i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
o0o Công trình tham dự Cuộc thi
Sinh viên nghiên cứu khoa học Trường Đại học Ngoại Thương 2013-2014 Tên công trình: Mô hình phân tích ảnh hưởng của các nhân tố tới xuất khẩu
thủy sản ở Việt Nam Nhóm ngành: KD2 Hà Nội, tháng 5 năm 2014 ii
Mục lục
LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương 1: Tổng quan về tình hình xuất khẩu thủy sản ở Vi ệt Nam 3
1.1. Các mặt hàng chủ lực 3
1.2. Các thị trường chủ lực 7
4.1. Các thị trường cần tập trung 55
4.1.1. Hướng tới các nước có GDP cao 55
4.1.2. Hướng tới các nước có khoảng cách kinh tế lớn 55
4.1.3. Khai thác các thị trường gần 56
4.2. Các mặt hàng cần tập trung 56
4.2.1. Nâng cao chất lượng sản phẩm và nguồn hàng tôm và cá 57
4.2.2. Tăng đầu tư vào mặt hàng mực, bạch tuộc 57
4.3. Một số vấn đề gặp phải và đề xuất giải pháp 58
4.3.1. Các rào cản phi thuế quan 58
4.3.2. Áp lực cạnh tranh của các đối thủ 61
4.3.3. Vấn đề về khoảng cách địa lý 61
KẾT LUẬN 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
iv
Danh mục bảng biểu, đồ thị
Bảng số liệu: Trang
Bảng 1. Nhóm mã HS của các nhóm mặt hàng thủy sản 3
Bảng 2. Kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng thủy sản của Việt Nam từ
2001-2011 (đơn vị: nghìn USD) 4
Bảng 3. Chỉ số RCA của các nhóm hàng thủy sản Việt Nam năm 2011 6
Bảng 4. Chỉ số RCA của 10 quốc gia có kim ngạch xuất khẩu thủy sản lớn
nhất thế giới 2011 6
Bảng 5. Khoảng cách kinh tế của Việt Nam với một số nước (năm 2011) 44
Bảng 6. Kết quả ước lượng mô hình 50
Đồ thị: Trang
Hình 1: Kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng thủy sản của Việt Nam từ
Tính cấp thiết của đề tài
Xuất khẩu đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh
tế. Nhờ có hoạt động xuất khẩu, nguồn vốn cho hoạt động nhập khẩu phục vụ
công nghiệp hóa đất nước được tăng cường; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo
hướng tích cực giúp thúc đẩy sản xuất; công ăn việc làm trong nước được giải
quyết đáng kể; các quan hệ kinh tế đối ngoại của đất nước cũng được mở
rộng; Chính vì vai trò quan trọng như vậy, xuất khẩu cần được chú trọng
phát triển, nhất là trong giai đoạn công nghiệp hóa ở Việt Nam hiện nay.
Để đạt được mục tiêu trên, một trong số những biện pháp là xây dựng và phát
triển các mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Trong số 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực
hàng đầu của Việt Nam, các mặt hàng thủy sản có nhiều tiềm năng để phát
triển, và thực sự đã đạt được nhiều thành tựu trong thời gian qua. Tuy nhiên,
vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế khiến cho tiềm năng đó chưa được khai thác
triệt để.
Để có thể tìm ra những giải pháp hiệu quả nhằm phát huy hết tiềm năng xuất
khẩu của mặt hàng này, chúng ta cần phải một cách khoa học xác định các
nhân tố cũng như đánh giá mức độ ảnh hưởng của chúng tới kim ngạch xuất
khẩu thủy sản của Việt Nam. Do đó nhóm nghiên cứu đã chọn đề tài “Mô
hình phân tích ảnh hưởng của các nhân tố tới xuất khẩu thủy sản ở Việt Nam”
làm đề tài tham dự cuộc thi Sinh viên nghiên cứu khoa học Đại học Ngoại
thương năm 2014.
Tổng quan tình hình nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định lượng sử dụng mô hình lực hấp dẫn thương
mại đã từng được sử dụng để phân tích tình hình thương mại Việt Nam, ví dụ
2
như “A gravity model for trade between Vietnam and twenty-three European
countries” của tác giả Đỗ Thái Trí. Tuy nhiên, theo như tìm hiểu của nhóm,
những nghiên cứu này không đi sâu vào một mặt hàng cụ thể nào của Việt
- Mực và bạch tuộc
- Cua, giáp xác khác: chủ yếu là cua ghẹ.
- Thân mềm khác: chủ yếu là nhuyễn thể 2 mảnh
Bảng 1. Nhóm mã HS của các nhóm mặt hàng thủy sản
Mặt hàng
Mã HS
Cá
0301+0302+0303+0304+0305+1604
Tôm
030611+030612+030613+030615+030616+030617
+030621+ 030622+030623+030626+030627+160520
Mực & bạch tuộc
030741+030751+030759+030749
Cua, giáp xác khác
030614+030619+030624+030629+160510+160540
Thân mềm khác
030710+030711+030719+030721+030729+030731+030739+
030760+030771+030779+030789+030791+030799 +160590
4
Số liệu về kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam qua các năm tổng hợp
theo bảng dưới đây.
Bảng 2. Kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng thủy sản của Việt Nam
từ 2001-2011 (đơn vị: nghìn USD)
Năm
Cá
Tôm
Mực,
bạch tuộc
261,086
196,334
157,594
2006
1,272,510
1,398,141
302,143
214,691
163,757
2007
1,620,487
1,550,325
337,050
124,385
125,734
2008
2,252,804
1,583,259
370,595
174,194
122,169
2009
2,011,588
1,623,503
326,437
151,954
132,345
2010
2,322,009
2,088,682
2.000.000
2.500.000
3.000.000
3.500.000
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
Cá
Tôm
Mực, bạch tuộc
Cua, giáp xác khác
Thân mềm khác
48,23%
39,57%
7,93%
1,79%
2,48%
Cá
Tôm
Mực, bạch tuộc
Cua, giáp xác khác
Thân mềm khác
6
Cá và tôm vẫn là 2 mặt hàng đóng vai trò quan trọng trong xuất khẩu thủy sản
của Việt Nam.
Tính toán chỉ số RCA năm 2011 của các mặt hàng thủy sản cho thấy:
Bảng 3. Chỉ số RCA của các nhóm hàng thủy sản Việt Nam năm 2011
Mặt
hàng
Cá
Tôm
Thân
mềm
khác
Trung Quốc
1.33
1.22
0.92
2.05
2.31
2.40
Na Uy
8.63
12.95
0.54
0.00
1.22
0.09
Thái Lan
5.25
3.68
12.73
4.99
1.90
1.77
Việt Nam
9.36
6.90
19.80
13.75
4.67
Hà Lan
0.98
0.98
1.04
0.14
1.04
1.37
Ấn Độ
1.65
0.78
4.35
5.17
0.82
0.25
So sánh chỉ số RCA xuất khẩu thủy sản của các nước, ta thấy Việt Nam có
RCA cao nhất (9.36), thứ hai là NaUy (8.63), và tiếp theo là Chi Lê (7.18),
Thái Lan (5,25) là các quốc gia có RCA lớn hơn 2.5. Ở các nhóm mặt hàng
Cá, Việt Nam (6.90) đứng sau Na Uy (12.95) và Chi Lê (9.36). Ở nhóm mặt
hàng Cua và giáp xác khác, Việt Nam (4.67) xếp sau Canada (7.03). Ở nhóm
mặt hàng Thân mềm khác, Chi lê cso chỉ số RCA vượt trội (12.60), Việt Nam
xếp thứ 2 (3.39). Các nhóm hàng Tôm và Mực, bạch tuộc, Việt Nam đều có
RCA cao nhất.
Điều này cho thấy nhìn chung Việt Nam thực sự có nhiều ưu thế trong xuất
khẩu thủy sản. Tuy nhiên, Việt Nam sẽ phải cạnh tranh nhiều hơn ở các nhóm
hàng Cá, Cua và giáp xác khác, Thân mềm khác. Ở nhóm mặt hàng Tôm và
Mực, bạch tuộc, tuy có RCA dẫn đầu nhưng có 1 số quốc gia khác có
RCA>2,5 nên Việt Nam cũng cần nghiên cứu nghiêm túc để cạnh tranh được
với các quốc gia này.
Trung Quốc
Australia
Khác
9
Hình 4: Giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tới các thị trường lớn
giai đoạn 2007-2011 (đơn vị: nghìn USD)
(Nguồn: Tổng hợp từ Trademap.org)
Xuất khẩu thủy sản sang Mỹ có sự sụt giảm mạnh năm 2004 do Mỹ áp thuế
chống bán phá giá đối với tôm Việt Nam, giai đoạn sau từ 2004 đến 2008 có
sự tăng nhẹ và từ 2009 đến 2011 đã tăng trưởng mạnh.
Đối với thị trường Nhật Bản, kim ngạch nhập khẩu thủy sản từ Việt Nam tăng
nhẹ trong giai đoạn 2001 – 2006, biến động liên tục trong giai đoạn 2006-
2009 và sau đó tăng nhanh cho đến năm 2011
Thị trường EU trong những năm đầu thập niên 2000 nhập khẩu thủy sản từ
Việt Nam ít hơn nhiều so với hai thị trường còn lại, tuy nhiên giai đoạn 2004-
2008, kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang thị trường này tăng trưởng vượt bậc
và từ năm 2007 đến nay luôn dẫn đầu trong số các thị trường nhập khẩu thủy
sản của Việt Nam.
-
200.000
400.000
600.000
800.000
1.000.000
1.200.000
1.400.000
1.600.000
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
đứng thứ 2 chiếm tỷ trọng khá tương đương với Tôm (46.36%).
Điều đáng chú ý là nhóm Mực, bạch tuộc xuất khẩu sang thị trường Mỹ lại
chiếm tỷ trọng gần như không đáng kể trong tổng kim ngạch thủy sản (1.1%),
trong khi nhóm hàng này luôn đứng thứ 3 với tỷ trọng gần 10% ở hầu hết các
thị trường khác của Việt Nam.
Hình 6: Giá trị xuất khẩu một số mặt hàng thủy sản chính sang thị
trường Mỹ giai đoạn 2001-2011 (đơn vị: nghìn USD)
(Nguồn: Tổng hợp từ Trademap.org)
Qua biểu đồ ta thấy Tôm luôn dẫn đầu trong số các mặt hàng thủy sản Việt
Nam xuất khẩu sang Mỹ, thứ 2 là Cá (trừ năm 2002) và thứ 3 là nhóm Cua,
giáp xác khác.
Kim ngạch xuất khẩu Tôm khá biến động. Năm 2003, xuất khẩu Tôm sang
Mỹ tăng một lượng lớn so với năm 2002 nhưng đến năm 2004 lại sụt giảm
mạnh, do việc Mỹ áp thuế chống bán phá giá đối với mặt hàng Tôm của Việt
0
100.000
200.000
300.000
400.000
500.000
600.000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
Thân mềm khác
13
Đối với thị trường Nhật Bản, hai nhóm hàng Tôm và Cá vẫn chiếm tỷ trọng
rất lớn trong cơ cấu hàng thủy sản xuất khẩu. Trong đó, xuất khẩu Tôm sang
Nhật chiếm tỷ trọng áp đảo các mặt hàng khác với tỷ trọng 61.28%, gấp 3 lần
so với nhóm hàng đứng thứ hai là Cá (22.74%). Tiếp sau đó là lần lượt là các
nhóm Mực, bạch tuộc; Thân mềm; Cua, giáp xác khác chiếm tổng tỷ trọng
xấp xỉ 16%.
Hình 8: Giá trị xuất khẩu một số mặt hàng thủy sản chính sang thị
trường Nhật Bản giai đoạn 2001-2011 (đơn vị: nghìn USD)
(nguồn: Tổng hợp từ Trademap.org)
Trong 3 nhóm hàng thủy sản xuất khẩu chính của Việt Nam sang Nhật Bản,
Tôm có kim ngạch lớn nhất và lớn hơn nhiều so với 2 nhóm còn lại trong suốt
giai đoạn 2001-2011.
Xuất khẩu Tôm sang thị trường Nhật tăng nhanh trong giai đoạn 2002-2006.
Tuy giai đoạn sau từ 2007-2009 có sụt giảm nhưng năm 2010 và 2011, kim
ngạch xuất khẩu mặt hàng này sang Nhật đã phục hồi và tăng nhanh.
0
100.000
200.000
300.000
400.000
500.000
600.000
700.000
2001
2002
2003
Tôm
Mực, bạch tuộc
Thân mềm khác
Cua, giáp xác khác
15
Hình 10: Giá trị xuất khẩu một số mặt hàng thủy sản chính sang thị
trường EU giai đoạn 2001-2011 (đơn vị: nghìn USD)
(nguồn: Tổng hợp từ Trademap.org)
Giai đoạn 2001-2003, kim ngạch xuất khẩu của cả 3 nhóm hàng Cá, Tôm,
Mực, bạch tuộc xấp xỉ nhau, tuy nhiên từ năm 2004 trở đi, tốc độ tăng trưởng
của 3 nhóm này thay đổi rõ rệt, làm cho tỷ trọng trong tổng kim ngạch cũng
thay đổi.
Cụ thể, xuất khẩu Cá có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ nhất, đặc biệt trong giai
đoạn 2004-2008. Năm 2009 tuy có sụt giảm đáng kể nhưng đã hồi phục vào
năm 2011. Dù vậy, kim ngạch xuất khẩu Cá vẫn lớn hơn nhiều so với 2 nhóm
còn lại từ năm 2004 đến 2011.
Nhóm Tôm có tốc độ tăng trưởng kim ngạch chậm hơn, tăng đều đặn trong
suốt giai đoạn 2004-2011 và luôn đứng thứ 2 trong số các nhóm hàng thủy
sản xuất khẩu sang EU.
0
100.000
200.000
300.000
400.000
500.000
600.000
700.000
800.000
Lý thuyết lợi thế so sánh được David Ricardo nghiên cứu và chỉ ra quy luật
lợi thế so sánh vào năm 1817. Theo ông, chuyên môn hóa quốc tế sẽ đem lại
lợi ích cho tất cả các quốc gia. Trong lý thuyết này, Ricardo đã so sánh chi phí
để sản xuất các mặt hàng khác nhau giữa các quốc gia, quốc gia nào sản xuất
mặt hàng có chi phí tương đối rẻ hơn so với quốc gia khác thì nên chuyên
môn hóa sản phẩm ấy.
Các giả định mà David Ricardo đưa ra là:
Chi phí vận chuyển hàng hoá bằng không.
Chi phí sản xuất cố định không thay đổi theo quy mô.
Chỉ có hai nước sản xuất hai loại sản phẩm.
Những hàng hoá trao đổi giống hệt nhau.
Các nhân tố sản xuất chuyển dịch một cách hoàn hảo.
Không có thuế quan và rào cản thương mại.
Thông tin hoàn hảo dẫn đến cả người bán và người mua đều biết nơi có
hàng hoá rẻ nhất trên thị trường quốc tế.
18
Với những giả định này, ông chứng minh rằng với mô hình 2x2 gồm 2 quốc
gia A và B, sản xuất 2 mặt hàng X và Y với chi phí của từng đơn vị như sau:
Nước A
Nước B
Mặt hàng X
Mặt hàng Y
đã chỉ ra rằng việc chuyên môn hóa sản xuất cho từng quốc gia như thế này sẽ
làm gia tăng lợi ích cho từng quốc gia đồng thời tăng tổng lượng sản phẩm
của toàn thế giới.
Mở rộng
Hai quốc gia, nhiều mặt hàng: Khi có nhiều hàng hoá với chi phí không
đổi và có hai quốc gia thì lợi thế so sánh của từng hàng hoá sẽ được sắp
xếp theo thứ tự ưu tiên từ hàng hoá có lợi thế so sánh cao nhất đến hàng
hoá có lợi thế so sánh thấp nhất và mỗi nước sẽ tập trung vào sản xuất
những mặt hàng có lợi thế so sánh từ cao nhất đến cao ở mức cân bằng.
Ranh giới mặt hàng nào là có lợi thế so sánh cao ở mức cân bằng sẽ do
cung cầu trên thị trường quốc tế quyết định.
Để so sánh bằng số liệu tính toán, ta thường dùng chỉ số lợi thế so sánh
hiện hữu RCA. Công thức:
Trong đó:
19
RCA là chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu của mặt hàng i của nước j
trong một thời kỳ nhất định.
Xij là kim ngạch xuất khẩu mặt hàng i của nước j trong thời kỳ
tương ứng,
w- thế giới,
Giá thuê tư bản ở các nước phát triển rẻ hơn tương đối so với giá thuê
nhân công; ngược lại ở các nước đang phát triển giá thuê nhân công lại
rẻ hơn tương đối so với giá thuê tư bản. Các nước phát triển có cung
yếu tố đầu vào về tư bản nhiều hơn các nước đang phát triển dẫn đến số
lượng tư bản trên mỗi nhân công lớn hơn. Ngược lại số nhân công trên
một đơn vị tư bản của các nước đang phát triển lại lớn hơn các nước
phát triển. Cho nên, các nước phát triển có lợi thế so sánh về giá thuê tư
bản còn các nước đang phát triển có lợi thế so sánh về giá thuê nhân
công.
Quốc gia nào sản xuất hàng hóa có hàm lượng nhân tố đầu vào mà
mình có lợi thế so sánh cao một cách tương đối thì sẽ sản xuất được
hàng hóa rẻ hơn tương đối và sẽ có lợi thế so sánh về những hàng hóa
này.
Điều này lý giải vì sao Việt Nam lại xuất khẩu nhiều sản phẩm thô (dầu thô,
than đá ) hoặc hàng hóa có hàm lượng nhân công cao như dệt may, giày
dép còn nhập khẩu máy móc, thiết bị từ các nước phát triển.
Ngành thủy sản là một ngành yêu cầu nguồn tài nguyên lớn và nhân lực có
kinh nghiên đánh bắt, chế biến thủy sản. Việt Nam là một quốc gia có diện
tích biển rộng lớn, chiếm ¾ tổng diện tích lãnh thổ, người dân đã có kinh