B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
===========
HONG HU TON
Khảo sát nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngoài giờ
và tại nhà của ngời đến khám, điều trị bệnh
tại Bệnh viện Phổi Trung ơng năm 2014
Chuyờn ngnh: Qun lý Bnh vin
Mó s: 60720701
CNG LUN VN THC S Y HC
Ngi hng dn khoa hc:
H NI 2014
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
DỰ KIẾN KẾT QUẢ 27
DỰ KIẾN BÀN LUẬN 46
DỰ KIẾN KẾT LUẬN 49
DỰ KIẾN KIẾN NGHỊ 49
KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU 50
DỰ KIẾN KINH PHÍ 50
DỰ KIẾN KINH PHÍ 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tỷ lệ người đến khám, điều trị có nhu cầu về dịch vụ CSSK ngoài giờ
và tại nhà qua điều tra thử 20
Bảng 2.2. Cỡ mẫu cho từng đối tượng nghiên cứu sau khi thay vào công thức
20
Bảng 3.1: Đặc điểm đối tượng tham gia nghiên cứu theo giới 27
37
Biểu đồ 3.12: Tỷ lệ người sử dụng dịch vụ của bệnh viện cho rằng bệnh viện
nên cung cấp các dịch vụ CSSK ngoài giờ và tại nhà 37
Bảng 3.11: Điểm mức độ nhu cầu của người đến khám bệnh về dịch vụ CSSK
ngoài giờ và tại nhà 38
Nhận xét: 38
38
Biểu đồ 3.13: Phân bố nhu cầu về dịch vụ CSSK ngoài giờ và tại nhà của người
đến khám bệnh 38
Nhận xét: 38
Bảng 3.12: Điểm mức độ nhu cầu của người bệnh nội trú về dịch vụ CSSK
ngoài giờ và tại nhà 38
Nhận xét: 39
Biểu đồ 3.14: Phân bố nhu cầu về dịch vụ CSSK ngoài giờ và tại nhà của bệnh
nhân nội trú 39
Biểu đồ 3.15: Tỷ lệ khách hàng có nhu cầu các dịch vụ CSSK ngoài giờ và tại
nhà 40
Bảng 3.13: Tỷ lệ % đối tượng có nhu cầu về dịch vụ CSSK tại nhà 40
Bảng 3.14: Điểm mức độ khả năng chi trả của người đến khám bệnh về dịch vụ
CSSK ngoài giờ và tại nhà 40
Biểu đồ 3.16: Phân bố khả năng chi trả các dịch vụ CSSK ngoài giờ và tại nhà
của người đến khám bệnh tại bệnh viện 41
Bảng 3.15: Điểm mức độ khả năng chi trả của bệnh nhân nội trú về dịch vụ
CSSK ngoài giờ và tại nhà 42
Biểu đồ 3.17: Phân bố khả năng chi trả các dịch vụ CSSK ngoài giờ và tại nhà
của bệnh nhân nội trú tại bệnh viện 42
Biểu đồ 3.18: Tỷ lệ khách hàng có khả năng chi trả các dịch vụ CSSK ngoài giờ
và tại nhà 43
Bảng 3.16: Mối liên quan giữa một số đặc điểm của đối tượng với nhu cầu về
dịch vụ khám ngoài giờ ngày thường 43
viện 34
Biểu đồ 3.9: Tỷ lệ % đối tượng sẽ quay trở lại sử dụng dịch vụ 35
Nhận xét: 35
Bảng 3.9: Điểm mức độ ưu tiên triển khai các dịch vụ CSSK ngoài giờ và tại
nhà của người đến khám bệnh 35
Biểu đồ 3.10: Phân bố mức độ ưu tiên của người đến khám bệnh cho rằng bệnh
viện nên cung cấp dịch vụ CSSK ngoài giờ và tại nhà 36
Bảng 3.10: Điểm mức độ ưu tiên triển khai các dịch vụ CSSK ngoài giờ và tại
nhà của bệnh nhân nội trú 36
Biểu đồ 3.11: Phân bố mức độ ưu tiên của bệnh nhân nội trú cho rằng bệnh
viện nên cung cấp dịch vụ CSSK ngoài giờ và tại nhà 37
37
Biểu đồ 3.12: Tỷ lệ người sử dụng dịch vụ của bệnh viện cho rằng bệnh viện
nên cung cấp các dịch vụ CSSK ngoài giờ và tại nhà 37
Bảng 3.11: Điểm mức độ nhu cầu của người đến khám bệnh về dịch vụ CSSK
ngoài giờ và tại nhà 38
Nhận xét: 38
38
Biểu đồ 3.13: Phân bố nhu cầu về dịch vụ CSSK ngoài giờ và tại nhà của người
đến khám bệnh 38
Nhận xét: 38
Bảng 3.12: Điểm mức độ nhu cầu của người bệnh nội trú về dịch vụ CSSK
ngoài giờ và tại nhà 38
Nhận xét: 39
Biểu đồ 3.14: Phân bố nhu cầu về dịch vụ CSSK ngoài giờ và tại nhà của bệnh
nhân nội trú 39
Biểu đồ 3.15: Tỷ lệ khách hàng có nhu cầu các dịch vụ CSSK ngoài giờ và tại
nhà 40
Bảng 3.13: Tỷ lệ % đối tượng có nhu cầu về dịch vụ CSSK tại nhà 40
Bảng 3.14: Điểm mức độ khả năng chi trả của người đến khám bệnh về dịch vụ
đối với nhiều bệnh viện, đặc biệt ở tuyến trung ương đã gây ảnh hưởng rất lớn tới
chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của nhân dân. Theo báo cáo đánh
giá tình trạng quá tải của một số bệnh viện tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
(2008) do Viện Chiến lược và Chính sách Y tế thực hiện, tất cả các bệnh viện được
điều tra đều hoạt động vượt công suất thiết kế: Công suất sử dụng giường bệnh luôn
từ 165% đến 200%; Số giường bệnh thực kê vượt so với số giường chỉ tiêu đến
200%. Tình trạng quá tải xảy ra ở cả khu vực điều trị nội trú và khám ngoại trú. Báo
cáo đã kiến nghị một số giải pháp lâu dài để kiểm soát tình trạng này, trong đó có
giải pháp đa dạng hóa các loại hình dịch vụ y tế bệnh viện như chăm sóc y tế tại gia
đình, phát triển mô hình bác sĩ gia đình, mô hình bệnh viện ban ngày .
Tình trạng quá tải trong hoạt động khám, chữa bệnh cũng đã và đang diễn ra
hàng ngày tại Bệnh viện Phổi Trung ương, đặc biệt thời điểm vào buổi sáng (trước
9h30). Thời gian người bệnh, người nhà người bệnh chờ đợi đến lượt được thanh
toán và nộp tiền viện phí là dài nhất, diễn ra thường kỳ nhất vào các ngày thứ hai,
thứ sáu trong tuần. Thời gian chờ đợi được khám xác định lâu nhất là khu vực siêu
2
âm, chụp X quang, khu vực khoa khám bệnh . Tình trạng quá tải cũng thường
xuyên xảy ra tại khu vực điều trị như: Khoa Lao, Bệnh Màng phổi, khoa Ung bướu
với tỉ lệ quá tải từ 130 – 150%. Mặc dù bệnh viện đã có những giải pháp, những
bước đi cụ thể để cải thiện tình trạng này: Từ năm 2011 đến nay tổ chức mở phòng
khám bệnh, kê đơn, chữa bệnh theo yêu cầu, chất lượng cao vào thứ bảy và chủ nhật
tuy nhiên vấn đề quá tải vẫn chưa được cải thiện nhiều.
Nhằm tham mưu cho Ban lãnh đạo và quản lý của bệnh viện Phổi Trung ương
trong việc lập kế hoạch và triển khai cung cấp các loại hình dịch vụ để giảm tình
trạng quá tải cũng như đáp ứng tốt hơn nhu cầu khám và điều trị của người bệnh,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Khảo sát nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngoài giờ
và tại nhà của người đến khám, điều trị bệnh tại Bệnh viện Phổi Trung ương
năm 2014” với hai mục tiêu sau:
1. Xác định nhu cầu về dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ngoài giờ và tại nhà của
người đến khám, điều trị bệnh tại Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2014.
Tuy nhiên đây cũng chính là yêu cầu KCB của cộng đồng cần được các cơ sở
y tế đáp ứng. Dù vậy chưa phản ánh toàn bộ gánh nặng bệnh tật cũng như nhu cầu
KCB của cộng đồng, nguồn số liệu từ báo cáo y tế địa phương và BV hoàn toàn có
thể sử dụng làm các chỉ điểm (index) về nhu cầu khám chữa bệnh của cộng đồng .
1.2. Một số nghiên cứu về nhu cầu dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân
trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Một số nghiên cứu Trên thế giới
Shipman C. & Dale J. (1996) nghiên cứu về sự đánh giá của bác sỹ đối với
nhu cầu khám chữa bệnh ngoài giờ theo các nhu cầu về thể chất, tâm sinh lý
(psychological/emotional) và xã hội ở một vùng của Vương quốc Anh. 66% các
yêu cầu khám bệnh ngoài giờ có liên quan đến các yêu cầu về thể chất, tâm sinh lý
(psychological/emotional) và xã hội và 10.7% các trường hợp là không xác định
được mối liên quan .
Theo nghiên cứu khám của Klimm H.D. (1997) cho thấy phần lớn các hoạt
động bác sỹ đa khoa hiện đại là ở các lĩnh vực sức khỏe gia đình và cộng đồng. Đa
số các bệnh nhân tiếp tục coi bác sỹ đa khoa của họ là bác sỹ gia đình, là nơi chăm
sóc sức khỏe đáng tin cậy và là người tư vấn sức khỏe cho toàn gia đình .
Glynna L.G, Byrnea M, Newellb J và Murphya A.W (2004) nghiên cứu về sự
ảnh hưởng của tình trạng sức khỏe đối với sự hài lòng của người bệnh khi sử
dụng dịch vụ ngoài giờ được bác sỹ gia đình cung cấp ở Cộng hòa Ireland cho
thấy người bệnh có tình trạng sức khỏe yếu hơn có mức độ hài lòng cao hơn với
dịch vụ này. Đồng thời họ cũng khuyến nghị đây là một trong các chỉ số để triển
khai dịch vụ ngoài giờ .
Eric và cộng sự (2007) tiến hành nghiên cứu về nhu cầu khám, chăm sóc và
điều trị ngoài giờ trong dịch vụ khám bệnh và cấp cứu ở Hà Lan thấy rằng bác sỹ
tiếp nhận 88% thăm khám ngoài giờ, trong khi đó bộ phận cấp cứu chỉ phải tiếp
nhận 12% các dịch vụ này. Phần lớn các nhu cầu khám ngoài giờ của các đối
5
tượng nam giới trưởng thành là các chấn thương, trong đó có 19% là các chấn
thương gẫy xương .
có nhu cầu chăm sóc nhưng sự đáp ứng các dịch vụ y tế còn chưa đầy đủ .
Trần Thanh Long (2010) cũng tiến hành nghiên cứu khảo sát nhu cầu dịch vụ
chăm sóc sức khỏe ngoài giờ và tại nhà của người sử dụng dịch vụ tại Bệnh viện
Đại học Y Hà Nội năm 2010 và kết quả cho thấy rằng hầu hết các đối tượng đến
khám bệnh đều có nhu cầu với các dịch vụ khám buổi chiều ngày thường, khám
ngoài giờ ngày thường, khám ngày thứ 7 và chủ nhật và khám tại nhà với tỉ lệ lần
lượt là 55,3%, 62,5%, 64,3% và 64,3%. Ngoài ra khi bệnh viện dự tính mở thêm
dịch vụ đăng ký khám qua internet và đăng ký khám qua điện thoại thì có tới 37,4%
và 49,6% tỉ lệ bệnh nhân nội trú có nhu cầu đối với hai dịch vụ này. Nghiên cứu này
cũng đã đưa ra được rằng hầu hết người sử dụng dịch vụ đều có KNCT các dịch vụ
y tế CSSK ngoài giờ và tại nhà, đặc biệt là khám ngoài giờ ngày thường. Đối với
dịch vụ khám ngoài giờ ngày thường, tỷ lệ người sử dụng có nhu cầu về dịch vụ này
đều đạt trên 70% .
Bùi Thùy Dương (2010) đã tiến hành nghiên cứu tìm hiểu nhu cầu chăm sóc
sức khỏe ngoài giờ và tại nhà của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân tại bệnh viện
Đại học Y Hà Nội năm 2010 cho thấy có 51.1 % đến 70.9% khách hàng cho rằng
bệnh viện nên triển khai các dịch vụ CSSK ngoài giờ và tại nhà. Bệnh nhân và
người nhà bệnh nhân đều có nhu cầu cao sử dụng dịch vụ CSSK ngoài giờ và tại
nhà (53.3% - 90.3%), nhất là dịch vụ khám vào ngày thứ 7 và chủ nhật .
Hoàng Trung Kiên và cộng sự (2013) với nghiên cứu khảo sát sức khỏe và
nhu cầu CSSK của NCT tại bốn xã huyện Đông Anh, Hà Nội cho thấy nguyện vọng
chủ yếu của NCT là được KCB tại nhà với chi phí phải chăng (87,8%) và cung cấp
thông tin phòng bệnh, CSSK (82,7%). Và không có sự khác biệt về tình trạng và
nhu cầu CSSK của NCT ở bốn xã nghiên cứu .
7
1.3. Thực trạng quá tải bệnh viện ở Việt Nam
Để bảo đảm hiệu quả, chất lượng của dịch vụ trong hoạt động của hệ thống
KCB, Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO) và nhiều bằng chứng khoa học khuyến cáo
công suất sử dụng giường bệnh không nên vượt quá 85%. Khi công suất sử dụng
giường bệnh vượt quá ngưỡng trên, đặc biệt khi công suất vượt trên 95% sẽ thường
1.4.1. Thực trạng CSSK ngoài giờ ở Việt Nam
Bắt nguồn từ nhu cầu của người bệnh, sự quá tải của bệnh viện cũng như tăng
thu nhập cho nhân viên y tế, một số loại hình “dịch vụ” trong bệnh viện đã ra đời. Theo
một điều tra khảo sát nhằm xác định các loại hình dịch vụ đang tồn tại trong các bệnh
viện thành phố của Sở Khoa học Công nghệ & Môi trường và Sở Y tế Thành phố Hồ
Chí Minh đã triển khai năm 2001 cho thấy loại hình “dịch vụ” đầu tiên ra đời tại các cơ
sở khám chữa bệnh nhà nước là khám chữa bệnh ngoài giờ .
Các loại hình “dịch vụ” này đã bắt đầu xuất hiện từ những năm 1980 tuy nhiên
vẫn còn nhỏ lẻ. Vào thời kỳ (1990 – 1995), hàng loạt các cơ sở y tế thành lập mới
hoặc mở rộng các loại hoạt động dịch vụ ngoài giờ. Có khoảng 65,3% các cơ sở
y tế được khảo sát đã thành lập các loại hình khám chữa bệnh “dịch vụ”. Tuy
nhiên tại thời điểm đó, hầu hết việc thành lập các hình thức khám chữa bệnh trên
được thực hiện theo cơ chế “xin – cho” mà chưa có một quy chế chính thức nào
từ các cơ quan lãnh đạo .
Trước tình hình đó Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Chỉ thị 06/2007/CT-BYT
về việc nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân và một trong
những hoạt động của chỉ thị này là tăng số phòng khám, tăng ca, tăng giờ làm việc.
Các bệnh viện đã tăng giờ khám bệnh từ 6 giờ sáng thay vì 7h30 (từ năm 2008) và
khám thông tầm tới 19h00; Khám bệnh cả những ngày nghỉ, thứ bảy, chủ nhật, điển
hình như Bệnh viện Ung bướu thành phố Hồ Chí Minh; Bệnh viện Chợ Rẫy…. Giải
quyết cho người bệnh ra viện trong cả những ngày nghỉ cuối tuần (thứ bảy, chủ
nhật) thay vì trước đây chỉ cho ra viện vào giờ hành chính (Bệnh viện Chợ Rẫy);
Mở dịch vụ tư vấn và đặt lịch hẹn khám bệnh, tái khám qua điện thoại (Bệnh viện
Bạch Mai, Bệnh viện Chợ Rẫy); ứng dụng công nghệ thông tin để quản lý người
9
bệnh khám bệnh ngoại trú; Thiết lập hệ thống tự động hẹn trả kết quả xét nghiệm cụ
thể theo từng mốc thời gian trong ngày .
Không chỉ riêng gì “dịch vụ” khám chữa bệnh ngoài giờ mà cùng lúc rất nhiều
các hoạt động “dịch vụ” khác đã được đưa vào sử dụng trong bệnh viện như: Phòng
dịch vụ, khoa dịch vụ, can thiệp ngoại khoa theo yêu cầu, khám bệnh theo yêu cầu
Tại Hoa Kỳ, Học viện Bác sĩ gia đình Hoa Kỳ (AAFP) định nghĩa: “Y học gia
đình là chuyên ngành Y khoa cung cấp chăm sóc sức khỏe liên tục, toàn diện cho
các cá nhân và gia đình. Đó là một chuyên ngành bao quát cả khoa học sinh học,
lâm sàng và hành vi. Y học gia đình chăm sóc mọi đối tượng ở mọi lứa tuổi, cả hai
giới, tất cả các hệ cơ quan trong cơ thể và mọi loại bệnh tật” .
Một số khái niệm trong y học gia đình còn có thể mới mẻ trong đa số bác sỹ
lâm sàng và có thể bị hiểu không đúng. Khái niệm “chăm sóc liên tục” dễ bị hiểu
nhầm với “chữa bệnh thường xuyên cho bệnh nhân” người bác sỹ gia đình không
chỉ biết về bệnh của bệnh nhân do thường xuyên phải điều trị mà còn phải nắm
vững các hoàn cảnh gia đình, tạo dựng được sự tin cậy với bệnh nhân và giúp bệnh
nhân hiểu được tầm quan trọng của sự theo dõi sức khỏe liên tục .
Kỹ năng tư vấn cũng là một trong những vấn đề khác biệt giữa bác sỹ đa khoa
và bác sỹ gia đình. Bác sỹ gia đình cần dành thời gian đủ cho bệnh nhân, để có thể
lắng nghe, chia sẻ, đưa bệnh nhân tham gia vào chẩn đoán và điều trị, và hướng dẫn
đầy đủ cho bệnh nhân về những nội dung cần thiết.
1.4.2.2. Y học gia đình ở Việt Nam
• Quá trình hình thành và phát triển Y học gia đình ở Việt Nam
Cụm từ “chăm sóc sức khỏe hộ gia đình hay chăm sóc sức khỏe tại nhà” mới
du nhập vào nước ta khoảng hơn 10 năm trở lại đây. Nhưng thực hành thì không
mới vì thực tế, nước ta vẫn có một mạng lưới CSSK một cách tự phát và hoàn toàn
do nhu cầu CSSK của người dân quyết định sự tồn tại và phát triển của nó. Các ông
11
lang, bà mế, bà đỡ, các phòng chẩn trị y học cổ truyền, thầy thuốc tư… đã tạo ra
mạng lưới CSSK tại nhà sát với người dân và cộng đồng nhất tuy nhiên nó vẫn chưa
thực sự phát triển và hoạt động có hiệu quả.
Năm 2000 dự án phát triển BSGĐ ở Việt Nam đã được chính phủ phê duyệt
với sự tham gia của ba trường: Trường Đại học Y Hà Nội, Trường Đại học Y Dược
thành phố Hồ Chí Minh và Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, với mục tiêu
chính là đào tạo BSCKI chuyên ngành Y học gia đình và xây dựng các phòng khám
ngoại trú hoạt động theo nguyên lý y học gia đình ,.
- Thăm khám bệnh cấp tính thường xảy ra nhiều hơn vì loại thăm khám này
thuận tiện hơn đối với người thầy thuốc đến thăm ở gia đình. Một ví dụ điển hình là
một người bệnh bị sốt ở gần thầy thuốc và người đó lại không có phương tiện giao
thông thì thầy thuốc phải đến hộ gia đình để thăm khám và điều trị nếu cho phép.
• Y học gia đình ở Thành Phố Hồ Chí Minh:
Để giảm tình trạng quá tải tại các bệnh viện, từ tháng 01/2009, Sở Y tế triển
khai phòng khám bác sĩ gia đình được đặt trong các trạm y tế phường, xã, các bệnh
viện tuyến quận/huyện và tại 3 Bệnh viện Trưng Vương, Nhân dân 115 và Nhân
dân Gia Định. Phòng khám bác sĩ gia đình nằm trong hệ thống của ngành y tế, chịu
sự quản lý của Sở Y tế. Phòng khám bác sĩ gia đình có sự liên kết giữa bác sĩ và các
bệnh viện tuyến trên để theo dõi bệnh nhân một cách sát sao nhất. Sở Y tế cũng quy
định biểu giá cho phòng khám bác sĩ gia đình. Mô hình BSGĐ đã được Sở Y tế
TPHCM và Đại học Liège (Vương quốc Bỉ) thảo luận từ tháng 9/2003. Qua nhiều
giai đoạn, năm 2009 Ủy ban nhân dân thành phố đã đồng ý đưa BSGĐ là một trong
những chương trình sức khỏe của thành phố .
13
• Y học gia đình ở Hà Nội:
Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hà Nội đã ra quyết định thành lập Phòng khám
đa khoa theo yêu cầu thuộc Trung tâm Vận chuyển Cấp cứu 115 và Trung tâm Dịch
vụ và Bác sỹ gia đình 50C Hàng Bài….
Phòng khám Đa khoa Hoàng Minh thuộc Công ty Cổ phần Đầu tư Y tế Hoàng
Minh hợp tác cùng Trung tâm cấp cứu 115 Hà Nội triển khai dịch vụ Bác sỹ gia
đình – Khám chữa bệnh tại nhà. Các mảng dịch vụ chính Công ty đang cung cấp
bao gồm: Khám chữa bệnh tại nhà, xét nghiệm, điều dưỡng tại nhà, cung cấp thiết
bị y tế gia đình và truyền thông.
Phòng khám đa khoa - Trung tâm Bác sỹ Gia đình 1080 Hà Nội thuộc Công ty
Cổ phần Y học Hoàng Anh được Sở Y tế Hà Nội cấp giấy phép hoạt động số:
2379/2005/GCN-HNNYTN. Phòng khám cung cấp dịch vụ Bác sỹ gia đình tại nhà
như: Khám chẩn đoán bệnh, xét nghiệm lấy bệnh phẩm trả kết quả tại nhà, siêu âm
tại nhà, điện tim tại nhà, X - quang tại nhà, dịch vụ thay băng, cắt chỉ, tiêm truyền
1. Tăng cường các chương trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng: Áp dụng các
kỹ thuật phát hiện sớm bệnh lao, quản lý tốt và điều trị ngoại trú có hiệu
quả, phát hiện sớm các bệnh phổi như ung thư phổi, bệnh phổi tắc nghẽn
mãn tính, bệnh hen phế quản. Xây dựng đường lối chiến lược hướng dẫn,
chẩn đoán và điều trị phòng bệnh thống nhất trên toàn quốc những bệnh
lao và bệnh phổi ngoài lao.
2. Triển khai các kỹ thuật mũi nhọn về chẩn đoán, điều trị và phục hồi
chức năng.
3. Quản lý theo dõi sức khoẻ thực hiện các kỹ thuật phục hồi chức năng cho
người bệnh sau điều trị nội ngoại khoa trong bệnh viện [3].
15
Sơ đồ mô hình tổ chức của Bệnh viện Phổi Trung ương
Nguồn: />16
Sơ lược hoạt động khám bệnh tại Bệnh viện Phổi Trung ương:
Quy mô giường bệnh của bệnh viện năm 2013 là 500 giường, công suất sử
dụng giường bệnh 6 tháng đầu năm 2013 là 108,9% tăng 2,1% so với 6 tháng đầu
năm 2012.
Theo kết quả báo cáo hoạt động của bệnh viện trong 6 tháng đầu năm 2013, hoạt
động khám, chữa bệnh của bệnh viện vẫn được duy trì với chất lượng cao mặc dù số
người bệnh điều trị nội trú nhiều, công suất sử dụng giường bệnh ở mức cao. So sánh
với số liệu của 6 tháng đầu năm 2012 cho thấy hoạt động khám bệnh nói chung của
bệnh viện khá tốt với số lần khám bệnh tăng 2,5%; Số người khám bệnh tăng 4,5%; Số
xét nghiệm theo dõi chức năng hô hấp giảm -6,6 %; Số XN Sinh hóa -1,4%; Số XN
chụp phim thường quy giảm -5,1%; Số XN Siêu âm giảm -6,0%. Bệnh viện đã từng
bước triển khai áp dụng nhiều kỹ thuật mới nhằm nâng cao chất lượng phục vụ người
bệnh như đưa phẫu thuật nội soi màng phổi, xương vào mổ thường quy; Đưa máy chụp
cắt lớp vi tính 32 dãy và kỹ thuật nuôi cấy vi khuẩn lao trên môi trường lỏng (bằng
nguồn xã hội hóa) vào hoạt động .
Hoạt động khám bệnh là một chuỗi các công việc diễn ra tại khoa Khám bệnh
và có liên quan đến nhiều đơn vị trong bệnh viện như bộ phận thu viện phí, các
chữa bệnh; Giảm phiền hà cho người bệnh; Xác định nền tảng cho sự phát triển y
học thực chứng vì quyền lợi của người bệnh, và là cơ sở pháp lý điều chỉnh mối
quan hệ giữa người bệnh với người hành nghề và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Điều 43 về điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
đối với phòng khám chuyên khoa hoặc bác sỹ gia đình thì phải đủ các điều kiện sau:
• Đáp ứng các quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành.
• Có đủ người hành nghề phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn.
• Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh phải có thời gian hành nghề khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 36 tháng.
18
• Và có chuyên môn phù hợp với loại hình hành nghề .
Thông tư số 30/TT-BYT, ngày 23/12/1987 quy định về tổ chức khám bệnh
ngoài giờ có quản lý đã đáp ứng kịp thời nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân,
giảm bớt số bệnh nhân nằm viện, mở rộng việc chữa bệnh ngoại trú, giảm số bệnh
nhân phải chờ đợi ở phòng khám, những người có khả năng mua thuốc theo đơn
thầy thuốc tự trả tiền và cải thiện một cách chính đáng, hợp lý cho cán bộ ngành y tế
với các nội dung sau:
- Khám và chữa tất cả các chuyên khoa.
- Phẫu thuật thì hạn chế trong mức độ tiểu phẫu thuật.
- Các dịch vụ kỹ thuật khác (như nạo thai, hút điều hoà kinh nguyệt, đặt vòng,
truyền dịch) hoặc các phẫu thuật khác như nạo V.A, cắt Amiđan kể cả các phẫu
thuật cao hơn cũng có thể làm nhưng phải có giấy phép đặc biệt của Sở Y tế và ý
kiến chủ nhiệm khoa bệnh viện tỉnh thuộc chuyên khoa đó của địa phương đồng ý.
Mục đích là để phát triển chữa ngoại trú nhưng phải bảo đảm điều kiện chất lượng
về cán bộ cũng như cơ sở vật chất.
- Các dịch vụ thuộc chức năng điều dưỡng, kỹ thuật viên được khuyến khích
thực hiện tại nhà và ngay cả trong bệnh viện nhưng đều có quản lý và có quy định
theo hợp đồng cụ thể với nhân dân. Ví dụ: Đo huyết áp tại nhà, tiêm tại nhà, xoa
bóp bấm huyệt tại nhà, thay băng, săn sóc bổ sung tại bệnh viện ngoài giờ, hướng