1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tuyến thượng thận là một tuyến nội tiết nằm ở khoang sau phúc mạc,
gồm hai tuyến nhỏ nằm ở phía trên thận, trong khoang quanh thận, và được
bọc bởi lớp xơ mỏng.Tuyến thượng thận bình thường có hình chữ V hoặc chữ
Y gồm hai phần là vỏ thượng thận và tủy thượng thận, chúng có nguồn gốc
phôi thai học và chức năng nội tiết khác nhau. Vỏ thượng thận sản xuất
cortison, aldosterone, androgen có tác dụng điều chỉnh một số chức năng,
điều hòa lượng muối và nước trong cơ thể, tủy thượng thận sản xuất
hormon catecholamine như adrenaline và noradrenaline, catecholamine đóng
một vai trò trong việc phản ứng với stress cấp tính nặng hoặc đột ngột [8, 9].
U tuyến thượng thận (UTTT) phát sinh từ phần vỏ hoặc phần tủy của
tuyến thượng thận, gồm nhiều loại tùy thuộc vào bản chất, có loại u tăng tiết các
hormon làm rối loạn các hoạt động của cơ thể nhưng cũng có loại u không tăng
tiết mà chỉ được phát hiện tình cờ. Theo David T. Arnold, UTTT chiếm tỷ lệ từ
0,4 – 4,4% trong tất cả các khối u phát hiện trên phim chụp cắt lớp vi tính [14];
trong một báo cáo khác của Georg Mansmann, tỷ lệ này là 3% ở lứa tuổi trung
niên [44]. Nghiên cứu của Hedeland và cộng sự (cs) phát hiện 8,7% các trường
hợp UTTT khi mổ tử thi [26].
Chẩn đoán UTTT dựa vào các dấu hiệu lâm sàng, sinh hóa và chẩn
đoán hình ảnh (CĐHA). Có rất nhiều phương pháp CĐHA khác nhau được sử
dụng để phát hiện, chẩn đoán UTTT như chụp bơm hơi sau phúc mạc, chụp
mạch máu, đặc biệt là siêu âm, cắt lớp vi tính (CLVT) và cộng hưởng từ
(CHT) ngày càng cung cấp những thông tin chính xác hơn về UTTT, trong đó
cắt lớp vi tính giữ vai trò nền tảng.
2
Trên thế giới, năm 1977 Behan lần đầu tiên sử dụng CLVT vào chẩn
đoán hai trường hợp u mỡ tủy bào của tuyến thượng thận, tạo ra một một
bước ngoặt quan trọng trong thăm dò các bệnh lý tuyến thượng thận [15];
CLVT có thể phát hiện những tổn thương sớm, cho biết thông tin về vị trí,
tính chất tổn thương, đánh giá và theo dõi tổn thương trước và sau điều trị [2].
tam giác, hình vệt thẳng, hoặc hình chữ V ngược hay hình chữ Y. Mỗi nhánh
có bề ngoài nhẵn với đường bờ thẳng hoặc cong lõm.
Tuyến thượng thận phải nằm trong khoang mỡ hình tháp, nằm phía sau
của tĩnh mạch chủ dưới (TMCD) ở ngang mức TMCD đi vào gan, ở giữa thùy
phải của gan và trụ bên phải của cơ hoành ngay trên cực trên của thận phải.
Tuyến thượng thận trái nằm ngay giữa và phía trước cực trên của thận
trái, phía sau của tuyến tụy và tĩnh mạch lách, ở bên trụ trái của cơ hoành, 82%
trường hợp tuyến có hình chữ Y ngược, trong các trường hợp khác tuyến có
hình tam giác [65].
4
1.1.2. Kích thước
Hình 1.2. Hình dạng bình thường của tuyến thượng thận và các kích thước
tương tứng [43]
Chiều dài, chiều rộng, độ dày của tuyến thượng thận phải, độ dày của
nhánh giữa và nhánh bên tương ứng là 34,02 ± 2,12 mm; 10,91 ± 0,89 mm;
5,82 ± 0,26 mm; 2,78 ± 0,08 mm; 2,62 ± 0,06 mm, của tuyến thượng thận trái
tương ứng là 28,31±2,46 mm; 18,40±1,06 mm; 6,84 ± 0,24 mm; 3,02 ± 0,08
mm; 2,86 ± 0,07 mm [43].
1.1.3. Tỷ trọng
Tỷ trọng tự nhiên của tổ chức thượng thận giống tỷ trọng mô mềm vào
khoảng 30±5Hu. Tỷ trọng này tăng lên sau tiêm thuốc, khoảng 60 Hu [3, 8].
1.1.4. Mạch máu thượng thận
Mạch máu thượng thận ít được mô tả trên CLVT, Matsuura và cs năm
2008 nghiên cứu về giải phẫu tĩnh mạch thượng thận phải trên MDCT đã đưa
ra tiêu chí để xác định tĩnh mạch tuyến thượng thận phải phần ngoài tuyến:
cấu trúc hình ống ngấm thuốc phát sinh từ tuyến thượng thận phải và trực tiếp
hay gián tiếp đổ vào TMCD, nó tương phản với các tổ chức mỡ xung quanh,
trong trường hợp tổ chức mỡ này ít nó có thể tương phản với tuyến thượng
thận phải và gan vì nó ngấm thuốc đậm hơn các bộ phận đó.
5
xâm nhập mạch máu ( có cơ trơn trong thành mạch), xâm nhập mạch bạch
huyết (không có cơ trơn trong thành mạch), xâm nhập vỏ. Nếu ≥3/9 tiêu chí
trên là dấu hiệu của một ung thư biểu mô vỏ thượng thận, dưới 3 tiêu chí
hướng tới u tuyến vỏ thượng thận .
Hình 2.2: (a) các tế bào u có hạt nhân lớn, nhân nổi rõ và có nhân chia. (b) có hình ảnh
vùng hoại tử [41].
1.2.3. Pheocromocytoma
7
Pheocromocytoma ác tính chỉ chiếm 10% trong tất cả pheocromocytoma,
có một số tiêu chuẩn để xác đinh một tế bào ưa crôm ác tính như: xâm nhập vỏ,
xâm nhập mạch, xâm lấn mô mỡ quanh thượng thận, u có dạng nhiều khối lớn
dính vào nhau, tăng sinh lan tỏa, hoại tử, tăng sinh tế bào…
Hình 2.3: (a) các tế bào khối u có nhiều tế bào chất ưa kiềm, (b) đặc điểm của
pheocromocytoma gồm nhiều hạt chế tiết phong phú, các hạt chứa nonepinephrine có
một vòng sáng giữa lõi dày đặc và màng tế bào [41].
1.2.4. U cận hạch ngoài thượng thận
Hình 2.4: U cận hạch sau phúc mạc, (a) nhuộm HE cho thấy tế bào ung thư với lượng
bào tương vừa phải, hạt nhân nhỏ. (b,c) nhuộm hóa mô miễn dịch dương tính với
Chromogranin và Synaptophysin. (d) các mô đệm tế bào dương tính với S100 [41].
1.2.5. Các u tuyến thượng thận khác
8
Hiếm gặp, thường gặp hơn là u mỡ tủy bào, chiếm 2,5% u tuyến
thượng thận nguyên phát.
Đại thể: u mỡ tủy bào thường mềm, màu vàng đến đỏ phụ thuộc tỷ lệ
giữa các thành phần.
Vi thể: có sự tăng sinh xen kẽ của mô mỡ trưởng thành và các thành
phần tạo máu.
Hình 2.5. U mỡ tủy bào: các tế bào mỡ trưởng thành và các tủy bào với các tế bào tạo
máu [66]
1.3. CHẨN ĐOÁN U TUYẾN THƯỢNG THẬN
trên CLVT là vùng tăng tỷ trọng, không đồng nhất, trước khi dịch hóa, tỷ trọng
sẽ cao hơn 10HU [51].
10
Hình 3.2.U tuyến vỏ thượng thận nghèo mỡ [65]
CHT: Trên T1WI, u tuyến đồng nhất, giảm hoặc đồng tín hiệu so với
gan; trên T2WI, u tuyến lành tính thường đồng hoặc hơi tăng tín hiệu so với
gan. Một số u tuyến là tăng tín hiệu đáng kể so với gan trên T2WI và trùng với
sự xuất hiện của di căn tuyến thượng thận, tổn thương ác tính và
pheochromocytoma. CHT ít có giá trị chẩn đoán u tuyến nghèo mỡ, đối với các
u tuyến giàu mỡ thì u giảm cường độ tín hiệu trên hình ảnh OP (out phase) so
với hình ảnh IP (in phase) [65].
1.3.1.2. Ung thư biểu mô vỏ thượng thận
Lâm sàng: hiếm gặp với tỷ lệ 1-2/1000000 dân, chiếm khoảng 0,05-
0,2% ung thư nói chung [8
]. Khối u này thường được xác định sớm bởi
hoạt động của tăng tiết hormon, tăng tiết gặp ở 55% trường hợp (từ 26% -
94%) biểu hiện như hội chứng Cushing, nữ hóa, nam hóa hoặc hỗn hợp hội
chứng Cushing-nam hóa; tăng huyết áp phổ biến trong tất cả các hội chứng;
ngoài ra bệnh nhân có thể bị đau, sờ thấy một khối hay phàn nàn về tiêu
hóa do khối u [52
, 61
].
Xét nghiệm sinh hóa: Tăng cortisol niệu và cortisol tự do trong 24 giờ
(62%), không đáp ứng với nghiệm pháp hãm dexamethasone. Các khối u
không tiết không có sự thay đổi về hormon.
Chẩn đoán hình ảnh:
11
gây nên và do sử dụng glucocorticoid ngoại sinh [11].
Tăng sản thượng thận gây ra 70% các trường hợp hội chứng Cushing
không phải do thầy thuốc gây nên, trong đó 90 % trường hợp do một
microadenoma tuyến yên sản xuất hormone vỏ thượng thận (ACTH) và 10%
trường hợp do u lạc chỗ tiết ACTH, thường là khối u ác tính từ phổi. U tuyến
thượng thận lành tính gây ra 20 % các trường hợp hội chứng Cushing, và ung
thư biểu mô tuyến thượng thận gây ra 10% còn lại [65].
Lâm sàng: béo ở vùng trung tâm, rạn da màu tím, teo da, dễ bị bầm tím,
nam hóa, yếu cơ gốc chi, tình trạng loãng xương không thể giải thích được và
tăng huyết áp [11].
Xét nghiệm sinh hóa:
Định lượng cortisol máu: Bình thường, cortisol máu được bài tiết theo
nhịp ngày đêm, cao nhất vào lúc 8h sáng (trung bình 275,9 - 331,1 nmol/l) giá
trị này giảm còn một nửa vào lúc 16h, thấp nhất vào lúc 23h (< 80nmol/l) [5].
Định lượng cortisol tự do trong nước tiểu 24 giờ: là xét nghiệm khởi đầu tốt
nhất để chẩn đoán hội chứng Cushing, giá trị bình thường từ 50-330 nmol/ 24 giờ.
Nồng độ ACTH huyết tương: bình thường 7,2-63,3 pg/ml giúp phân biệt
nguyên nhân phụ thuộc hay không phụ thuộc ACTH .
13
Các nghiệm pháp ức chế bằng dexamethasone dựa trên cơ sở điều hòa
chức năng của trục dưới đồi- yên- thượng thận trong chẩn đoán xác định và
chẩn đoán nguyên nhân của HC Cushing; dexamethason ức chế tuyến yên làm
giảm tiết ACTH, do đó trên người bình thường corticosteroid trong huyết
tương và nước tiểu sẽ giảm, chứng tỏ trục hạ não- tuyến yên- thượng thận hoạt
động bình thường.Trong HC Cushing, sự tiết corticosteroid không bị ức chế
như người bình thường nên liều dexamethasone không can thiệp vào các
phương pháp đo cortisol trong huyết tương và nước tiểu [5, 6, 11].
Chẩn đoán hình ảnh:
Tuyến thượng thận thường tăng kích thước đối xứng ở những bệnh
nhân bị hội chứng Cushing phụ thuộc, tuy nhiên lên đến 30% bệnh nhân sẽ có
10mm. Trên CLVT, khối có xu hướng giảm tỷ trọng (0-10HU), sau tiêm khối
ngấm thuốc mạnh (40-60HU) [60]. Độ nhạy trên phim CLVT của khối u này
vào khoảng 58 – 88% [55]. Trên phim chụp MRI, khối giảm hay đồng tín hiệu
so với nhu mô gan trên T1, đồng hay tăng nhẹ tín hiệu trên T2. Trường hợp
chẩn đoán phân biệt u TTT với tăng sản TTT phải kết hợp chụp mạch máu để
lấy máu định lượng aldosterone hoặc chụp nhấp nháy với dược chất
iodocholesterol, u TTT 88 – 94% chất gắn sẽ tập trung một bên, còn trong tăng
sản TTT, chất gắn sẽ tập trung ở cả hai bên [27].
15
1.3.2. Pheocromocytoma
Pheocromocytoma là khối u tăng bài tiết catecholamine có nguồn gốc từ
tế bào ưa chrom ở tủy thượng thận, các khối u của tế bào ưa crom xuất phát từ
các hạch giao cảm và phó giao cảm được gọi là u cận hạch. Nó xuất hiện ở mọi
lứa tuổi với tỷ lệ mắc cao nhất ở lứa tuổi 30-40; đây là khối u hiếm gặp và
chiếm khoảng < 0,2% các trường hợp THA, thường gây tăng huyết áp nặng.
Bệnh nhân có thể trải qua tam chứng kinh điển kịch phát bao gồm đau đầu
nặng, vã mồ hôi và trống ngực [11].
Yếu tố gia đình chiếm khoảng 20%, di truyền gen trội, thường nhiều tổn
thương phối hợp, pheocromocytoma có thể phối hợp với u tủy giáp trạng trong
HC MEN, phối hợp với u xơ thần kinh trong bệnh Von Recklinghausen hoặc
phối hợp trong bệnh von Hippel – Lindau [6]. Các nhà lâm sàng đã tổng kết
quy luật 10% trong chẩn đoán pheocromocytoma: 10% các trường hợp ngoài
thượng thận, 10% các trường hợp ngoài ổ bụng, 10% các trường hợp ác tính,
10% các trường hợp cả hai bên, 10% các trường hợp không có THA, 10%
các trường hợp có tính gia đình, 10% các trường hợp ở trẻ em [45].
Xét nghiệm sinh hóa: xét nghiêm được lựa chọn để chẩn đoán u tuyến
thượng thận là định lượng metanephrin trong máu, giá trị của metanephrin
trong máu < 61ng/l (0,31nmol/l) loại trừ pheocromocytoma, nếu giá trị này >
236ng/l (1,2nmol/l) chẩn đoán xác định; trường hợp metanephrin máu từ 62 –
235ng/l cần phối hợp với các xét nghiệm khác. Độ nhạy và độ đặc hiệu của xét
thuốc sau tiêm từ vừa đến mạnh [19].
Chụp nhấp nháy với meta-idobezyl guanidine iodure (iode 131 MIBG)
thăm khám rất tốt để phát hiện phéocromocytome nhất là trong trường hợp u ở
nhiều nơi phát triển ngoài thượng thận; thăm khám này có thể gặp dương tính
giả (10%) và âm tính giả (13%) [8].
1.3.3. U mỡ tủy bào (myelolipoma)
Lâm sàng: U mỡ tủy bào là u TTT lành tính chứa mỡ và tổ chức tạo
máu, u hiếm gặp, tỷ lệ khoảng 0,4 - 0,8% trong mổ xác, không có triệu chứng.
Khi có đau lưng là biểu hiện của chèn ép hoặc chảy máu trong u, đôi khi có
THA, béo phì, hội chứng Conn, hội chứng Cushing, thay đổi giới tính [55].
Hình 3.5. U mỡ tủy bào tuyến thượng thận trái [30].
Chẩn đoán hình ảnh:
Siêu âm cho phép phát hiện khối khu vực thượng thận tăng âm, đồng
đều, hoặc không đồng âm khi có tỷ lệ phần tổ chức tủy bào tăng, khối có bờ rõ.
CLVT thấy khối u vị trí thượng thận, kích thước trung bình 3-10cm, tỷ
trọng mỡ (-100 đến -30 HU), hơi tăng hơn so với tỷ trọng lớp mỡ sau phúc mạc
18
do sự có mặt của tổ chức tủy bào, giới hạn của u rõ, thường có vỏ, tổn thương >
5 cm có xu hướng xuất huyết, vôi hóa gặp trong 20% [30, 65].
CHT phát hiện tổ chức mỡ trong khối với tăng tín hiệu trên T1WI và
T2WI, ít ngấm thuốc sau tiêm gadolinium, u có tín hiệu đồng đều hoặc không
đồng đều phụ thuộc vào tỷ lệ mỡ và tủy bào trong khối [8, 65].
1.3.4. Di căn tuyến thượng thận
Di căn tuyến thượng thận chiếm 3% bệnh nhân trên khám nghiệm tử
thi, 49% di căn hai bên, di căn một bên gặp chủ yếu bên trái (tỷ lệ 1,5:1). Các
khối u nguyên phát thường gặp ở những bệnh nhân dưới 40 tuổi bao gồm u
lympho, bệnh bạch cầu, ung thư phổi và ung thư dạ dày. Bệnh nhân bị ung
thư hạch hoặc ung thư vú, đại trực tràng, dạ dày, ung thư tuyến tiền liệt có thể
biểu lộ di căn ở tuyến thượng thận lớn hơn 5 năm sau xuất hiện của khối u
nguyên phát. 90% di căn tuyến thượng thận là từ ung thư biểu mô (ung thư
trọng đặc hay hỗn hợp do cấu trúc phần đặc hay phần nang. Trái lại, u hạch
thứ phát có mật độ đồng đều, tỷ trọng đặc, ít ngấm thuốc sau tiêm, không có
vôi hóa hay mỡ.
Hình ảnh CHT của u hạch không điển hình, giảm tín hiệu trên T1WI và
tăng tín hiệu trung bình trên T2WI. Nếu có hoại tử thì khối u sẽ tăng tín
hiệu trên T2WI [55
].
1.3.6. U tuyến thượng thận phát hiện tình cờ (Adrenal Incidentaloma)
U thượng thận phát hiện tình cờ là những khối u được phát hiện tình
cờ trong khi thăm dò chụp chiếu ổ bụng, các bệnh nhân này không có biểu
hiện triệu chứng và dấu hiệu bệnh lý thượng thận. Tỷ lệ phát hiện các khối
u này ngày càng tăng do sử dụng các phương pháp chẩn đoán hình ảnh có
độ phân giải cao để đánh giá các triệu chứng không đặc hiệu phổ biến hơn.
Tỷ lệ u thượng thận phát hiện tình cờ trên CLVT trong dân số chung là 3%
và tăng dần theo tuổi.
Nhóm nghiên cứu Quốc gia Italia (NISG) khi đánh giá bằng xét nghiệm
hormon các u thượng thận phát hiện tình cờ đã nhận thấy, các u không tăng
tiết chiếm 89% (u tuyến vỏ thượng thận, u mỡ tủy bào, nang, u hạch thần kinh
và các u khác); một tỷ lệ nhỏ rối loạn bài tiết hormon trong đó hội chứng
Cushing dưới lâm sàng (6,2%), pheocromocytoma (3,4%), u tăng tiết
aldosterone (0,89%) và một u duy nhất gây nam hóa. Đáng chú y là hầu hết
các u biểu mô vỏ thượng thận là các u không tăng tiết hormon.
Khả năng ác tính của khối u thượng thận có liên quan trực tiếp với kích
cỡ khối u. CLVT hữu ích trong việc xác định khối u thượng thận là lành tính
hay ác tính. Một khối u thượng thận đồng nhất, kích thước dưới 4 cm với bờ
21
nhẵn và tỷ trọng dưới 10HU gợi ý gần như chắc chắn một tổn thương lành
tính. Tiêu chuẩn chẩn đoán không rõ với u kích thước từ 4 đến 6 cm, nhưng
nếu u không tiết hormon và biều hiện lành tính trên CLVT thì có thể theo dõi,
CĐHA, đến nay đã có khoảng 56 trường hợp được báo cáo trong y văn, lứa
tuổi hay gặp là 50 đến 70 tuổi, nữ nhiều hơn nam với tỷ lệ 2/1; u thường có
kích thước lớn hơn 10cm, ranh giơi rõ, trung tâm có thể hoại tử, chảy máu
hoặc vôi hóa; bệnh nhân thường không có triệu chứng, một số trường hợp có
triệu chứng không đặc hiệu liên quan đến áp lực do u kích thước lớn [12, 32].
Chẩn đoán hình ảnh:
U máu có hình ảnh siêu âm không đặc hiệu tăng âm, giảm âm, hay hỗn hợp
chứa dịch và tổ chức đặc.
Trên CLVT, u máu thượng thận có ranh giới rõ, giảm tỷ trọng trước tiêm, sau
tiêm u ngấm thuốc muộn từ ngoài vào trong dạng lấm chấm, không đồng đều.
Tuy nhiên theo Mohamed Abou El-Ghar và cs đánh giá đặc điểm u máu
thượng thận trên CLVT 64 dãy nhận thấy u ngấm thuốc từ trung tâm và lấp
đầy dần ở ngoại vi [12].
23
Trên CHT: chuỗi xung T1WI u máu giảm tín hiệu so với gan, mật độ không
đồng đều, có vùng tăng tín hiệu do chảy máu. Ở xung T2WI, u tăng tín hiệu
không đồng đều với trung tâm giảm tín hiệu do xơ hóa và những vách xơ hình
nan hoa. Trên xung T1 tiêm thuốc u ngấm thuốc xu hướng hướng tâm và tồn
tại đến thì muộn [32].
1.3.7.3. U tổ chức liên kết
U cơ trơn có nguồn gốc từ các sợi cơ thành tĩnh mạch thượng thận, phát hiện
tình cờ và hình ảnh không đặc hiệu.
U hạch thần kinh là khối u có nguồn gốc từ các hạch giao cảm, khoảng 10%
khu trú ở vị trí thượng thận; u thường không có biểu hiện lâm sàng, đôi khi có
đau lưng hay THA. Do sự hiêm gặp của u nên ít được mô tả về mặt CĐHA.
Tuy vậy, một số ít tác giả nhận xét vôi hóa và ngấm thuốc của loại UTTT này
trên hình ảnh CLVT tương tự như ung thư biểu mô vỏ thượng thận nhưng
không có sự xâm lấn các tổ chức lân cận hay mạch máu [8].
1.4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH U
TUYẾN THƯỢNG THẬN
u tuyến vỏ thượng thận và di căn thượng thận khoảng 96 – 100% [40].
Năm 1995, W.W. Mayo-Smith và cs dùng tỉ lệ thay đổi tín hiệu giữa
lách và thượng thận (adrenal-spleen ratio) để phân biệt u tuyến vỏ thượng
thận và di căn dựa trên cường độ tín hiệu trung bình cho thấy sự khác nhau
đáng kể giữa u tuyến vỏ thượng thận và di căn trên hình ảnh ngoài pha (out-
of-phase) 64 so với 98 với p<0,0005, nhưng không phải hình ảnh trong pha
(in-phase) 130 so với 122 với p=0,47 [49]. Cùng năm, nhóm nghiên cứu này
đã sử dụng tỷ trọng trong UTTT trên CLVT để phân biệt u tuyến vỏ thượng
25
thận và di căn thượng thận ở bệnh nhân có tiền sử ung thư và tỷ lệ tín hiệu
giữa thượng thận và lách được dùng khi tiêu chuẩn CLVT khó xác định [50].
Năm 1996, M. Korobkin và cs đánh giá tỷ trọng của UTTT trên CLVT
không tiêm thuốc cản quang để phân biệt u tuyến vỏ thượng thận và các
UTTT khác với độ nhạy cao (85%) và độ đặc hiệu (100%), nhưng không thấy
sự khác biệt giữa hai nhóm này khi đo tỷ trọng sau tiêm thuốc cản quang hay
kích thước khối u [37].
Năm 1997, J.J. Eramus và cs dung hình ảnh PET (positron emission
tomography) với bản chất đánh dấu 18F-fluorodeoxyglucose chẩn đoán phân
biệt giữa UTTT lành tính và di căn thượng thận của ung thư phế quản, tác giả
thấy phương pháp có độ nhạy là 100% và độ đặc hiệu là 80% [22].
Năm 1998, M. Korobkin và cs phân tích đường cong thời gian suy giảm
rửa trôi chụp muộn sau tiêm thuốc từ 5 phút đến 45 phút, mục đích xác định
thời gian sớm nhất sau tiêm thuốc để phân biệt u tuyến vỏ thượng thận với các
u thượng thận khác, nhận thấy trên CLVT, u tuyến vỏ thượng thận thể hiện sự
rửa trôi sớm và nhanh hơn, được phân biệt với các u tuyến thượng thận khác
bởi các giá trị suy giảm, hoặc tỷ lệ phần trăm suy giảm hoặc tỷ lệ phần trăm
rửa trôi tương đối sớm từ 5 phút đến 15 phút sau tiêm thuốc.
Năm 2000, CS. Pena và cs phân tích mức độ rửa trôi (washout) chất cản
quang ngay sau tiêm so sánh với thì chụp muộn ( khoảng 9 phút) nhằm phân
biệt UTTT lành tính và ác tính có tỷ lệ mỡ thấp (lipid-poor) [54]. Cùng năm,