Thực trạng sử dụng hoạt động hợp đồng hoán đổi lãi suất ở Việt Nam - Pdf 23

Mục lục
Mục lục 1
Phần 1: Tổng quan về hợp đồng hoán đổi lãi suất 2
1.1.Khái niệm và phân loại hợp đồng hóa đổi lãi suất 2
1.1.1.Khái niệm 2
1.2.Vai trò của hợp đồng hoán đổi lãi suất 2
Phần 2: Thực trạng sử dụng hoạt động hợp đồng hoán đổi lãi suất ở Việt Nam 5
2.1 Hợp đồng hoán đổi lãi suất trên thế giới 5
2.2. Hợp đồng hoán đổi lãi suất ở Việt Nam 5
2.2.1. Điều kiện tham gia hợp đồng hoán đổi lãi suất 5
2.2.2. Thực trạng hợp đồng hoán đổi lãi suất ở Việt Nam 6
Phần 3. Giải pháp phát triển hợp đồng hoán đổi lãi suất ở Việt Nam 9
3.1. Về phía nhà nước 9
3.2. Về phía tổ chức tín dụng và NHTM 10
3.3. Về phía doanh nghiệp 10
Phần 1: Tổng quan về hợp đồng hoán đổi lãi suất
1.1. Khái niệm và phân loại hợp đồng hóa đổi lãi suất
1.1.1. Khái niệm
Hợp đồng hoán đổi lãi suất ( Interest rate-swap. IRE) là sản phẩm mà ngân
hàng cung cấp cho khách hàng, theo đó khi ký kết hợp đồng hoán đổi lãi suất mỗi bên
cam kết thanh toán cho bên kia khoản tiền lãi theo một loại lãi suất (thả nổi hoặc cố
định) đã cam kết trên một khoản vốn gốc nhất định trong cùng một khoảng thời gian
xác định.
Khoản vốn gốc của một giao dịch hoán đổi lãi suất là số tiền mà ngân hàng
và khách hàng thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất thoả thuận làm cơ sở để tính toán
số lãi phải trả, số lãi được nhận và số lãi ròng hoán đổi lãi suất.
Số lãi ròng từng kỳ của một hoán đổi lãi suất là chênh lệch giữa số lãi nhận
được và số lãi phải trả của từng kỳ thanh toán của hợp đồng hoán đổi lãi suất.
Kỳ thanh toán của hợp đồng hoán đổi lãi suất là khoảng thời gian mà hợp
đồng hoán đổi lãi suất có hiệu lực đã được thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng,
mà tại cuối mỗi khoảng thời gian đó, các bên thực hiện thanh toán cho nhau số lãi ròng

( Người đi vay)
Lãi suất thả nổi libor
Tổ chức tín dụng
(NHTM)
a%
Lãi suất
thả nổi
libor
Người cho vay
NHTM X
cho ngân hàng lãi suất thả nổi (Libor). Vào kỳ thanh toán lãi, khách hàng sẽ nhận lãi
suất cố định (b%) từ ngân hàng để thanh toán cho người cho vay, đồng thời thanh toán
lãi suất thả nổi (Libor, được khách hàng dự báo giảm) cho ngân hàng. Như vậy khách
hàng B đã hạn chế được chi phí trả lãi nợ vay và thu được chênh lệch tiền lãi từ hợp
đồng này khi lãi suất thị trường có xu hướng giảm đi.
 Đối với các tổ chức tín dụng _ Đối với NHTM
Hoán đổi lãi suất là một nghiệp vụ phái sinh tất yếu trong xu thế hội nhập hiện
nay khi nền kinh tế các quốc gia mở cửa, áp dụng luật chơi quốc tế, lãi suất được tư do
hóa các luồng vốn được tự do chảy vào và chảy ra . Khi đó, các biến số lãi suất thị
trường hay tỷ giá liên tục biến động không chỉ gây tác động tiêu cực đến các doanh
nghiệp mà còn còn ảnh hưởng trực tiếp đến các nhà băng, hoán đổi lãi suất nói riêng là
một công cụ hữu hiệu, một dịch vụ hấp dẫn mà NH vừa có thể cung cấp cho khách
hàng, vừa có thể giảm thiểu rủi ro lãi suất cho chính mình.
Phần 2: Thực trạng sử dụng hoạt động hợp đồng hoán đổi lãi suất
ở Việt Nam
2.1 Hợp đồng hoán đổi lãi suất trên thế giới
Hợp đồng hoán đổi lãi suất là công cụ tài chính phái sinh ưa thích trên thị trường
phi chính thức của thế giới. Khối lượng vốn danh nghĩa trong giao dịch hoán đổi lãi
suất chiếm tới hơn một nửa tổng số vốn danh nghĩa trên thị trường. Khối lượng vốn
danh nghĩa hợp đồng hoán đổi lãi suất tăng đều qua các năm. Cụ thể trong năm

Giao dịch hoán đổi lãi suất được chính thức áp dụng tại Việt Nam 2003 nhưng
các giao dịch lớn và thường xuyên lại diễn ra chủ yếu ở các ngân hàng nước ngoài đặt
trụ sở tại Việt Nam, trong khi đó tỷ trọng giao dịch hoán đổi lãi suất của các ngân hàng
nội địa còn thấp, xuất hiện chủ yếu ở một số ngân hàng lớn có uy tín như VCB,
BIDV… Theo thống kê những ngân hàng nước ngoài hiện nay có số lượng các giao
dịch hoán đổi lãi suất nhiều nhất là HSBC, Standard Chatered Bank, Citi Bank Thực
tế, HSBC đã cung cấp gói Swaps tiền Đồng cho một công ty đa quốc gia với số vốn
lên tới 15 triệu USD trên tại trường Việt Nam. Theo đó, HSBC sẽ đưa VND và nhận
USD từ khách hàng, tới tháng 12/2007, HSBC sẽ đưa USD và nhận lại VND từ khách
hàng. Với giao dịch này, khách đã đạt được mức lãi suất cạnh tranh nhất trên thị
trường nội địa cho việc vay vốn tiền Đồng kỳ hạn 3 năm mà không chịu bất cứ một rủi
ro nào về tỷ giá USD/VND. Sự kiện này lúc đó được xem như là một bước đột phá
mới trên thị trường tiền tệ Việt Nam đang còn sơ khai và người chỉ đạo thực hiện
nghiệp vụ này được giới báo chí tung hô là "người buôn tiền số 1 Việt Nam". Tuy
nhiên số lượng giao dịch và doanh số giao dịch nhìn trên tổng thể vẫn còn thấp so với
một công cụ tiềm năng như hợp đồng hoán đổi lãi suất. Vậy đâu là nguyên nhân khi
hợp đồng lãi suất đã xuất hiện gần 10 năm nhưng chưa trở thành công cụ hữu hiệu
được sử dụng rộng rãi trên thị trường tài chính Việt Nam.
 Nguyên nhân
Về mặt pháp lí: Tháng 1/2003, lần đầu tiên NHNN cho phép thực hiện nghiệp vụ
hoán đổi lãi suất, tiếp đó dến năm 2006, NHNN ban hành thêm Quyết định số
62/2006/QĐ-NHNN ban hành Quy chế thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất giữa các
ngân hàng. Tuy nhiên hệ thống văn bản chưa thực sự hỗ trợ hiệu quả cho các chủ thể
trên thị trường. Ví dụ như thuế cho hoạt động này nói riêng và cho các sản phẩm phái
sinh nói chung vẫn chưa có một quy định rõ ràng trong khi lãi suất thả nổi liên tục thay
đổi theo từng ngày. Quy định về thuế không rõ ràng dẫn đến việc kìm hãm sự phát
triển của dịch vụ này, trong khi đó trên thế giới sản phẩm phái sinh không phải đóng
thuế vì đây là công cụ phòng chống rủi ro cho doanh nghiệp.
Về mặt thị trường: Việc xây dựng lãi suất tham chiếu cho cả lãi suất ngắn hạn và
dài hạn để làm căn cứ định giá cho hợp đồng hoán đổi lãi suất là một vấn đề trở ngại

Thứ nhất, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện các quy định về giao dịch phái sinh
nói chung và giao dịch hoán đỏi lãi suất nói chung sao cho vừa phù hợp với thông lệ
quốc tế vừa phù hợp với điều kiện phát triển của thị trường Việt Nam. Các ngân hàng
thương mại có kinh doanh ngoại hối đều nên được thực hiện các nghiệp vụ phái sinh
đầy đủ, để có được một thị trường cạnh tranh bình đẳng giữa các ngân hàng, nhằm
cung cấp các sản phẩm tiện ích nhất cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp.
Thứ hai, NHNN nhanh chóng xây dựng lãi suất tham chiếu cho cả lãi suất dài hạn
và ngắn hạn để làm cơ sở xây dựng và định giá cho hợp đồng hoán đổi lãi suất. Cụ thể
là xây dựng đường cong lãi suất chuẩn và đưa vào triển khai trong thi trường tài chính
Việt Nam.
Thứ ba, Nhà nước cần phát triển sâu thị trường thị trường tài chính tiền tệ. Việc
thị trường tài chính tiền tệ phát triển sẽ tạo điều kiện phát triển những thị trường mới
có tổ chức như thị trường giao dịch tương lai…Từ đó, các ngân hàng có thể phát triển
các nghiệp vụ phái sinh đặc biệt là hợp đồng hoán đổi lãi suất , đa dạng hóa sản phẩm,
hoàn thiện hơn những biệp pháp phòng ngừa rủi ro nói chung và rủi ro lãi suất nói
riêng.
Bên cạnh đó, Nhà nước cần đưa ra một chính sách thuế rõ ràng đối với các khoản
thu lợi từ hợp đồng hoán đổi lãi suất, tránh trường hợp thuế lại là nhân tố cản trở sự
phát triển của giao dịch hoán đổi lãi suất.
3.2. Về phía tổ chức tín dụng và NHTM
Thứ nhất, tại các NHTM, các nghiệp vụ phái sinh hiện nay rất ít, chủ yếu là mua
bán kỳ hạn, quyền chọn ngoại tệ, hoán đổi lãi suất với quy mô và mức độ thực hiện
thấp. Do đó, các NHTM cần phải có một chiến lược marketing chi tiêt, lâu dài về công
cụ tài chính phái sinh này với đối tượng chính là các doanh nghiệp trong nước trước
tiên và sau đó là doanh nghiệp nước ngoài
Thứ hai, các NHTM cần hiện đại hóa đồng bộ công nghệ ngân hàng. Hợp đồng
hoán đổi lãi suất là những nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, nên đòi hỏi các ngân hàng
phải trang bị hệ thống công nghệ thông tin hiện đại, đồng bộ mới có thể thu thập, xử
lý, phân tích thông tin nhanh chóng, chính xác, hiệu quả, từ đó mới có thể hạn chế rủi
ro cho chính các ngân hàng và tư vấn được cho các khách hàng của mình đồng thời tạo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status