Chương 1: Sử dụng, sửa chữa động cơ đốt trong TS Trần Anh Trung - Pdf 23

SỬ DỤNG, SỬA CHỮA ĐỘNG CƠ
ĐỐT TRONG
GV: TS Trần Anh Trung
SĐT: 0969767381
Phòng thí nghiệm Động cơ đốt trong C15
Mã học phần: TE 4021
Lý thuyết: 45 tiết
Thí nghiệm: 15 tiết
Sinh viên nắm được những kiến thức lý thuyết và thực hành cơ bản về
hư hỏng và phương pháp kiểm tra sửa chữa, điều chỉnh các chi tiết, các
bộ phận của động cơ đốt trong. Phương pháp chẩn đoán kỹ thuật không
tháo máy đối với động cơ xuất xưởng và động cơ đang lưu hành.
-
Nắm vững đặc điểm hư hỏng, nguyên nhân và phương pháp chẩn
đoán hư hỏng của các chi tiết, bộ phận, hệ thống của động cơ đốt
tỏng;
-
Nắm vững quy trình bảo dưỡng, sửa chữa động cơ
-
Sử dụng thành thạo các dụng cụ phục vụ bảo dưỡng, sửa chữa
động cơ;
-
Thực hành bảo dưỡng, sửa chữa, điều chỉnh các bộ phận, hệ thống
của động cơ.

Tài liệu tham khảo

Giáo trình kỹ thuật sửa chữa ô tô- PGS TS
Hoàng Đình Long - NXB Giáo dục 2005

Giáo trình kỹ thuật sửa chữa ô tô, máy nổ - GS

Hư hỏng cào xước do hạt mài

Tróc rỗ do hiện tượng dính kết bề mặt ở nhiệt độ cao hoặc
tải trọng nặng gây nên

Xâm thực hoặc ăn mòn hóa học
Bề mặt ma sát chịu sự phá hoại đồng thời bởi nhiều loại hao
mòn - hư hỏng khác nhau, song chỉ loại nào có tốc độ phá
hoại lớn nhất lúc đó mới chiếm ưu thế và quyết định kiểu
hư hỏng của chi tiết
Đánh giá mức độ mãnh liệt của hao mòn và hư hỏng:
Vận tốc mòn có thể tính bằng 1 trong ba công thức sau:
t
VV
t
GG
t
LL
v
m
212121
;;
−−−
=
L: Kích thước 1: Bắt đầu
G: Trọng lượng 2: Sau khi làm việc
V: Thể tích t: Thời gian (h)
Cường độ mòn
l
VV

gốc ô xi trên bề mặt chi tiết
Nguyên nhân:
Do lớp kim loại trên cùng của bề mặt có tính hoạt hóa cao
với ô xi trong môi trường nên rất dễ dàng tác dụng với ô xi.
Tuỳ theo lớp màng được tạo thành là các ô xít FeO,
Fe2O3 hoặc là lớp dung dịch rắn của ô xi với kim loại.
→ Lớp màng này bao phủ bề mặt chi tiết, khi ma sát làm
bong ra và ngay lập tức lại hình thành lớp màng khác.

Nếu lớp màng là dung dịch rắn của ô xi với kim loại
hao mòn ô xi hóa loại 1

Nếu lớp màng là ô xít kim loại hao mòn ô xi hóa loại 2
b. Điều kiện hình thành hao mòn ô xi hoá

Phải tồn tại ô xi trong môi trường làm việc của chi tiết.

Quá trình ô xi hoá phải chiếm ưu thế so với các quá trình
khác: Vox >Vkhác

Có sự cân bằng ổn định giữa tốc độ hình thành và phá hoại
lớp màng: Vht ≥ Vph

Bề mặt ma sát khô hoặc có bôi trơn giới hạn

Tốc độ trượt đối với thép tôi 0,1-3m/s. Nếu tốc độ trượt lớn
hơn nữa sẽ tạo nhiệt độ rất cao làm mềm bề mặt có thể dẫn
đến sự phá hoại theo kiểu hư hỏng tróc loại 2.

áp suất riêng khi hao mòn ô xi hoá không vượt quá áp suất

b. Điều kiện hình thành tróc loại 1

Vận tốc quá trình tróc chiếm ưu thế so với quá trình khác:
Vtróc > Vkhác

Tại khu vực tiếp xúc không tồn tại các lớp màng ngăn cách
như lớp màng dầu hoặc lớp màng ô xít.

áp suất riêng tại khu vực tróc giới hạn chảy của vật liệu

Tốc độ dịch chuyển tương đối của 2 vật thể khá chậm để đủ
thời gian cho việc khuếch tán các nguyên tử kim loại, thường
Vtrượt < 0,1m/s.
c. Các chi tiết thường bị tróc loại 1
Phần lớn là các chi tiết làm việc trong điều kiện chịu tải trọng
nặng và tốc độ chuyển động chậm như: Chốt ổ quay trục bánh
lái máy kéo, Chạc chữ thập trong khớp các đăng v.v
1.2.3 Tróc loại 2
a. Định nghĩa
Tróc loại 2 là sự phá hoại bề mặt chi tiết thể hiện ở sự hình thành
và phá huỷ các mối liên kết cục bộ hoặc tạo nên các chỗ nhũn,
nứt bề mặt do nhiệt độ cao trong quá trình ma sát gây ra.
Quá trình phá huỷ do tróc như sau:
Khác với tróc loại 1, trường hợp hư hỏng này xuất phát từ nguyên
nhân bề mặt bị quá nóng do ma sát trượt, mà nhiệt độ cao quá
ngưỡng đã gây nên biến dạng dẻo vật liệu, làm lộ ra các lớp kim
loại gốc đồng thời làm hai bề mặt dịch sát tới khoảng cách bán
kính giữa các nguyên tử, từ đó tạo điều kiện cho các nguyên tử
khuếch tán. Trong một số trường hợp còn xảy ra sự nóng chảy cục
bộ, tựa như hàn 2 vật liệu.


Phụ thuộc vào độ cứng của chi tiết và độ cứng của hạt mài. Có
thể đánh giá thông qua tỉ số giữa độ cứng hạt mài trên độ cứng
chi tiết : Hm/Hct = K; K> 0,6 xảy ra mài mòn cơ học. K 0,6,
xảy ra mài mòn cơ hoá.

Trong trường hợp hạt mài nằm trong một khối nền mềm (ví dụ
các hạt mài trong nền đất), sự phá hoại chủ yếu lại là mài mòn
cơ hoá do chúng không có đủ lực cắt tác dụng lên bề mặt ma
sát.

Dùng hệ thống lọc để ngăn cản hạt mài lọt vào chi tiết, đồng
thời bảo dưỡng định kỳ
Cơ chế phá hoại của mài mòn cơ
hoá và cơ học
a. Mài mòn cơ hoá
b. Mài mòn cơ học
c. Các chi tiết thường bị mài mòn
Trong điều kiện vận hành không tuân thủ các chế độ chăm sóc
bảo dưỡng thường xuyên hoặc trong môi trường nhiều hạt mài,
có thể thấy đa số chi tiết của động cơ ô tô bị phá hoại do mài
mòn như: Nhóm xy lanh, pít tông, xéc măng; Các loại cổ trục và
bạc lót; Chốt xích trên các máy bánh xích; Gầu xúc, lưỡi cày,
lưỡi ủi v.v
1.2.5. Một số dạng hư hỏng khác
a. Mỏi
Xuất hiện các vết nứt vuông góc với bề mặt ma sát và ở khu vực có
ứng suất tập trung
→ gãy do mỏi sau 1 chu kỳ làm việc nào đó
Phụ thuộc vào: Hình dạng bề mặt, chế độ tải và cấu trúc vật liệu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status