đánh giá nhu cầu khám chữa bệnh của gia đình bệnh nhi tại khoa điều trị tự nguyện a – bệnh viện nhi trung ương năm 2014 - Pdf 23

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI


ĐỖ THANH TÙNG
ĐÁNH GIÁ NHU CẦU KHÁM CHỮA BỆNH CỦA GIA ĐÌNH
BỆNH NHI TẠI KHOA ĐIỀU TRỊ TỰ NGUYỆN A
BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG NĂM 2014
Chuyên ngành: Quản lý bệnh viện
Mã số: 60720701
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học
1. TS. Đặng Đức Nhu
2. GS.TS. Trương Việt Dũng
HÀ NỘI – 2014
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHYT Bảo hiểm y tế
BN Bệnh nhi
BV Bệnh viện
BV Nhi TW Bệnh viện Nhi Trung ương
BYT Bộ Y tế
CI Khoảng tin cậy (Confident Interval)
ĐTTNA Điều trị tự nguyện A
ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
DVCSSK Dịch vụ chăm sóc sức khoẻ
DVKCB Dịch vụ khám chữa bệnh
DVYT Dịch vụ Y tế
GĐBN Gia đình bệnh nhi
GS Giáo sư
KCB Khám chữa bệnh
KCBTN Khám chữa bệnh tự nguyện

2.4.Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 27
2.5.Biến số và chỉ số 28
2.6.Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu 29
2.7.Quy trình thu thập số liệu 30
2.8.Sai số và cách khống chế sai số 30
2.9.Quản lý, xử lý và phân tích số liệu 30
2.10.Vấn đề đạo đức nghiên cứu 31
CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN KẾT QỦA NGHIÊN CỨU 32
3.1.Đặc điểm của đối tượng nghiển cứu 32
3.2.Sự hài lòng và nhu cầu khám chữa bệnh tự nguyện của gia đình bệnh
nhi 37
3.2.2. Mức độ nhu cầu khám chữa bệnh tự nguyện của gia đình bệnh nhi 42
3.3.Mối liên quan giữa một số đặc điểm của gia đình BN đến nhu cầu khám
chữa bệnh tại Khoa ĐTTNA 47
DỰ KIẾN KẾT LUẬN 53
KẾ HOẠCH THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU 55
KẾ HOẠCH KINH PHÍ CHO NGHIÊN CỨU 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Thông tin về đối tượng nghiên cứu 32
Bảng 3.5: Lý do đối tượng nghiên cứu lựa chọn khoa ĐTTNA 37
Bảng 3.6: Sự hài lòng của đối tượng nghiên cứu về Cơ sở vật chất, trang thiết bị của
khoa ĐTTNA 37
Bảng 3.7: Sự hài lòng của đối tượng nghiên cứu về vệ sinh, an ninh của khoa ĐTTNA
37
Bảng 3.8: Sự hài lòng của đối tượng nghiên cứu về trình độ chuyên môn của nhân
viên y tế khoa ĐTTNA 38
Bảng 3.9: Sự hài lòng của đối tượng nghiên cứu về tinh thần và thái độ phục vụ của
nhân viên y tế khoa ĐTTNA 39
Bảng 3.10: Sự hài lòng của đối tượng nghiên cứu về thời gian chờ đợi khám bệnh và

như của nhân dân ngày càng cao. Đối với trẻ em có những đặc điểm sinh lý
riêng và tính chất bệnh tật cũng rất đặc biệt bởi lẽ trẻ em không phải là người
lớn thu nhỏ do vậy cần có những kế hoạch chăm sóc sức khỏe ngay từ thủa
ban đầu. Trước những tình hình đó Chính phủ đã đặt ra mục tiêu về qui
hoạch, phát triển mạng lưới KCB và tầm nhìn năm 2020: “Xây dựng và phát
triển mạng lưới khám, chữa bệnh phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế ngang tầm các nước tiên
tiến trong khu vực, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân hướng
tới mục tiêu công bằng, hiệu quả và phát triển” .
Nhưng thực tế trong những năm gần đây hiện tượng quá tải bệnh viện,
tình trạng vượt tuyến xảy ra hằng ngày, các cơ sở y tế tuyến dưới không đáp
ứng được nhu cầu của gia đình bệnh nhân. Quá tải tại các bệnh viện cũng ảnh
hưởng tới chất lượng KCB và thái độ phục vụ người bệnh. Theo số liệu thống
kê của cục quản lý KCB - BYT tính đến hết năm 2011, tình trạng quá tải các
BV tuyến TW lên đến 364% tập trung ở các chuyên khoa sâu như bệnh viện
K, bệnh viện phụ sản TW, bệnh viện nội tiết, bệnh viện nhi đồng I, nhi đồng
2
II. Tại bệnh viện Nhi Trung ương tình trạng quá tải cũng đang xẩy ra hàng
ngày với tỉ lệ quá tải lên đến 200% .
Mặc dù bệnh viện Nhi Trung ương đã có những giải pháp, những bước đi
cụ thể để cải thiện tình trạng này như triển khai một số dịch vụ khám chữa
bệnh (KCB) theo yêu cầu ở các khoa khám bệnh A, B, C, tuy nhiên tình trạng
quá tải vẫn chưa được cải thiện nhiều, đặc biệt là ở khoa điều trị tự nguyện A
với sự đầu tư về cơ sở hạ tầng cũng như trang thiết bị hiện đại nhưng vẫn
không đáp ứng hết nhu cầu của gia đình bệnh nhi (GĐBN) khi mà tình trạng
chờ đợi để được khám và xét nghiệm vẫn còn lâu, diễn ra thường xuyên.
Nhằm tham mưu cho Ban lãnh đạo và quản lý của bệnh viện Nhi Trung
ương trong việc lập kế hoạch và triển khai cung cấp các loại hình dịch vụ để
giảm tình trạng quá tải cũng như đáp ứng tốt hơn nhu cầu khám và điều trị
của GĐBN, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Đánh giá nhu cầu khám chữa

chủ yếu dẫn đến tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi là do viêm phổi, tiêu chảy, sốt rét
và các bệnh lý chu sinh. 1/3 số tử vong ở trẻ có liên quan đến vấn đề dinh
4
dưỡng. Tỷ lệ tử vong của trẻ ở các nước có thu nhập thấp cao gấp 18 lần ở các
nước có mức thu nhập cao [32].
Theo đánh giá của UNICEF 2011 hàng năm ở Việt Nam có tới 31.000
trẻ em dưới 5 tuổi tử vong, trong đó ước tính khoảng 16.000 là trẻ sơ sinh.
Các nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em Việt Nam là bệnh lý chu sinh và
thai nhi, tai nạn, ngộ độc, các bệnh tim mạch, bệnh về hô hấp, tiêu hóa, ung
thư. Mô hình bệnh tật ở nước ta chủ yếu là mô hình bệnh tật của các nước
đang phát triển, đúng đầu là các bệnh nhiễm khuẩn và suy dinh dưỡng. Song
hiện nay do sự phát triển kinh tế xã hội, quá trình đô thị hóa tăng nhanh các
bệnh nhiễm khuẩn có xu hướng giảm đi, một số tai nạn thương tích, bệnh
trầm cảm, tim mạch, ung thư, dị ứng và dị tật bẩm sinh có chiều hướng tăng
cao ở trẻ [30],[31]. Chính vì vậy nhu cầu KCB của gia đình bệnh nhi cũng
ngày một tăng cao.
1.2. Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến dịch vụ KCB.
Trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều tài liệu pháp lý được ban
hành nhằm củng cố việc cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh.
Luật Khám bệnh, chữa bệnh (Luật số 40/2009/QH12) đã được Quốc hội
khoá XII, kỳ họp thứ VI thông qua ngày 23 tháng 11 năm 2009. Luật
ngày gồm 9 chương và 91 điều. Đây là đạo luật đầu tiên về khám bệnh, chữa
bệnh bảo đảm, bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người bệnh, nâng cao
chất lượng khám bệnh, chữa bệnh, giảm phiền hà cho người bệnh, xác định
nền tảng cho sự phát triển y học thực chứng vì quyền lợi của người bệnh, và
là cơ sở pháp lý điều chỉnh mối quan hệ giữa người bệnh với người hành nghề
và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Luật thể chế hoá quan điểm của Đảng và Nhà
nước về Khám bệnh, chữa bệnh, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt
động khám bệnh, chữa bệnh trong giai đoạn đổi mới hệ thống y tế hiện nay,
5

1.3.1. Một số mô hình KCB theo yêu cầu
Khoa khám bệnh theo yêu cầu BV Bạch Mai, bệnh nhân đăng ký KCB
bằng thẻ BN với giá một thẻ là 30.000 đồng, hẹn giờ khám, BN và GĐBN có
quyền lựa chọn BS hay Giáo sư khám cho mình mà không cần phải xếp hàng
chờ đợi lâu.Quản lý bệnh án điện tử minh bạch, mọi thắc mắc đều được đáp
ứng và giải thích nhanh chính xác. Giá mỗi lần khám bác sỹ BN phải chi trả
50.000 đồng và GS khám là 100.000 đồng. Khoa khám chữa bệnh theo yêu
cầu có đủ khả năng cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh với chất lượng cao,
chăm sóc toàn diện .
Trong kỳ họp thứ IV đại hội XIV của Ủy ban nhân dân - Hội đồng nhân
dân thành phố Hà Nội ra nghị quyết 06/2012/NQ-HĐND về việc thông qua
Quy hoạch phát triển hệ thống y tế thành phố Hà Nội đến năm 2020, định
hướng đến năm 2030. Mục tiêu chung phát triển đồng bộ hệ thống y tế vừa
phổ cập, vừa chuyên sâu nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe
của nhân dân. Củng cố, nâng cấp mạng lưới y tế cơ sở đảm bảo phục vụ mọi
nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân thuận tiện, nhanh chóng với chất
lượng dịch vụ tốt. Phát triển các trung tâm y tế chuyên sâu, xây dựng các tổ
hợp công trình y tế chất lượng tầm cỡ quốc tế, xây dựng đội ngũ nhân lực y tế
Thủ đô Hà Nội đủ về số lượng, có phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn,
phấn đấu để mọi người dân được hưởng các dịch vụ y tế có chất lượng cao,
giảm tỷ lệ mắc bệnh tật và tử vong, nâng cao sức khoẻ, tăng tuổi thọ cải thiện
chất lượng giống nòi, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, chất lượng
nguồn nhân lực .
Khoa KCB theo hẹn BV Nhi đồng 1 Thành phố Hồ Chí Minh: “Hình
thức KCB theo hẹn qua điện thoại nhằm đáp ứng nhu cầu của những phụ
7
huynh không có thời gian, nhà ở xa muốn có cuộc hẹn ngày giờ khám cụ thể
trước khi đưa trẻ đến BV tránh phải chờ đợi lâu, đỡ tốn thời gian gây mệt mỏi
cho trẻ và gia đình người bệnh” trung bình một ngày có hơn 400 lượt gia đình
bệnh nhi yêu cầu.

vốn từ cán bộ bệnh viện .
* Nhân lực: Phần lớn nhân viên tham gia vào hoạt động KCB ngoài giờ
chính là các bác sỹ, điều dưỡng và y công trong biên chế hay hợp đồng dài
hạn của bệnh viện. Rất ít bệnh viện sử dụng cán bộ của mình đã về hưu hoặc
ký hợp đồng ngắn hạn với các nhân viên để chỉ hoạt động cho khu vực “dịch
vụ” .
* Thu và chi của KCB “dịch vụ”: Có ba cách để tính toán mức thu phí
dịch vụ: (+) hoàn toàn theo quy định của Sở, (+) bệnh viện tự tính toán nhưng
vẫn theo khung quy định của Sở, (+) bệnh viện tự tính dựa trên các khoản chi
thực tế. Qua khảo sát thấy rằng phần lớn các bệnh viện sử dụng cách thứ hai.
Về cơ cấu chi phí, các loại chi phí được xem xét đến khi tính toán mức thu là:
vật tư tiêu hao, lao động, điện nước, quản lý, khấu hao máy móc và khấu hao
cơ sở vật chất. Tỷ lệ chi phí trung bình (%) của từng loại chi phí như sau: chi
phí cho nhân công lao động chiếm đáng kể, khoảng 48%, tiếp đến là vật tư
tiêu hao và khấu hao trang thiết bị (khoảng 9%), quản lý (khoảng 7%), khấu
hao cơ sở vật chất và điện nước (4,6% và 3,9%). Về phân bổ khoản thu, lao
động trực tiếp chiếm tỷ lệ trung bình lớn nhất (khoảng 52,7%), lao động gián
tiếp là 7,6%, còn lại là nộp ngân sách và quỹ phúc lợi (chiếm lần lượt là
17,3% và 25,7%) . Nguồn thu từ khám và điều trị dịch vụ tại bệnh viện được
thực hiện theo đúng các văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-
9
CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ như nộp thuế theo quy định tại các Thông
tư số 129/2008/TT-BTC, Thông tư số 130/2008/TT-BTC và Thông tư
18/2011/TT-BTC. Chênh lệch thu chi từ nguồn thu dịch vụ được hạch toán theo
đúng quy định tại Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ và
Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 09/08/2006 của Bộ Tài chính.
* Kiểm soát chất lượng chuyên môn: Phần lớn các cơ sở y tế áp dụng các
biện pháp quản lý chuyên môn của công tác KCB trong giờ (theo quy định
của Bộ Y tế) cho công tác KCB ngoài giờ .
1.4. Tình hình một số nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam.

về sự ảnh hưởng của tình trạng sức khỏe đối với sự hài lòng của người bệnh
khi sử dụng dịch vụ ngoài giờ được bác sỹ gia đình cung cấp ở Cộng hòa
Ireland cho thấy người bệnh có tình trạng sức khỏe yếu hơn có mức độ hài
lòng cao hơn với dịch vụ này. Đồng thời họ cũng khuyến nghị đây là một
trong các chỉ số để triển khai dịch vụ ngoài giờ .
Eric và cộng sự (2007) tiến hành nghiên cứu về nhu cầu khám, chăm sóc
và điều trị ngoài giờ trong dịch vụ khám bệnh và cấp cứu ở Hà Lan thấy rằng
bác sỹ tiếp nhận 88% thăm khám ngoài giờ, trong khi đó bộ phận cấp cứu chỉ
phải tiếp nhận 12% các dịch vụ này. Phần lớn các nhu cầu khám ngoài giờ
của các đối tượng nam giới trưởng thành là các chấn thương, trong đó có 19%
là các chấn thương gẫy xương .
Nghiên cứu về nhu cầu sử dụng DVKCB liên quan tới tình trạng kinh tế
cũng được nhiều tác giả đề cập đến. Năm 2009, Kristianson và cộng sự đã
tiến hành nghiên cứu tại khu vực Amazon của Peru với mục đích điều tra nhu
11
cầu sử dụng DVCSSK và sử dụng thuốc có liên quan đến tình trạng kinh tế
hộ gia đình tại 2 cộng đồng vùng Amazon của Peru. Thiết kế nghiên cứu cắt
ngang, phỏng vấn 780 người trực tiếp nuôi trẻ trong độ tuổi từ 06 đến 72
tháng tại Yurimaguas và 793 người nuôi dưỡng trẻ có cùng độ tuổi tại
Moyobam. Đối tượng nghiên cứu được phỏng vấn về hành vi tìm kiếm các
dịch vụ chăm sóc sức khỏe (DVCSSK), DVKCB (kể cả các cơ sở y tế công
lập và tư nhân) và hành vi sử dụng thuốc cho con họ liên quan đến tình trạng
bệnh tật, tình trạng kinh tế gia đình và xã hội. Kết quả là: tầng lớp nghèo nhất
(16%) ít sử dụng thuốc kháng sinh cho con khi con họ cảm lạnh so với người
nghèo (31%). Đối với viêm phổi và lỵ, ỉa chảy tỷ lệ này là (16%) so với
(80%). Qua đó nghiên cứu đã đưa ra kết luận: những gia đình nghèo nhất ít
tìm đến các DVKCB cũng như sử dụng thuốc cho trẻ cả bệnh nhẹ cũng như
bệnh nặng chứng tỏ rằng điều kiện về kinh tế đóng vai trò quan trọng trong
việc lựa chọn và ảnh hưởng đến nhu cầu KCB cho trẻ .
1.4.2. Ở Việt Nam.

nước đang phát triển mà ở cả các nước phát triển. Ở Việt Nam, tình trạng quá
tải bệnh viện bắt đầu xuất hiện trong vài năm trở lại đây và chủ yếu quá tải ở
các bệnh viện đầu ngành, tuyến Trung ương. Đã có rất nhiều nghiên cứu về
vấn đề này để tìm các giải pháp giảm tải bệnh viện.
Theo báo cáo của Bộ Y tế, trên toàn hệ thống KCB, mặc dù có xu hướng
công suất sử dụng giường bệnh giảm nhẹ từ 118% năm 2008 xuống 111%
năm 2010 nhưng tình trạng quá tải lại xuất hiện trầm trọng hơn ở tuyến Trung
13
ương với công suất sử dụng giường bệnh chung ở tuyến Trung ương là 116%
năm 2009, 120% năm 2010 và 118% năm 2011. Đặc biệt là tình trạng quá tải
ở các bệnh viện: Bệnh viện K: 172%; Bệnh viện Bạch Mai: 168%; Bệnh viện
Chợ Rẫy 139%; Bệnh viện đa khoa Trung ương Quảng Nam 114%; Bệnh
viện Nhi Trung ương: 119%; Bệnh viện Bệnh nhiệt đới 124% .
Nghiên cứu mới đây của Lê Quang Cường và cộng sự cho thấy một số
nguyên nhân gây quá tải bệnh viện làm tăng nhu cầu KCB của người dân:
- Nhu cầu KCB của người dân ngày càng tăng trong khi chỉ tiêu giường
bệnh thấp và tăng không tương xứng với nhu cầu KCB.
- Chất lượng KCB tại tuyến dưới không đảm bảo dẫn tới mất lòng tin của
bệnh nhi và sự thiếu tuân thủ quy định chuyển tuyến, chuyển tuyến ngược:
80% bệnh nhân đến KCB tại tuyến trung ương là do họ tin tưởng vào dịch
vụ ở tuyến trung ương, tỉ lệ bệnh nhi vượt tuyến ở BV tuyến trung ương là
75%; 90% bệnh nhi KCB ở khoa khám bệnh BV Nhi trung ương có thể KCB
tại tuyến dưới; 56% bệnh nhi nội trú ở BV phụ sản là đẻ thường hoặc viêm
nhiễm nội khoa có thể chữa tại tuyến dưới, thậm chí tại trạm y tế xã, 58%
bệnh nhi ở BV tuyến tỉnh và 20,7% bệnh nhi ở BV huyện có thể xử lý tại cơ
sở y tế tuyến dưới .
- Tự chủ tài chính và xã hội hóa dẫn tới các BV tăng cường các hoạt
động liên doanh liên kết trong đầu tư cung ứng dịch vụ (chủ yếu là trang thiết
bị y tế kỹ thuật cao) làm tăng tính đa dạng trong cung ứng dịch vụ để hấp dẫn
bệnh nhân.

Nguồn sức khỏe đời sống viết: không có sự phân công riêng biệt cho
các Giáo sư, bác sỹ giỏi ở khoa KCBTN, việc KCBTN đều được thực hiện
theo đúng qui trình chuyên môn của BYT. Những ca bệnh khó đều phải hội
chẩn với sự tham gia của các Giáo sư, Bác sỹ giỏi, không có phân biệt giàu
nghèo, có BHYT hay không. Bằng chứng là tại các BV thì BN nghèo, có
BHYT vẫn được hưởng y tế kỹ thuật cao với mức giá viện phí bằng với mức
giá qui định tại thông tư 14 và thông tư 03. Không có sự khác nhau về chất
lượng chuyên môn KCB giữa các đối tượng khám thông thường và KCBTN.
Giữ được sự công bằng, minh bạch trong công tác KCB, việc lựa chọn các
Giáo sư, Bác sỹ giỏi khám có mức phí cao hơn do chất lượng khám tốt hơn là
yêu cầu tự nguyện của BN và GĐBN .
Nghiên cứu của Nguyễn Minh Tuấn, Hoàng Khải Lập (2002) tại một số
bệnh viện thuộc tỉnh Lào Cai cho thấy không có sự khác nhau về thái độ phục
vụ và chăm sóc sức khỏe giữa người có thẻ BHYT và người phải trả viện phí.
BN có BHYT vẫn mua thuốc bên ngoài (47%) và 50,8% số BN không từng
dùng thẻ BHYT để KCB .
1.4.2.4.Những nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến nhu cầu
khám chữa bệnh tự nguyện.
Trong điều tra Y tế Quốc gia năm 2001-2002 cho thấy trẻ em dưới 5
tuổi là nhóm có tỷ lệ ốm cao, đây cũng là đối tượng được quan tâm nhất trong
sử dụng các dịch vụ CSSK, 59% là trẻ có độ tuổi từ 0 đến 5 tuổi. Nhà nước
mặc dù có chính sách cấp thẻ BHYT miễn phí dưới 6 tuổi tuy nhiên việc lựa
chọn và nhu cầu KCB lại phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng dịch vụ Y tế, tình
trạng bệnh của trẻ, điều kiện kinh tế gia đình, trình độ chuyên môn của cán bộ
Y tế và nhu cầu cần thiết của gia đình bệnh nhi .
16
Nguyễn Thị Kim Dung (2012) nghiên cứu về thực trạng và một số yếu
tố liên quan đến sử dụng DVKCB dưới 5 tuổi của người dân xã Sơn Đồng
huyện Hoài Đức-Hà Nội cho thấy kinh tế gia đình và khả năng sẵn sàng chi trả
cho DVKCB khi con ốm là rất cao: trong số 385 người có con ốm được phỏng

- Viện bảo vệ sức khỏe trẻ em.
- BV Nhi Việt Nam - Thụy Điển.
- Viện Nhi Olof Panmer.
Tháng 6 năm 2003 đến nay viện chính thức có tên gọi là:
- Bệnh viện Nhi Trung ương (National hospital of pediatric).
- Địa chỉ: 18/879 La Thành - Đống Đa - thành phố Hà Nội.
Loại hình: Bệnh viện công.
Phân hạng: Bệnh viện lọai I.
Tổng số cán bộ công chức: 1800
Bệnh viện có 38 khoa trong đó 10 khoa cận lâm sàng, 28 khoa lâm sàng
gồm nhiều chuyên khoa sâu. Ngoài ra có các phòng ban tham mưu.
Hơn 40 năm hoạt động với tư cách là BV đầu ngành Nhi khoa của cả
nước. Với đội ngũ các giáo sư, bác sỹ Nhi khoa giỏi, chuyên sâu, các điều
dưỡng viên và nhân viên y tế được đào tạo chính qui, tận tâm với bệnh Nhi,
biết thông cảm với gia đình BN.
• Bệnh viện đã mổ thành công 5 cặp song sinh dính nhau.
• Là Bệnh viện Nhi đầu tiên ở Việt Nam tiến hành ghép thận (năm 2004) và
đến nay đã ghép thành công cho 11 cháu.
18
• Đã tiến hành ghép tủy xương đầu tiên năm 2007, đến nay đã ghép thành
công 4 trường hợp.
• Là bệnh viện Nhi đầu tiên phẫu thuật tim hở (2003) và can thiệp tim mạch
(2004). Đến nay, có hàng trăm cháu đã được mổ tim hở thành công; hơn 1000 cháu
được tiến hành can thiệp tim mạch có kết quả tốt.
• Là bệnh viện Nhi đầu tiên ở Việt Nam thực hiện thành công phẫu thuật cong
vẹo cột sống bẩm sinh .
• Là đơn vị đầu tiên thực hiện phẫu thuật nội soi trẻ em và hiện nay là trung
tâm phẫu thuật nội soi Nhi khoa, có trình độ tương đương với nhiều trung tâm trên
thế giới.
• Là cơ sở đào tạo phẫu thuật nội soi cho các bác sĩ phẫu thuật Nhi khoa trong

• Giải nhất giải thưởng Vifotec ( 1999).
• Cờ thi đua của Chính phủ, đơn vị đầu ngành Y tế (2002, 2003).
• Huân chương Độc lập hạng III (2009).
20
• Nhiều khoa, phòng được tặng thưởng huân chương, bằng khen của Chính
Phủ và Bộ Y tế.
• Nhiều cá nhân được Nhà nước tặng huân chương, chiến sĩ thi đua toàn quốc,
giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng Nhà nước, danh hiệu thầy thuốc nhân dân,
thầy thuốc ưu tú.
Năm 2005 Bệnh viện Nhi Trung ương được Nhà nước phong tặng danh hiệu
Anh hùng thời kỳ đổi mới (2005) .
1.5.2. Nhiệm vụ cụ thể và tầm nhìn 2020 của Bệnh viện Nhi Trung ương
1.5.2.1. Nhiệm vụ cụ thể:
+ Duy trì và phát triển các kỹ thuật mũi nhọn của bệnh viện, mở rộng qui
mô, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh. Chuyên nghiệp hóa các dịch vụ
trong bệnh viện, chú trọng công tác phòng bệnh, giải quyết các vấn đề bệnh lý
sớm tại cộng đồng.
+ Thúc đẩy nghiên cứu khoa học, tập trung giải quyết các vấn đề cấp
bách trong công tác chăm sóc sức khỏe, đồng thời hướng tới hội nhập quốc tế
và phát triển.
+ Chủ động và phối hợp với các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước, để
từng bước giải quyết tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực cho ngành Nhi, tiến
tới ngày một nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho bệnh viện và toàn hệ
thống y tế.
+ Tăng cường nâng cao công tác chỉ đạo tuyến, hỗ trợ chuyên môn kỹ
thuật có trọng tâm, trọng điểm theo đúng nhu cầu cấp thiết của địa phương
(tuyến dưới).
+ Tranh thủ và mở rộng các nguồn lực hợp tác quốc tế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status