giải pháp đẩy mạnh hoạt động mua bán, sáp nhập, hợp nhất ngân hàng thương mại ở việt nam - Pdf 23

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
o0o
Công trình tham dự Cuộc thi
Sinh viên nghiên cứu khoa học trường Đại học Ngoại thương năm 2013-2014
Tên công trình: Giải pháp đẩy mạnh hoạt động mua bán, sáp nhập, hợp nhất ngân
hàng thương mại ở Việt Nam Thuộc nhóm ngành: Kinh tế và Kinh doanh (KD1): Kinh tế ngân hàng
Họ và tên sinh viên:
Đặng Tuấn Anh Nam/nữ: Nam Dân tộc: Kinh
Lớp: A7 Khoá: K50 Khoa: Tài chính – Ngân hàng năm thứ 3/4
Ngành học: Ngân hàng
Nguyễn Khánh Chi Nam/nữ: Nữ Dân tộc: Kinh
Lớp: A7 Khoá: K50 Khoa: Tài chính – Ngân hàng năm thứ 3/4
Ngành học: Ngân hàng
Nguyễn Thị Cúc Nam/nữ: Nữ Dân tộc: Kinh
Lớp: A7 Khoá: K50 Khoa: Tài chính – Ngân hàng năm thứ 3/4
Ngành học: Phân tích và đầu tư tài chính

Người hướng dẫn: Th.S Mai Thị Hồng


Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn
Ficombank
Ngân hàng thương mại cổ phần Đệ Nhất
TinNghiabank
Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Tín nghĩa
Habubank
Ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà Nội
HDBank
Ngân hàng thương mại cổ phần Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh
DaiABank
Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Á
HSBC
Ngân hàng Hồng Kông – Thượng Hải
PVFC
Tổng công ty cổ phần tài chính Dầu khí Việt Nam
TCTD
Tổ chức tín dụng
3

Danh mục bảng biểu
Hình 2.1: So sánh ROA hệ thống ngân hàng Việt Nam và Thái Lan năm 2011,
2012.
Hình 2.2: So sánh ROE hệ thống ngân hàng Việt Nam và Thái Lan năm 2011, 2012.
Hình 2.3: Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế giai đoạn 2011 – 2013.
Hình 2.4: Tỉ lệ nợ xấu hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2011 – 2013.
Hình 2.5: Quy mô nhân lực 3 ngân hàng Vietcombank, Techcombank, SHB giai
đoạn 2011 – 2013.
Hình 2.6: So sánh bình quân doanh thu trên mỗi nhân viên 3 ngân hàng
Vietcombank, Techcombank, SHB giai đoạn 2011 – 2013.
Hình 2.7: So sánh bình quân lợi nhuận trên mỗi nhân viên 3 ngân hàng

1.2.2. Phân loại dựa trên yếu tố địa lý 13
1.2.3. Phân loại theo chiến lược M&A 14
1.3. Các phương thức tiến hành hợp nhất, sáp nhập và mua lại 14
1.3.1. Chào thầu 14
1.3.2. Thu gom trên thị trường chứng khoán 15
1.3.3. Thương lượng tự nguyện 15
1.3.4. Mua lại tài sản của công ty. 16
1.4. Định giá trong hoạt động sáp nhập, hợp nhất, mua lại 16
1.5. Lợi ích và rủi ro trong hoạt động sáp nhập, hợp nhất và mua lại 16
1.5.1. Lợi ích 16
1.5.2. Rủi ro 18
1.6. Kinh nghiệm một số thương vụ mua lại, sáp nhập, hợp nhất trên thế giới 20
1.6.1. Bank of Amrerica mua lại Merrill Lynch 20
1.6.2. HSBC Holdings plc mua lại Household International Inc. 24
1.6.3. UFJ Holdings sáp nhập vào Mitsubishi Tokyo Financial Group 26
1.6.4. Nhận xét chung và bài học kinh nghiệm 30
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MUA BÁN, SÁP NHẬP, HỢP
NHẤT NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 32
2.1. Sự cần thiết đẩy mạnh hoạt động M&A ở Việt Nam hiện nay 33
2.1.1 Khả năng đề phòng, vượt qua khủng hoảng 33
2.1.2. Tăng sức cạnh tranh của ngân hàng 40
2.2. Một số thương vụ sáp nhập, hợp nhất, mua lại trong giai đoạn 2011-2013 42
6

2.2.1. Thương vụ hợp nhất giữa NHTMCP Sài Gòn, NHTMCP Đệ Nhất và
NHTMCP Việt Nam Tín Nghĩa 42
2.2.2 Thương vụ sáp nhập giữa NHTMCP Sài Gòn - Hà Nội và NHTMCP Nhà
Hà Nội 46
2.2.3 Thương vụ hợp nhất giữa NHTMCP Phương Tây và Tổng công ty tài
chính cổ phần Dầu khí Việt Nam 50

thời điểm khủng hoảng sâu sắc nhất. Mặc dù tình hình đã có dấu hiệu khả quan hơn,
nhưng việc cải tổ lại cách thức hoạt động của các ngân hàng và giải quyết hậu quả
của cuộc khủng hoảng vẫn cần thời gian dài để tiến hành. Một trong những phương
pháp tỏ ra hiệu quả và được một số ngân hàng lựa chọn chính là tiến hành sáp nhập,
hợp nhất và mua lại hay còn được biết đến với tên gọi quốc tế thông thường là
M&A. Trên thế giới, hoạt động này được đánh giá là khá hiệu quả và có những ưu
thế nhất định. Được coi là giải pháp hữu hiệu cho các ngân hàng yếu kém, M&A
đang là xu hướng mới đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam. Tuy nhiên, M&A tại
Việt Nam đã và đang được áp dụng thế nào, mang lại hiệu quả ra sao và có những
hạn chế gì lại là vấn đề cần được nghiên cứu và đánh giá một cách thận trọng và kĩ
lưỡng.
Vì vậy, nhóm nghiên cứu chọn đề tài “Giải pháp đẩy mạnh hoạt động mua
bán, sáp nhập, hợp nhất ngân hàng thương mại tại Việt Nam” làm đề tài nghiên
cứu khoa học của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về hoạt động mua bán, sáp nhập, hợp nhất ngân hàng, một số tác
giả đã có những công trình nghiên cứu như sau:

ThS. Huỳnh Thị Phương Thảo, “Hoạt động M&A trong quá trình tái cấu
trúc hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam”, Tạp chí Thị trường Tài
chính – Tiền tệ, số 17 (386) 9/2013.
8


Th.S Trần Kim Anh, “Tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, thách thức và một số
giải pháp nhìn từ việc hợp nhất 3 ngân hàng thương mại đầu tiên”, Tạp chí
Ngân hàng số 7 (4/2012).

Xuân Bình, “”Một số động cơ và bài toán hợp nhất, sáp nhập ngân hàng”,
Tạp chí Ngân hàng số 21 (11/2012).

hàng trong giai đoạn 2014 - 2016.
7. Kết cấu đề tài
- Chương 1: Lý thuyết chung về hoạt động mua bán, sáp nhập, hợp nhất ngân
hàng thương mại.
- Chương 2: Thực trạng hoạt động mua bán, sáp nhập, hợp nhất ngân hàng
thương mại ở Việt Nam.
- Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh hoạt động mua bán, sáp nhập, hợp nhất ngân
hàng thương mại ở Việt Nam.
10

CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN,
SÁP NHẬP, MUA LẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Khái niệm sáp nhập, hợp nhất, mua lại các TCTD
1.1.1. Khái niệm theo thông tư 04/2010/NHNN
Mua bán, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp là một thuật ngữ phổ biến ở Việt
Nam từ năm 2006, khi thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu phát triển và tăng
trưởng nóng. Tên tiếng Anh của thuật ngữ này là Mergers & Acquisitions, viết tắt là
M&A. Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt nên có bản chất tương tự
M&A doanh nghiệp diễn ra dưới nhiều hình thức và nội dung khác nhau.
Theo thông tư 04/2010/NHNN, thuật ngữ M&A được hiểu như sau:
Sáp nhập tổ chức tín dụng là hình thức một hoặc một số tổ chức tín dụng (sau
đây gọi là tổ chức tín dụng bị sáp nhập) sáp nhập vào một tổ chức tín dụng khác
(sau đây gọi là tổ chức tín dụng nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản,
quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang tổ chức tín dụng nhận sáp nhập, đồng thời
chấm dứt sự tồn tại của tổ chức tín dụng bị sáp nhập.
Hợp nhất tổ chức tín dụng là hình thức hai hoặc một số tổ chức tín dụng (sau
đây gọi là tổ chức tín dụng bị hợp nhất) hợp nhất thành một tổ chức tín dụng mới
(sau đây gọi là tổ chức tín dụng hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền,
nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang tổ chức tín dụng hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự

mô hình châu Âu không có tính bắt buộc. Cụ thể là không cần thiết phải rà soát một
cách có hệ thống và thông qua tất cả các vụ sáp nhập, mua lại. Yêu cầu thông báo
về mọi vụ sáp nhập, mua lại sẽ tạo ra gánh nặng không đáng có cho cơ quan quản
lý, làm phát sinh các khoản chi phí không hợp lý và làm chậm quá trình sáp nhập,
mua lại.
Trong hoạt động kiểm soát tập trung kinh tế, duy trì và bảo vệ cạnh tranh là yêu
cầu quan trọng hàng đầu. Đối với liên minh châu Âu đây là tiêu chí duy nhất quyết
định việc có cho phép hay không cho phép thực hiện dự án tập trung kinh tế. Nếu
hoạt động tập trung kinh tế không làm ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các
doanh nghiệp trên thị trường thì được coi là phù hợp. Một dự án tập trung kinh tế
12

kéo theo việc hình thành vị trí thống lĩnh vốn có thể được coi là phù hợp khi tất cả
đều cho thấy vị trí thống lĩnh này chỉ là tạm thời và sẽ nhanh chóng biến mất vì sẽ
có những đối thủ cạnh tranh lớn gia nhập thị trường. Quan điểm này cũng giống với
quan điểm chung ở Mỹ, những doanh nghiệp chiếm vị trí thống lĩnh thị trường mà
phải chịu sức ép cạnh tranh lớn thì vẫn được phép hoạt động. Có rất ít khác biệt
giữa tiêu chí “hạn chế đáng kể cạnh tranh” trong pháp luật của Liên minh châu Âu.
Ủy ban châu Âu đã soạn thảo điều 2 của Quy chế 139/2004 theo hướng xích gần
hơn với tiêu chí của Mỹ, theo đó thủ tục kiểm soát không chỉ áp dụng đối với những
dự án tập trung kinh tế tạo ra hoặc tăng cường vị trí thống lĩnh mà còn đối với các
dự án gây cản trở đáng kể đến cạnh tranh.
Như vậy, mua bán, sáp nhập và hợp nhất là 3 dạng khác nhau của thuật ngữ
quốc tế là M&A. Hiểu một cách đơn giản, một thương vụ được gọi là mua lại khi
một TCTD mua lại toàn bộ cồ phần hoặc tài sản của TCTD khác và trở thành chủ sở
hữu mới của TCTD đó. Khi hai hay nhiều TCTD tự nguyện liên kết với nhau trở
thành một TCTD vì lợi ích chung, đó có thể được xem là một thương vụ sáp nhập
hoặc hợp nhất. Sự khác nhau duy nhất giữa sáp nhập và hợp nhất là ở vị thế của các
bên tham gia. Nếu các bên có vị thế tương đương nhau thì thương vụ đó được gọi là
hợp nhất. Nếu có một bên có vị thế lớn hơn các bên còn lại thì thương vụ đó được

1.2.2. Phân loại dựa trên yếu tố địa lý
1.2.2.1. M&A nội địa
Hoạt động M&A diễn ra giữa các công ty trong cùng một quốc gia. Ví dụ:
thương vụ Habubank sáp nhập vào SHB,… Đây là xu hướng chính trong hoạt động
M&A ở nước ta hiện nay.
1.2.2.2. M&A xuyên biên giới
Hoạt động M&A diễn ra giữa các công ty thuộc các quốc gia khác nhau. Ví dụ:
HSBC Holding plc mua lại Household International Inc Các thương vụ này diễn ra
rất phức tạp và cần thời gian tương đối dài do sự khác biệt về môi trường chính trị,
kinh tế, văn hóa, nguyên tắc thuế, kế toán,… giữa các quốc gia. Tuy nhiên, đây lại
là cách nhiều ngân hàng lớn trên thế giới lựa chọn để phát triển hoạt động tại các thị
trường nước ngoài. Cơ quan quản lý cũng hết sức lưu ý loại hình sáp nhập này
nhằm tránh cho hệ thống tài chính trong nước bị chi phối bởi các ngân hàng nước
14

ngoài. Tại Việt Nam, Nghị định 01/2014/NĐ-CP mặc dù đã cho phép tăng tỉ lệ sở
hữu của một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài tại các ngân hàng thương mại Việt
Nam so với Nghị định 69/2007/NĐ-CP nhưng vẫn giới hạn ở 20%. Các trường hợp
đặc biệt cần có quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
1.2.3. Phân loại theo chiến lược M&A
1.2.3.1. M&A thân thiện
Là một giao dịch M&A mà cả hai bên đều muốn thực hiện do họ đều nhận thấy
được lợi ích nếu cả hai sáp nhập lại với nhau. M&A thân thiện giúp các ngân hàng
có vai trò bình đẳng trong việc điều hành, quản lý ngân hàng mới. Ví dụ: thương vụ
DaiABank sáp nhập vào HDBank,…
1.2.3.2. M&A thù nghịch
Là một thương vụ M&A trong đó một bên chủ động tìm mọi cách thực hiện
thương vụ, một bên tìm cách né tránh hoặc thực hiện các biện pháp chống M&A.
Loại M&A này thường xảy ra khi một công ty muốn thâu tóm hay tiêu diệt đối thủ
cạnh tranh nhằm tạo thế độc quyền trên thị trường.

phiếu đó có thể tăng vọt trên thị trường. Tuy nhiên, cách thâu tóm này được thực
hiện dần dần và trôi chảy, khi đó, bên mua sẽ đạt được mục đích cuối cùng của
mình với mức giá rẻ hơn nhiều so với phương thức chào thầu.
1.3.3. Thương lượng tự nguyện
Khi cả hai bên mua bán đều nhận thấy lợi ích chung từ thương vụ M&A và
những điểm tương đồng giữa hai bên (về văn hóa, thị phần…), người điều hành sẽ
xúc tiến để ban quản trị hai bên thỏa thuận và thương thảo cho giao dịch M&A này.
Ngoài các phương án chuyển nhượng cổ phiếu, tài sản, tiền mặt kết hợp tiền
mặt và nợ, hai bên thực hiện M&A còn có thể chọn phương thức hoán đổi cổ phiếu
(Stock swap) để biến cổ đông của ngân hàng này trở thành cổ đông của ngân hàng
kia và ngược lại. Một hình thức khá phổ biến là trao đổi cổ phần để sở hữu chéo
ngân hàng của nhau. Thực chất, hình thức này mang tính liên minh hơn là sáp nhập
và việc này xuất phát từ động cơ liên minh giữa hai ngân hàng nhằm chia sẻ nhiều
điểm chung về lợi ích, khách hàng. Vì vậy, vụ sáp nhập này thường có lợi cho cả
hai bên.
16

1.3.4. Mua lại tài sản của công ty.
Bên mua có thể đơn phương hoặc cùng ngân hàng mục tiêu định giá tài sản của
bên bán (họ thường thuê một doanh nghiệp chuyên định giá tài sản độc lập). Sau đó
các bên sẽ tiến hành thương thảo để đưa ra mức giá phù hợp (có thể cao hoặc thấp
hơn). Phương thức thanh toán có thể bằng tiền mặt và nợ. Điểm hạn chế của phương
thức này là các tài sản vô hình như thương hiệu, thị phần, khách hàng, nhân sự, văn
hóa tổ chức…rất khó được định giá và được các bên thống nhất. Do đó, phương
thức này thường chỉ áp dụng để tiếp quản lại các ngân hàng nhỏ, mà thực chất là
nhắm đến hệ thống kênh phân phối, đại lý đang thuộc sở hữu của ngân hàng mục
tiêu.
1.4. Định giá trong hoạt động sáp nhập, hợp nhất, mua lại
Định giá là một khâu rất quan trọng trong hoạt động M&A ảnh hưởng lớn đến
thành công của thương vụ. Đối với mỗi thương vụ M&A, các bên tham gia hay

hữu của các cổ đông nước ngoài lên 20% có thể thúc đẩy các nhóm cổ đông này
mạnh dạn hơn với các ngân hàng Việt Nam.
Thứ ba, sáp nhập, hợp nhất và mua lại là tiền đề để tạo ra những ngân hàng của
Việt Nam có thứ hạng trong khu vực và quốc tế và tham vọng trở thành các ngân
hàng khổng lồ, nhất là khi các thương vụ này có sự tham gia của yếu tố nước ngoài.
Đề án tái cấu trúc kinh tế của Chính phủ nêu rõ, phấn đấu đến năm 2015, chúng
ta sẽ có một đến hai ngân hàng có vị thế trong khu vực. Cùng với việc Ngân hàng
Nhà nước khuyến khích các Ngân hàng thương mại Nhà nước hỗ trợ các ngân hàng
yếu kém trong quá trình tái cấu trúc, có thể thấy sau sáp nhập, hợp nhất và mua lại,
thị trường tài chính Việt Nam có thể xuất hiện những ngân hàng với quy mô lớn
hơn, hoạt động hiệu quả hơn, có đủ năng lực để cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
1.5.1.2. Đối với các tổ chức tín dụng
Thứ nhất, đây là cơ hội giúp các ngân hàng mở rộng quy mô, qua đó nâng cao
năng lực cạnh tranh và cải thiện kết quả kinh doanh.
Nếu giả sử các yếu tố bên trong ngân hàng cũng như tác động bên ngoài từ kinh
tế chính trị xã hội đều thuận lợi, sau sáp nhập, hợp nhất và mua lại, các ngân hàng
chắc chắn sẽ cải thiện tình hình theo chiều hướng tích cực hơn. Trên cơ sở nguồn
vốn, tài sản và thị phần đều tăng, ngân hàng mới có thể đa dạng hóa danh mục dầu
18

tư và có đủ năng lực để tham gia những dự án lớn, nâng cao hiệu quả hoạt động.
Sau sáp nhập, hợp nhất và mua lại, các ngân hàng nhỏ có thể kỳ vọng sẽ đạt được
lợi thế quy mô, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
Thứ hai, trong bối cảnh kinh tế đặc biệt, như tình trạng suy thoái hiện nay, đây
được xem là một lối thoát cho các ngân hàng yếu kém.
Đối với các ngân hàng yếu kém, sáp nhập, hợp nhất và mua lại chính là phương
pháp cứu nguy trong ngắn hạn. Các ngân hàng yếu kém muốn giải quyết các vấn đề
về nợ xấu và thanh khoản thì phải dựa vào nỗ lực kinh doanh tốt mới có thể thu về
lợi nhuận và bù đắp nợ xấu. Tuy nhiên, khả năng này là rất khó thực hiện khi mà
các ngân hàng yếu kém không tạo được niềm tin trên thị trường, không huy động

phải chịu trách nhiệm tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động với người lao động.
Tuy nhiên, thực tế xảy ra lại là một vấn đề khác.
1.5.2.2. Đối với các tổ chức tín dụng.
Thứ nhất, M&A không phải lúc nào cũng có thể tiến hành thuận lợi và mang
lại hiệu quả như mong đợi.
Trên thế giới, hàng năm có rất nhiều các thương vụ M&A thất bại hoặc M&A
thành công nhưng không có tác dụng tích cực đối với doanh nghiệp. Tại Việt Nam,
trong ngành ngân hàng nói riêng, các thương vụ sáp nhập, hợp nhất và mua bán đều
được tiến hành thành công. Tất nhiên, chúng ta tiến hành trong bối cảnh đặc biệt và
có những tác động đáng kể từ NHNN. Các thương vụ này, nhất là trong thời gian
gần đây, do tác động của cuộc khủng hoảng khiến các ngân hàng buộc phải tiến
hành tái cấu trúc theo yêu cầu của Chính phủ. Nhưng hiệu quả của các ngân hàng
sau khi tiến hành sáp nhập, hợp nhất và mua bán có thực sự tốt không thì cần phải
quan sát trong thời gian dài.
Thứ hai, M&A cũng tạo ra thách thức cho các nhà quản lý trong vấn đề tìm
giải pháp hòa hợp giữa hai tổ chức độc lập để đi đến mục tiêu chung.
Sau sáp nhập, hợp nhất và mua bán, hai tổ chức độc lập với những nét khác biệt
từ những vấn đề mang tính kỹ thuật nghiệp vụ cho đến văn hóa doanh nghiệp đòi
hỏi các nhà quản lý phải có chiến lược cụ thể. Nếu không thể dung hòa những khác
biệt này, không doanh nghiệp nào có thể vận hành tốt. Bên cạnh đó, việc sáp nhập,
20

hợp nhất hay mua lại sẽ khiến vị thế của các ngân hàng không thể bình đẳng, từ bộ
phận nhân sự cấp cao đến các nhân viên bình thường. Nếu sau sáp nhập, hợp nhất
và mua bán, các tổ chức không được thống nhất kế hoạch phát triển và tạo văn hóa
bình đẳng lâu dài thì đây sẽ là một cản trở rất lớn cho các ngân hàng.
1.6. Kinh nghiệm một số thương vụ mua lại, sáp nhập, hợp nhất trên thế giới
1.6.1. Bank of Amrerica mua lại Merrill Lynch
1.6.1.1. Khái quát chung
Bank of America


21

Bảng 1.2. Một số chỉ số tài chính của Merrill Lynch năm 2006, 2007

2007
2006
Tổng tài sản
1.020.050
841.299
Vốn chủ sở hữu
31.932
39.038
Lợi nhuận ròng
(7.777)
7.499
ROA (%)
(0,8)
0,89
ROE(%)
(28,0)
19,1
Đơn vị: triệu USD
( Nguồn : Merrill Lynch‘s Annual Report 2006, 2007)
1.6.1.2. Nguyên nhân, diễn biến, kết quả
Khi biết Lehman Brothers lâm nạn, Bank of America đã có ý định mua lại
Lehman Brothers để chính thức nhảy vào lĩnh vực ngân hàng đầu tư và ngay lập tức
có vai vế ngay. Sau khi cuộc đàm phán với Lehman Brothers đổ vỡ chưa đầy 48
tiếng đồng hồ, Bank of America đã đạt được thoả thuận mua lại Merrill Lynch với
cái giá 50 tỷ USD, cao hơn thị giá thực của Merrill Lynch. Vào thời điểm mua lại,

Vốn chủ sở hữu
177.052
231.444
228.248
230.101
236.956
Lợi nhuận
4.008
6.276
(2.238)
1.446
4.188
ROA (%)
0,22
0,28
(0,098)
0,067
0,18
ROE (%)
2,26
2,71
(0,980)
0,628
1,76
Đơn vị: triệu USD
( Nguồn : Bank of America ‘s Annual Report 2008, 2009, 2010, 2011, 2012)
Bảng 1.4: Một số chỉ số tài chính của Merrill Lynch giai đoạn 2008-2012

2008
2009

17,89
3,99
5,53
Đơn vị: triệu USD
( Nguồn : Merrill Lynch, a subsidary of Bank of America ‘s Annual Report 2008, 2009,
2010, 2011, 2012)
Sau khi hoàn tất thương vụ, Bank of America có khối tài sản khổng lồ lên đến
hơn 1.800 tỷ USD. Tuy nhiên, ngay sau đó, quý IV/2008, Merrill Lynch đã báo lỗ
21,5 tỷ đô la Mỹ và 27,6 tỷ đô là Mỹ trong cả năm 2008. Như vậy, sau khi mua lại
23

giá trị của Merrill Lynch chỉ còn ở mức 20 tỷ đô ( so với giá mua ban đầu là 50 tỷ).
Các chỉ số ROA và ROE đồng loạt giảm mạnh, trong vòng 1 năm , ROA và ROE
của Bank of America giảm gần 4 lần (lần lượt từ 0,87% và 10,2% năm 2007 xuống
0,22% và 2,26% năm 2008) và tiếp tục duy trì ở mức thấp ở những năm sau. Cổ
phiếu của ngân hàng giảm 14% và Bank of America đã phải nhận khoản viện trợ 45
tỷ đô la từ chính phủ Mỹ.
Tuy nhiên qua các năm, các chỉ số tài chính của Merrill Lynch cũng cho thấy
những dấu hiệu chuyển biến tích cực. Gần đây nhất, Bank of America quyết định
sáp nhập hoàn toàn Merrill Lynch vào Bank of America. Thương hiệu Merrill
Lynch vẫn sẽ được giữ lại trên thị trường môi giới và bán lẻ, tuy nhiên, Merrill
Lynch sẽ không cần có báo cáo tài chính riêng của hãng nữa. Hoạt động của hãng sẽ
được thể hiện trên báo cáo hợp nhất của Bank of America. Việc này sẽ giúp Bank of
America tiết kiệm một khoản chi phí ước tính 8 tỷ đô là mỗi năm và giảm bớt độ
phức tạp trong cấu trúc của ngân hàng.
Mặc dù Merill Lynch có nhiều dấu hiệu khởi sắc, nhưng trong thời điểm khủng
hoảng tài chính, Bank of America mua lại Merrill Lynch không phải là một chiến
lược hiệu quả.
1.6.1.4. Bài học kinh nghiệm
Nguyên nhân thất bại

1.6.2.2. Nguyên nhân, diễn biến, kết quả
Nguyên nhân
Trước năm 2003, HSBC chưa có nhiều hoạt động kinh doanh tại Mỹ. Do đó,
việc mua lại Household International sẽ giúp cho HSBC dễ dàng tham gia vào thị
trường tài chính ở Mỹ và có thị phần tương đối trong hoạt động cho vay thế chấp
dưới chuẩn và cung cấp thẻ tín dụng.
Diễn biến
Ngày 28/3/2003, HSBC Holdings plc mua lại Household International Inc. giá
trị thương vụ là 15,294 tỉ USD.
25

Ngày 15/12/2004, Household International Inc. chính thức sáp nhập hoàn toàn
vào HSCB và đổi tên thành HSBC Finance Corporation.
1.6.2.3. Tình hình tài chính của Household International Inc. và HSBC Finance
Corporation giai đoạn 2002-2012
Bảng 1.5: Một số chỉ số tài chính của Householed International Inc. và HSBC
Finance Corporation giai đoạn 2002-2012

2002
2003
2004
2005
2006
2007
Tổng tài sản
97.860
119.052
130.190
156.669
179.459

2008
2009
2010
2011
2012
Tổng tài sản
90.318
76.133
64.345
50.666
44.746
Doanh thu
3.366
2.531
2.036
1.776
1.646
Lợi nhuận
(2.783)
(7.450)
(1.916)
(1.408)
(845)
ROA
(3,1)%
(6,9)%
(3,5)%
(3,9)%
(4,,9%)
ROE


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status