Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Bất cứ một sự phát triển nào cũng đều phải có một động lực thúc đẩy. Phát triển
kinh tế - xã hội được dựa trên nhiều nguồn lực: nhân lực (nguồn lực con người), vật
lực (nguồn lực vật chất, công cụ lao động, đối tượng lao động, tài nguyên thiên nhiên,
v.v...), tài lực (nguồn lực về tài chính, tiền tệ)v.v..song chỉ có nguồn lực con người
mới tạo ra động lực cho sự phát triển, những nguồn lực khác muốn phát huy được tác
dụng chỉ có thể thông qua nguồn lực con người.
Chính vì vậy trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới đất nước theo định
hướng XHCN, Đảng và Nhà Nước ta luôn chú trọng vấn đề đào tạo nguồn nhân lực,
coi đây là một trọng tâm trong "sự nghiệp trồng người", là chìa khóa mở cánh cửa
đến tương lai phồn thịnh và hội nhập quốc tế.
Có thể thấy để hội nhập vào nền kinh tế thế giới, chúng ta không thể có sự lựa
chọn nào khác là phải coi trọng xu hướng phát triển kinh tế thị trường, biến tri thức
trở thành trí lực - động lực cho sự phát triển của đất nước. Bởi vậy, hơn bất kỳ khi
nào vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay đang là một vấn
đè cấp bách, phải thực sự đặt lên hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Trong những thập niên đầu tiên của thế kỷ mới, đào tạo nguồn nhân lực trong xu
hướng phát triển nền kinh tế thị trường phải trở thành nội dung then chốt trong chiến
lược phát triển con người ở nước ta nói chung và đặc biệt là ở các doanh nghiệp nói
riêng, vì đây là nơi thu hút khá nhiều lao động của đất nước.
Trong dòng chảy tất yếu của xã hội, bất kỳ ai nếu không chủ động học tập, đào
tạo và tự đào tạo để thích nghi tức là không đủ sinh lực tăng tốc sẽ bị gạt bỏ lại phía
sau. Đây cũng là logic đặc trưng của thế kỷ 21 - thế kỳ của kinh tế thị trường và điều
này đã được tính đến trong chiến lược đào tạo nguồn nhân lực quốc gia tại Đại hội
toàn quốc lần thứ IX.
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là đề tài rộng lớn đã và đang được nhiều
tác giả quan tâm nghiên cứu. Trong phạm vi bài viết này em chỉ tập trung vào vấn đề
công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp tư nhân ở Việt
Nam hiện nay.
1
và rất có ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế-xã hội và chính nó nói lên chất lượng
của nguồn nhân lực.
1.2. Đặc điểm:
Nguồn nhân lực của doanh nghiệp có những đặc điểm sau:
Nguồn nhân lực tạo ra sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của
doanh nghiệp. Bằng sức lao động và cùng với các hoạt động nhận thức, tình cảm, ý
trí và hành động...Các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng công cụ lao động và
các yếu tố khác để tác động vào đối tượng lao động, tạo ra các sản phẩm, hàng hóa,
dịch vụ. Điều này thể hiện sức mạnh vật chất của nguồn nhân lực. Mặt khác, doanh
nghiệp hoạt động như một cơ thể sống, "nghĩa là còn có phần hồn", phản ánh sức
sống tinh thần thông qua văn hóa doanh nghiệp, được tạo ra bởi triết lí và đạo đức
kinh doanh, truyền thống lễ nghi,và nghệ thuật ứng xử trong tập thể lao động và giữa
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
các thành viên của nó.Như vậy sức mạnh tinh thần của doanh nghiệp cũng được hình
thành từ nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực được xem xét và đánh giá trên phương diện số lượng,
chất lượng, cơ cấu và tính năng lao động, phản ánh thông qua số lượng lao động,
trình độ chuyên môn, tay nghề, kinh nghiệm, ý thức làm việc, tinh thần tự giác, kết
quả công việc, tuổi tác, giới tính, sự biến động, sự thay đổi về các phương diện trên
sao cho phù hợp với các yêu cầu hoạt động của doanh nghiệp trong mỗi thời kỳ.
Cũng như các nguồn lực khác , nguồn nhân lực trong doanh nghiệp cũng
bị hao phí và hao mòn trong quá trình khai thác và sử dụng. Sự khôi phục, củng cố
và phát triển nguồn lực này được coi là yếu tố sống còn của doanh nghiệp.
Sức mạnh vật chất và tinh thần của nguồn nhân lực có nguồn gốc từ cá
nhân (ngườc lao động). Nó phát sinh từ động cơ, động lực thúc đẩy cá nhân. Nói cách
khác, chỉ có thể phát huy và sử dụng nguồn lực này trên cơ sở khai thác động cơ cá
nhân, kết hợp các động cơ này để tạo nên động lực thúc đẩy chung cho các doanh
nghiệp.
Không giống như các nguồn lực khác, nguồn nhân lực bị chi phối bởi
còn có thể làm lãng phí, cạn kiệt, hủy hoại các nguồn lực khác
2. Nội dung của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp
2.1. Mục đích của công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
2.1.1.Khái niệm:
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là một lọai hoạt động có tổ chức, được
điều khiển trong một thời gian xác định nhằm đem đến sự thay đổi nhân cách. Theo
định nghĩa này ta có ba loại hoạt động khác nhau đó là: đào tạo, giáo dục và phát
triển.
Đào tạo: là quá trình làm cho người lao động làm cho người lao động có thể
thực hiện chức năng nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ.
Giáo dục: là quá trình học tập để chuẩn bị con người cho tương lai, có thể cho
người đó chuyển tới một công việc mới trong một thời gian thích hợp.
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phát triển: là quá trình học tập nhằm mở ra cho cá nhân những công việc mới
dựa trên định hướng tương lai của tổ chức
2.1.2. Mục đích của công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong các
doanh nghiệp:
Các doanh nghiệp tiến hành đào tạo và phát triển nguồn nhân lực vì ba lí do sau đây:
+ Lý do thứ nhất: Để chuẩn bị và bù đắp vào những chỗ bị thiếu, bị bỏ trống.
Sự bù đắp và bổ sung này diễn ra thường xuyên nhằm làm cho doanh nghiệp hoạt
động trôi chảy.
+ Lý do thứ hai: Để chuẩn bị cho những người lao động thực hiện được
những trách nhiệm và nhiệm vụ mới do có sự thay đổi trong mục tiêu; cơ cấu; những
thay đổi về luật pháp, chính sách và kĩ thuật-công nghệ mới tạo ra.
+ Lý do thứ ba: Để hoàn thiện khả năng của người lao động (thực hiện những
nhiệm vụ hiện tại cũng như trong tương lai một cách hiệu quả hơn)
Tựu chung lại việc sử dụng tối đa nguồn nhân lực là mục đích chính của phát
triển các nguồn nhân lực. Đào tạo người lao động là để chuẩn bị cho con người thực
hiện chức năng, nhiệm vụ một cách tự giác và tốt hơn và có những am hiểu hơn về
Lựa chọn các phương pháp thích hợp
Thực hiện chương trình đào tạo và phát
triển
Đánh giá chương trình đào tạo và phát
triển
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1. Xác định nhu cầu đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp
Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trước hết phải xuất phát từ nhu cầu đào
tạo và phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Nhu cầu đào tạo và phát triển
được xác định bằng cách so sánh giữa năng lực hiện tại với năng lực cần có của
người lao động. Bất kì một khoảng trống nào cũng có thể trở thnàh mục tiêu đào tạo
và phát triển. Song thực tế các kinh phí cho đào tạo và phát triển tương đối lớn, do đó
cần đào tạo một cách hợp lí, đúng mức với nhu cầu đào tạo và phát triển của doanh
nghiệp. Nếu đào tạo không hợp lí dẫn đến sự lãng phí về người và của bỏ ra. Bên
cạnh đó nếu đào tạo không đảm bảo chất lượng, không phù hợp với nhu cấu của
doanh nghiệp cũng sẽ gây nên lãng phívà tác động tiêu cực đối với người lao động,
không khuyến khích họ lao động
2. Ấn định mục tiêu cụ thể
Đây là giai đoạn rất quan trọng trong tiến trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
trong doanh nghiệp. Ấn định mục tiêu cụ thể giúp cho doanh nghiệp xác định rõ các
khóa đào tạo, kỹ năng cụ thể mà người cán bộ sẽ phải học, số người đi đào tạo, họ ở
bộ phận nào và khóa học sẽ diễn ra ở thời điểm nào...
3. Lựa chọn phương pháp thích hợp
Nhà quản lí cần phải lựa chọn các phương pháp phù hợpvới đối tượng được chọn để
đào tạo, phù hợp với kinh phí mà doanh nghiệp có, phù hợp với chương trình đào tạo,
phát triển và mục tiêu của doanh nghiệp.
4. Thực hiện chương trình đào tạo và phát triển
Nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo và phát triển, việc tổ chức thực hiện các
khóa học là hết sức cần thiết. Công tác tổ chức là sự nhóm gộp các hoạt đoongj cần
thiết đẻ đạt được mục tiêu đã đề ra, tạo điều kiện để có những mối quan hệ dọc ngang
với nhiều học viên.
(3) Hình thức sử dụng dụng cụ mô phỏng
Hình thức này chỉ áp dụng phần lớn với người công nhân. Các dụng cụ mô phỏng là
các dụng cụ thuộc mọi loại mô phỏng giống hệt như các máy móc có trong thực tế.
Dụng cụ mô phỏng có thể làm bằng giấy cho tới các dụng cụ được computer hóa do
các chuyên viên đào tạo và phát triển chuẩn bị cho học viên thực tập. Hình thức này
có ưu điểm là bớt tốn kém và học viên dễ nhận thức được công việc mà họ chuẩn bị
phải làm.
(4) Hội thảo khoa học
Đây là một hình thức đào tạo được sử dung rộng rãi, trong đó các thành viên có
chung một mục đích thảo luận và cố gắng để giải quyết vấn đề. Thông thường người
điều khiển là một cấp quản trị nào đó và người cán bộ này có nhiệm vụ giữ cho cuộc
thảo luận luôn trôi chảy và ttránh để cho một người nào đó ra ngoài đề. Khi thảo luận,
người cán bộ này lắng nghe và cho phép các thành viên phát biểu giải quyết vấn
đề.Khi họ không giải quyết được, người này sẽ đóng vai trò như người điều khiển
sinh hoạt học tập.
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
(5) Mô hình ứng xử
Hình thức này có sử dụng các băng video được soạn thảo đặc biệt để minh họa xem
các nhà quản trị xử lí thế nào trong các tình huống khác nhau và để phát triển các kĩ
năng giao tiếp. Các học viên học tập bằng cách quan sát các hoạt động của mô hình
đó. Chẳng hạn như một công nhân đòi tăng lương hoặc gặp rắc rối trong công tác
xuất nhập khẩu.Bởi vì các tình huống trên băng video là điển hình các vấn đề khó
khăn trong công ty, cho nên các thành viên có thể liên hệ ứng xử đối với các công
việc của riêng mình. Đặc tính quan trọng nhất của các nhà quả trị có thành tích cao là
họ đặt tiêu chuẩn cho chính họ và cho người khác, đây là điểm mấu chốt của mô hình
ứng xử. Mặc dù hình thức này tương đối mới nhưng hiện nay nó thể hiện một khả
năng đào tạo và phát triển rất sâu sắc.
2.2.2.2.Đào tạo ngoài doanh nghiệp:
-Các yếu tố về cơ cấu lao động xã hội thể hiện qua tuổi tác, giới tính, trình độ
dân trí, trình độ hiểu biết về chuyên môn tay nghề. Có ảnh hưởng trực tiếp đến số
lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.Hiện nay các doanh
nghiệp nước ta luôn có đầy đủ nhu cầu về số lượng cơ cấu theo tuổi tác, giới tính
người lao động. Tuy nhiên trình độ lao động còn thấp nhất là lao động đòi hỏi tay
nghề cao, số lượng người trong độ tuổi lao động tăng ngày một cao.
Các nhân tố chính trị:
-Gồm mục tiêu,đường lối chính trị và đối ngoại của Nhà Nước trong mỗi thời
kỳ nhất định. Đây là những điều kiện sức quan trọng để các doanh nghiệp phát huy
hết tiềm năng của mình trong quá trình hội nhập quốc tế. Tuy vậy đây cũng là thách
thức lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam khi phải cạnh tranh với các doanh nghiệp
nước ngoài.
-Môi trường pháp lý: Là nhân tố cần thiết làm cơ sở pháp lý cho doanh nghiệp
giải quyết tốt mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động, là tiền đề
cho các doanh nghiệp xây dựng tiêu chuẩn pháp lý khi hình thành, đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực.
Nhân tố về kinh tế:
- Có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới nguồn nhân lực của mỗi doanh
nghiệp. Hiện nay tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ta có xu hướng chậm lại làm cho
các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc thu hút, tuyển dụng, đào tạo và páht
triển nguồn nhân lực.
Nhân tố về kĩ thuật công nghệ:
-Sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật là yếu tố khách quan ảnh hưởng mạnh mẽ
đến nguồn nhân lực, cho phép các doanh nghiệp lựa chọn chính sách sử dụng nhiều
hay ít lao động, từ đó ảnh hưởng tới quy mô, chất lượng và cơ cấu lao động, ảnh
hưởng đến những đòi hỏi về mặt chất của nguồn nhân sự.
2.3.2.Các nhân tố bên trong doanh nghiệp:
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Năng lực của đội ngũ lao động: Bao gồm các yếu tố số lượng, chất lượng và
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
giải pháp cụ thể để hình thành và khai thác yếu tố này trong công tác quản trị kinh
doanh và quản trị nhân sự.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN
LỰC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN - KINH
NGHIỆM CỦA MỘT SỐ CÔNG TY
1. KHÁI QUÁT SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Trong những năm qua, nhất là từ khi có Luật Doanh Nghiệp ra đời (tháng 1
năm 2000), doanh nghiệp tư nhân đã có bước chuyển biến lớn. Số lượng doanh
nghiệp tư nhân đăng ký của cả nước tăng nhanh qua các năm: năm 1991là 132 doanh
nghiệp, năm 1999 là 42.393 doanh nghiệp, đến tháng 10 - 2001 là 66.780 doanh
nghiệp và đến cuối năm 2003 là khoảng 120.000 doanh nghiệp. Riêng số doanh
nghiệp tư nhân được thành lập mới từ sau khi có Luật Doanh Nghiệp là 46.185
doanh nghiệp với số vốn đăng ký: 54.737 tỷ đồng
Như vậy sau 4 năm từ khi luật doanh nghiệp ra đời (năm 2000 đến7-2003) tổng vốn
của các doanh nghiệp tư nhân đăng ký đạt 145.000 tỷ đồng, tức là gần bằng tổng vốn
đầu tư của doanh nghiệp Nhà Nước trong cùng thời kỳ, cao hơn vốn đầu tư nước
ngoài, cao gấp 4 lần so với tổng vốn đầu tư của doanh nghiệp tư nhân 9 năm trước
cộng lại.
Và theo số liệu của Tổng Cục Thống Kê năm 2001, kinh tế tư nhân đóng góp
42%GDP cả nước, chiếm 56,3% tổng số lao động có việc làm thường xuyên của toàn
xã hội, nộp vào Ngân Sách Nhà Nước năm 2000 là 11.000 tỷ đồng, chiếm 16,1%
tổng thu Ngân Sách, năm 2001 nộp 11.075 tỷ đồng, chiếm 14,8%, và ngoài ra còn
chiếm 30% kim nghạch xuất nhập khẩu.Bên cạnh đấy, việc kinh tế tư nhân ngaỳ càng
phát triển còn mang lại những lợi ích khác như: thúc đẩy sản xuất, làm tăng lượng
vốn huy động được trong xã hội cho đầu tư phát triển,giải quyết việc làm và góp phần
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tích cực vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hợp lý, hiệu quả, hiện đại, mở
nước, và đang trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng trong toàn bộ nền kinh tế
quốc dân, góp phần cùng các doanh nghiệp Nhà Nước và các thành phần kinh
tế khác thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nâng cao nội lực của
đất nước trong quá trình hội nhập quốc tế.
2. THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN HIỆN NAY
2.1.Nhận thức về vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong các
doanh nghiệp tư nhân hiện nay:
Phát huy lợi thế cạnh tranh trong nền kinh tế hiện nay là nhiệm vụ tối quan trọng
đối với mỗi doanh nghiệp. Các lợi thế cạnh tranh đó xuất phát từ cái gì đó mới hơn,
cải tiến hơn hay tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Các ý tưởng hay, phát kiến mới
đó lại đều xuất phát từ một nguồn, kiến thức của nhân viên. Nguồn nguyên vật liệu,
vốn hay công nghệ...là quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp, tuy nhiên nguyên vật
liệu thiếu có thể mua, vốn thiếu có thể vay và công nghệ có thể sao chép. Chỉ có
những nhân viên có kĩ năng và nhiệt huyết đối với doanh nghiệp được tổ chức tốt mới
là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp.Chính vì
vậy để phát triển tốt hơn, các doanh nghiệp cần phải chú trọng công tác đào tạo và
phát triển nguồn nhân lực.
Việc xây dựng đội ngũ nhân viên đủ mạnh về số lượng và chất lượng sẽ mang
lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, lợi ích về mặt hữu hình:công việc giải quyết nhan
hơn, ít bị ách tắc, trơn tru hơn, giảm sai sót, kết quả được cải thiện theo hướng ổn
định hơn, tốt hơn, có nhiều cải tiến trong công việc,đột phá trong công việc,nhân viên
tự tin hơn, làm việc chuyên nghiệp hơn.Còn về mặt vô hình: việc đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực sẽ làm nâng cao động lực làm việc cho nhân viên, kích thích sự
nỗ lực học tập ,làm việc và gắn bó với công ty của nhân viên,khuyến khích một môi
trường học tập trong doanh nghiệp nhằm thích ứng với xu hướng phát triển của một
nền kinh tế tri thức. Xây dựng được nét đặc trưng đầy tình nhân bản, nhân văn của
văn hóa doanh nghiệp.
15