả khẳng định nguồn gốc cao quý – con rồng cháu tiên của dân tộc Việt:
“Đất là nơi chim về
… trong bọc trứng”.
- Nhà thơ gợi lại truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ đẻ ra đồng bào ta trong bọc trăm
trứng nhằm nhắc nhở : cả dân tộc ta đều có chung cội nguồn. Do đó cần yêu thương, đoàn
kết với nhau trong mọi hoàn cảnh.
- Đất nước cũng gắn với truyền thuyết Hùng Vương và ngày giỗ tổ:
“Hằng năm an đâu làm đâu
cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ tổ”
câu thơ gọi nhớ bài ca dao:
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng 10 tháng 3”
Từ “cúi đầu” thể hiện sự thành kính tri ân đối với người có công dựng nước. Hằng năm, dân
ta thường về đất tổ Phú Thọ để làm lễ giỗ tổ. Gần đây, nhà nước đã chính thức coi ngày 10
tháng 3 âm lịch là ngày quốc giỗ. Nhớ về ngày giỗ tổ, chúng ta cũng nhớ về lời dặn của Bác
Hồ: “Các vua Hùng đã có công dựng nứơc, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước”.
=> NKĐ đã khéo dùng những thần thoại, truyền thuyết tiêu biểu để gợi nhắc lại cội nguồn,
hồn thiêng sông núi trong tâm linh mọi người. Nó sẽ làm cho người gần người hơn trong
cuộc sống hằng ngày và trong cả công cuộc kháng chiến cứu nước.
c) Trách nhiệm của mỗi người đối với đất nước.
- Ở đọan thơ này, tác giả cảm nhận ĐN trong đời sống hiện tại, trong mối quan hệ giữa cá
nhân với cộng đồng. Hiện tại ấy chính là cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra ác liệt.
Vậy nên, tiếng nói của nhà thơ cũng là tiếng nói đầy trách nhiệm của thế hệ thanh niên miền
Nam thời ấy:
Trong anh và em hôm nay

Làm nên đất nước muôn đời
- Đất nước là núi sông, là văn hóa xứ sở, là chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng, là thành quả lao
động chiến đấu của bao người, trong đó có anh và em. Mỗi cá nhân là một thành tố nhỏ, khi

Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Làm nên Đất Nước muôn đời.
Những câu thơ như một lời tự nhủ, tự dặn mình của nhà thơ và lớn hơn là của cả thế
hệ lúc bấy giờ ý thức về bổn phận đối với Đất Nước. Giọng thơ chân thành, tha thiết,
nhẹ nhàng như lời thủ thỉ, tâm tình, nhắn nhủ người yêu. Em ơi em là tiếng gọi yêu
thương với bao niềm vui sướng đang dâng lên trong lòng. Những từ gắn bó, san sẻ, hoá
thân là biểu hiện của trách nhiệm, của lòng yêu nước. Phải biết gắn bó và san sẻ phải
biết hoá thân thì mới có thể Làm nên Đất Nước muôn đời.
Tứ thơ rất đẹp. Đất Nước thân thương gắn bó với mọi người. Phải biết hiến dâng cho
“Đất Nước muôn đời”. Đoạn thơ còn đẹp vì sáng ngời niềm tin về tương lai Đất Nước
và tiền đồ tươi sáng của dân tộc. Đoạn thơ mang tính chính luận, chất trữ tình thể hiện
một hồn thơ dạt dào cảm xúc và giàu chất suy tư.
- Tác giả hướng suy tư vào cội nguồn, vào sự kế thừa, tiếp nối của các thế hệ. Mỗi thế hệ
phải truyền lại tài sản tinh thần và vật chất cho thế hệ sau để làm nên đất nước.
- Tác giả kêu gọi mọi người phải biết “gắn bó”, “san sẻ”, “hóa thân” để xây dựng đất nước.
=> Tác giả nhìn đất nước ở nhiều góc độ nhưng giản dị và gần gũi đến nỗi nhìn vào đâu ta
cũng thấy bóng hình đất nước.
3) Tư tưởng đất nước của nhân dân
- Tư tưởng đất nước của nhân dân thể hiện rõ ở câu:
“Để Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân
Đất Nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại”
- Tác giả đã chứng minh tư tưởng đó bằng hàng loạt những dẫn chứng, hình ảnh sự việc con
người, câu chuyện dân gian, những chứng tích, di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng
cảnh, những tên làng, tên sông, tên núi.
+ Hòn núi vọng phu tạo nên cậu chuyện về tình nghĩa vợ chồng, phản đối chiến tranh.
+ Hòn trống mái cũng là biểu tượng của tình nghĩa vợ chồng đôi lứa.
+ Những ao, đầm lả những vết chân ngựa thánh Gióng đánh giặc Ân.
+ Những ngọn núi quanh đền Hùng lại thành cội nguồn của đất tổ.
+ Nhiều địa danh ghi nhớ công ơn của người mở cõi: ông Đốc, ông Trang, bà Đen, bà Điểm.
- ND chính là những người làm ra đất nước. Họ là những chủ nhân đích thực của đất nước.

- Thơ Xuân Quỳnh là tiếng nói của một tâm hồn phụ nữ vừa hồn nhiên tươi tắn chân thành,
vừa đằm thắm da diết trong khát vọng về tình yêu, hạnh phúc đời thường.
2. Tác phẩm:
- “Sóng” được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi ở vùng biển Diêm Điềm (Thái Bình), là
bài thơ đặc sắc về tình yêu, tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh.
- Xuân Quỳnh đã mượn hình tượng sóng để diễn tả cảm xúc tâm trạng và những sắc thái
tình cảm phức tạp, nồng nàn, tha thiết trong trái tim người phụ nữ đang yêu.
I. ĐỌC HIỂU
1. Âm điệu của bài thơ.
- Đây là âm điệu của những con sóng trên biển cả, và sâu xa hơn đó là nhịp của những cơn
“sóng lòng” nhiều cung bậc, sắc thái cảm xúc trong trái tim người phụ nữ.
- Âm điệu đó được tạo nên bởi 2 yếu tố: thể thơ 5 chữ; cách tổ chức ngôn ngữ, cách ngắt
nhịp. Các yếu tố này được dùng linh hoạt phóng túng đã gơị lên nhịp sóng biển (và cả sóng
lòng) khi dịu êm nhẹ nhàng, khi dồn dập dữ dội.
2. Ý nghĩa hình tượng sóng.
- Ý nghĩa hình tượng sóng bao trùm cả tác phẩm, ở lớp nghĩa thực nó được miêu tả cụ thể
sinh động, với nhiều trạng thái mâu thuẫn, thậm chí là trái ngược nhau. Ở lớp nghĩa biểu
tượng sóng như có hồn, có tính cách, có tâm trạng, biết giải bày bộc bạch, diễn tả sự phong
phú và phức tạp nhiều khi đầy mâu thuẫn trong tâm hồn người phụ nữ đang yêu: lúc bồng
bột sôi nổi, lúc kín đáo sâu sắc.
- Hình tượng “sóng” và “em” đang cài, tồn tại song song soi sáng cho nhau, thể hiện cái tôi
trữ tình của tác giả.
3. Phân tích các khổ thơ.
a/ Nghĩ về sóng và tình yêu .(khổ 1,2)
Đây là trạng thái đặc biệt trong tâm hồn người con gái đang yêu.
“Dữ dội và dịu êm
….
Sóng tìm ra tận bể”
- Từ những đặc tính đối lập của sóng (dữ dội, ồn ào, dịu êm, lặng lẽ), t/g đã diễn tả trạng
thái khác thường phong phú, phức tạp, đối lập trong trái tim đang yêu: có lúc khao khát

- Nhà thơ cố ý nói ngược cách nói thông thường – xuôi vào Nam ngược ra Bắc - mà chẳng hề
bận lòng. Tình yêu tạo ra một phương mới mà chẳng ai thấy lạ - « phương anh. » Vì sao? Vì
những nghịch lý ở trên là vẻ bề ngoài, là cách nói che giấu bên trong một hạt nhân rất phù
hợp với tâm lý của người đang yêu, đang xa, đang nhớ và đang muốn đốt trái tim mình
trong ngọn lửa tình yêu. Xuôi hay ngược, Bắc hay Nam không quan trọng. Kim la bàn trong
trái tim em luôn quay về hướng có anh.
- Tin vào tình yêu, nhà thơ biết dù khó khăn, nghiệt ngã, thử thách, nhưng tình yêu đích
thực rồi sẽ cập bến bờ hạnh phúc:
“Trăm ngàn con sóng nhỏ

Dù muôn vời cách trở”
Xuân Quỳnh quan sát rất tinh tế, nên phát hiện ra « sóng » ở nhiều tầng. Nhà thơ còn dùng
dùng biện pháp đối (xuôi ngược Nam Bắc) và hình ảnh mới mẻ (trong mơ còn thức), để thể
hiện được nổi nhớ mãnh liệt, sôi nổi và chân thành.
d/ Nghĩ về sóng và khát vọng tình yêu của em. (khổ 8,9)
Xuân Quỳnh viết bài thơ này khi đã có một lần đổ vỡ trong tình yêu. Cho nên, dù tình cảm
sôi nổi, mãnh liệt, nhà thơ vẫn không thể không có những nỗi lo âu:
“Cuộc đời tuy dài thế
…Mây vẫn bay về xa”
- Ngẫm về các quy luật của tự nhiên -biển dù rộng nhưng vẫn có bờ, cuộc đời tình yêu
không thể vĩnh hằng, mây không thể ngừng trôi- Xuân Quỳnh nhận ra rằng : hạnh phúc
cũng thế, nhiều khi mong manh dễ vỡ, cho nên lời thơ như một nỗi suy tư, trăn trở.
- Cũng như bao người khác, Xụân Quỳnh cũng khao khát sự vô cùng, sự tồn tại mãi mãi của
hạnh phúc với cuộc đời:
“Làm sao được tan ra
…Để ngàn năm còn vỗ”
- Đời người có giới hạn, nhưng tình yêu thì có thể vô cùng. Vậy nên, Xuân Quỳnh khao khát
gởi mình vào hình tượng sóng để hoá thân vào tình yêu, vào biển lớn. Vì con người có thể
mất đi, nhưng tình yêu là vĩnh hằng, sóng kia “ngàn năm còn vỗ”. Câu thơ thể hiện một
khát vọng đầy nữ tính: muốn hoà nhập cái riêng nhỏ bé vào cái chung bao la rộng lớn để


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status