BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
PHẠM NGỌC HẢO
NGHI£N CøU GI¸ TRÞ CñA L¢M SµNG, XQUANG PHæI CHUÈN
Vµ PCR TRONG CHÈN §O¸N LAO PHæI AFB ¢M TÝNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
HÀ NỘI – 2013
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
PHẠM NGỌC HẢO
NGHI£N CøU GI¸ TRÞ CñA L¢M SµNG, XQUANG PHæI CHUÈN
Vµ PCR TRONG CHÈN §O¸N LAO PHæI AFB ¢M TÝNH
Chuyên ngành: Lao – Bệnh phổi
Mã số: 60.72.24
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1. TS. Trần Văn Sáu
2. PGS.TS Lê Ngọc Hưng
HÀ NỘI - 2013
2
CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU TRONG ĐỀ TÀI
AC: Độ chính xác ( Accuracy )
AFB Vi khuẩn kháng cồn, kháng acid ( Acid Fast Bacilli)
AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ( Accquired
Immune Deficiency Sydrome)
ATS Hội lồng ngực Mỹ ( American Thoracic Society)
BACTEC 460 Nuôi cấy trực khuẩn bằng gắn phóng xạ C14 bằng hệ máy
bactec 460
BK Vi khuẩn lao( Bacilli de Kock)
BN Bệnh nhân
4
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh lao là một bệnh xã hội, đang là vấn đề thời sự, ảnh hưởng nhiều
tới sức khỏe cộng đồng trên thế giới. Không một quốc gia nào, cộng đồng nào
trên thế giới không có người mắc bệnh lao và chết vì lao. Tỷ lệ mắc lao trên
toàn cầu ước tính mỗi năm khoảng 1% dân số thế giới, trong đó số người mắc
lao ở độ tuổi từ 15 đến 49 chiếm 60 – 75%, đây là lực lượng lao động chính,
khi bị bệnh là ảnh hưởng đến nền kinh tế, xã hội toàn cầu [1].
Theo TCYTTG [2007] có khoảng 1/3 dân số thế giới bị nhiễm lao, mỗi năm
có thêm gần 9 triệu người mắc bệnh lao và khoảng 2 triệu người chết vì lao [2].
Trong các thể lao, lao phổi hay gặp và dễ lây lan cho cộng đồng nhiều nhất.
Chẩn đoán xác định lao phổi phải dựa vào tìm AFB trực tiếp trong đờm, tuy nhiên
theo các nghiên cứu gần đây cho thấy phương pháp nhuộm soi đờm trực tiếp tìm
AFB chỉ phát hiện được 30-50% các trường hợp có AFB trong đờm [3, 4, 5], tỷ lệ
AFB âm tính trong đờm có xu hướng tăng lên hiện nay và đã cao hơn lao phổi AFB
dương tính trong đờm , nhiều trường hợp đã chẩn đoán nhầm với các bệnh phổi
không lao như viêm phổi, ung thư phổi do đó sẽ bỏ sót bệnh nhân và khi phát hiện thì
bệnh đã nặng lên nhiều, việc điều trị rất khó khăn, hiệu quả thấp.
Lao phổi AFB âm tính trong đờm trong quá trình phát triển có thể thành AFB
dương tính và là nguồn lây mạnh, theo các nghiên cứu dịch tễ thì nguồn lây từ lao
phổi AFB âm tính chiếm khoảng 1/4 tổng số nguồn lây [4, 5].
Các kỹ thuật để chẩn đoán lao phổi AFB âm tính trong đờm hiện nay
chủ yếu dựa vào nuôi cấy trên môi trường Lowenstein – Jensien nhưng đòi
hỏi phải có môi trường nuôi cấy chuẩn và thời gian ít nhất 1 tháng.
Trên thế giới hiện nay nhiều kỹ thuật cao như PCR và nuôi cấy MGIT
– Bactec được áp dụng nhằm chẩn đoán sớm, chính xác cho những trường
5
hợp bệnh lao phổi AFB âm tính, các kỹ thuật này có độ nhậy, độ đặc hiệu cao
hơn so với những kỹ thuật nuôi cấy cổ điển.
Ở Việt Nam kỹ thuật PCR và Bactec đã bước đầu được áp dụng để
Tử vong do lao (bao
gồm cả nhiễm HIV)
Các thể
AFB
(+)
Các thể
AFB
(+)
SL
(nghìn)
TL/100000
Châu Phi
2354
(26%)
1000 350 149 556 83
Châu Mỹ
370
(4%)
165 43 19 53 6
Trung Đông
622
(7%)
279 124 55 143 28
Châu Âu
472
(5%)
211 54 24 73 8
Đông Nam
Châu á
Soi đờm trực tiếp, chỉ khi có khoảng trên 5000 vi khuẩn/1ml thì mới
dương tính, vì vậy kết quả chỉ đạt 65% tổng số bệnh nhân lao phổi (ở
Ethipopia đạt 6%, Băngladesh đạt 35%, Zimbabue là 26%).[2].
Việt Nam, khoảng một nửa số bệnh nhân lao phổi không thể chẩn đoán
dựa vào soi đờm trực tiếp tìm AFB[7].
1.2. Nghiên cứu lao phổi AFB(-):
1.2.1.Định nghĩa lao phổi AFB (-):
Theo chương trình chống lao quốc gia 2007 [7]
Lao phổi AFB (-) thoả mãn 1 trong 2 tiêu chuẩn sau:
+ Kết quả xét nghiệm đờm AFB âm tính qua 2 lần khám mỗi lần xét
nghiệm 03 mẫu đờm cách nhau khoảng 2 tuần và có tổn thương nghi lao tiến
triển trên phim Xquang phổi và được hội chẩn với bác sĩ chuyên khoa lao.
+ Kết quả xét nghiệm đờm AFB âm tính nhưng nuôi cấy dương tính.
1.2.2. Nghiên cứu lao phổi AFB (-) ở trong nước và trên thế giới:
1.2.2.1.Trên thế giới:
Phát hiện và điều trị lao phổi AFB(+) luôn là chiến lược hàng đầu của
chương trình chống lao quốc gia (CTCLQG), bên cạnh đó việc phát hiện và
điều trị lao phổi AFB (-) cũng rất cần thiết. Người ta nhận thấy lao phổi
AFB(-) tuy ít lây hơn, tỷ lệ tử vong ít hơn lao phổi AFB(+), song việc phát
hiện thường khó khăn, phức tạp và tốn kém hơn nhiều bởi vì triệu chứng lâm
sàng của bệnh lao cũng trùng hợp với triệu chứng lâm sàng của nhiều bệnh
phổi khác, vì vậy phải tiến hành một phương pháp chặt chẽ trong chẩn đoán
lao ở những bệnh nhân có đủ ít nhất 3 mẫu đờm kết quả âm tính.Nếu chẩn
đoán những bệnh phổi không phải do lao là bệnh lao thì làm chậm trễ việc
chẩn đoán và điều trị sẽ không thích hợp. Ngược lại nếu bệnh nhân lao không
9
được chẩn đoán sớm thì việc điều trị sẽ kém hiệu quả, vi khuẩn trở lên kháng
thuốc và có thể gây tử vong và là nguồn lây nguy hiểm cho cộng đồng [8].
Nghiên cứu của Stuart M và cs (1996) cho biết với 139 trường hợp có
triệu chứng nghi lao phổi AFB(-), trong đó có 66 trường hợp được chẩn đoán
thấy có 259 bệnh nhân, 127 nam, 132 nữ với độ tuổi trung bình 37 tuổi thì
93% ho > 3 tuần, 95% đã nhận điều trị một hoặc nhiều loại kháng sinh, 92%
được thử đờm và 97% được kiểm tra Xquang phổi. Có 148 bệnh nhân chiếm
57% có 4 tiêu chuẩn trên và 238 bệnh nhân chiếm 92% có 3 tiêu chuẩn trên.
Chẩn đoán lao phổi AFB(-), dựa vào lâm sàng của nghiên cứu có 203 bệnh
nhân chiếm 78%. Có 22 trường hợp (8%) được chẩn đoán lao màng phổi và
34 trường hợp (14%) là chẩn đoán khác[14]
Theo TCYTTG (2005), tỷ lệ lao phổi AFB(-) và lao ngoài phổi ngày
càng tăng ở những nước có cả bệnh lao và HIV phổ biến, sự tăng số bệnh nhân
lao phổi AFB(-) là gánh nặng cho các phòng xét nghiệm và làm giảm giá trị
chẩn đoán dương tính của phương pháp soi kính. Vì vậy người ta tiến hành
những phương pháp xét nghiệm chẩn đoán nhanh AFB và nhận thấy những
phương pháp này có độ nhạy hơn nhiều so với phương pháp soi kính [6].
Theo nghiên cứu của Bah.B và cs tỷ lệ hang lao trên Xquang : 25,7%,
đám mờ: 75,2%[12]
1.2.2.2. Tại Việt Nam:
Ở nước ta các công trình nghiên cứu lao phổi AFB(-) còn ít. Nguyễn
Việt Cồ và cs (2000) nhận thấy trong số 1337 bệnh nhân có triệu chứng nghi
bị lao phổi AFB(-), các triệu chứng lâm sàng với tỷ lệ như sau: ho khạc
11
(86,44%), đau ngực(76,27%), mệt mỏi(75,42%), sốt (69,49%), chán ăn
(56,77%), Xquang phổi mức độ trung bình chiếm 68,65%[15]
Theo Trần Văn Sáng (2002) bệnh nhân lao thường có triệu chứng lâm
sàng như: sốt về chiều (37,5-38 0C), mệt mỏi, chán ăn, da xanh, ra mồ hôi
trộm về đêm.Khám thực thể giai đoạn đầu, tổn thương nhỏ không phát hiện
được triệu chứng gì rõ rệt.Một số trường hợp nghe thấy rale nổ cố định ở một
vị trí là dấu hiệu có giá trị[16]
Theo Bùi Xuân Tám (1989) nhận thấy trong chẩn đoán lao phổi AFB(-)
Xquang phổi: thâm nhiễm khu trú ở phần cao của phổi, có thể phá huỷ và lan
tràn [17].
nhẹ về chiều, ho, tức ngực…các triệu chứng ngày càng rõ hơn [22,23].
- Khởi phát cấp tính: Chiếm khoảng 10-20% trường hợp, các triệu
chứng rầm rộ giống như viêm phổi cấp hoặc giống triệu chứng cúm cấp, viêm
long đường hô hấp trên cấp, đôi khi đột ngột bằng ho ra máu, tràn khí màng
phổi, viêm thanh quản cấp hay gặp trong thùy viêm lao [24].
- Khởi phát lặng lẽ (không có triệu chứng): Chiếm khoảng 5% các
trường hợp, bệnh nhân được phát hiện do khám sức khỏe định kỳ, chụp phim
phổi hàng loạt [23,25,26].
* Triệu chứng lâm sàng:
+/ Triệu chứng toàn thân:
- Sốt: Là triệu chứng hay gặp trong lao phổi [23,25], bệnh nhân có sốt
nhẹ, khi sốt cao thường tổn thương rộng hay có bội nhiễm vi khuẩn khác mà
qua cấy vi khuẩn ở dịch rửa phế quản, phế nang phát hiện ra [26].
13
- Gầy sút cân: Là triệu chứng toàn thân hay gặp ở bệnh nhân lao phổi,
thường sút cân từ từ, khác với một số bệnh khác như ung thư sút cân nhanh .
- Ra mồ hôi trộm: Thường xuất hiện về đêm có khi ra nhiều làm bệnh
nhân khá mệt do mất điện giải và do mất ngủ [21,23, 27].
+/Triệu chứng cơ năng:
- Ho: Theo nhiều tác giả thì >90% bệnh nhân lao có ho, từ ho khan, ho
có đờm đến ho ra máu, vì vậy TCYTTG khuyến cáo nên thử đờm tìm AFB
cho những người ho > 2 tuần.
Ho khan là triệu chứng hay gặp ở bệnh nhân lao AFB âm tính trong đờm,
do bệnh nhân không khạc được đờm nên việc tìm AFB bằng phương pháp trực
tiếp khó khăn, phải lấy dịch rửa phế quản-phế nang để xét nghiệm [26,28].
- Đau ngực:Là những triệu chứng hay gặp khi có những tổ thương phối
hợp như tràn dịch màng phổi, tràn khí màng phổi, nếu tổn thương rộng có thể
gây khó thở, thậm chí suy hô hấp [4,21,29].
+/ Triệu chứng thực thể: Thường nghèo nàn, phần lớn bệnh nhân không
có triệu chứng thực thể, nếu có thì thường lao phổi có phối hợp với tràn dịch
bầu dục, có thể gặp nhiều nốt khác nhau với kích thước 1-2mm, đậm độ cản
quang và phân bố đều nhau ở hai bên phế trường (lao kê), các nốt có kích
thước và đậm độ khác nhau, phân bố rải rác và ỵâp trung thành đám, gọi là
đám thâm nhiễm, thực chất là các hình chiếu của các nốt nằm ở độ sâu, nông
khác nhau [31,33].
Tổn thương thâm nhiễm: Là bóng mờ thuần nhất hoặc không thuần
nhất, đường kính >1cm, thường ở thùy trên và có hang, các loại thâm nhiễm
như: Thâm nhiễm tròn Assman, thâm nhiễm dạng tinh vân, thâm nhiễm tam
giác, có thể gặp ở thùy, phân thùy viêm lao, viêm phổi bã đậu, hoặc các nốt
rải rác trong phế quản phế viêm lao [33,39].
15
Tổn thương hang: Là hình sóng giới hạn rõ rệt bởi một bờ cản quang
liên tục, độ dày của bờ thay đổi, mỏng từ 1-3mm, hơi đậm, đậm độ cản quang
thấp hơn xương, trong lòng chứa khí hay có dịch, xung quang hang ở tổn
thương lao mới thường có tổn thương nốt hay thâm nhiễm gọi là tổn thương
vệ tinh, hang cũ thường méo mó, tổn thương xơ phát triển làm co kéo tổ chức
lân cận, hang lao là đièu kiện tốt cho vi khuẩn lao phát triển. [33,40].
Tổn thương vôi xơ: Vôi là tổn thương có đậm độ cản quang đậm hơn cả
xương, thường tròn hoặc bầu dục, đường kính 2-5cm, hay gặp ở đỉnh phổi,
tổn thương xơ là các dải mờ trong phổi, đậm đọ thấp hơn vôi, nhận biết gián
tiếp qua co kéo tổ chức [29,33].
Theo Đỗ Đức Hiển (1999), có thể nhấn mạnh vào một số yếu tố
Xquang cho phép chẩn đoán lao phổi: đó là yếu tố tổn thương ở hai bên phổi,
ở hai đỉnh phổi, kết hợp di chứng màng phổi với tổn thương nhu mô phổi. Các
yếu tố trên kết hợp càng nhiều càng có xu hướng nghĩ tới lao phổi (3).
Tuy Xquang phổi giúp định hướng chẩn đoán lao phổi nhưng nếu phụ
thuộc vào Xquang như là một phương pháp duy nhất sẽ dẫn đến chẩn đoán sai
trong lao phổi. Một nghiên cứu ở Ấn Độ cho thấy trong 2229 bệnh nhân chụp
Xquang phổi có 227 bệnh nhân được xác đinh lao phổi dựa vào Xquang.
Trong 227 bệnh nhân này có 81 người (36%) cấy đờm âm tính, 2002 bệnh
17
Môi trường Lowenstein – Jensen là môi trường cổ điển để xác định đặc
điểm của Mycobacteri gây bệnh, là môi trường đặc, vi khuẩn lao mọc từ 2-3
tuần, khuẩn lạc của trực khuẩn lao mọc chậm, sặc sỡ, màu vàng nhạt, mủn,
nhờ nuôi cấy mà phân biệt được với Mycobacteri không điển hình mọc nhanh
hơn, khuẩn lạc nhẵn, màu đỏ gạch [44].
Chỉ định của nuôi cấy là những trường hợp lao phổi AFB âm tính trong
đờm và lao kháng thuốc, độ nhậy kỹ thuật cao hơn nhuộm soi trực tiếp , theo
các nghiên cứu thì Se khoảng 82%, Sp 98%, tuy nhiên cũng có trường hợp
dương tính giả do lây chéo và hay gặp trong giai đoạn đầu khi sử lý bệnh
phẩm [33,40,45,46,47].
1.3.2.3. Kỹ thuật nuôi cấy nhanh ( Bactec, MGIT).
Đây là hai kỹ thuật mới để phát hiện AFB nhanh (7-14 ngày), làm được
kháng sinh đồ, được chỉ định để chẩn đoán lao phổi âm tính và lao kháng
thuốc, tuy nhiên còn hạn chế do trang thiết bọ còn đắt tiền nên không phổ cập
[48,49,50].
Kỹ thuật sử dụng hệ Bactec: Người ta gắn cacbon phóng xạ vào acid
palmitric và acid formic trong môi trường nuôi cấy vi khuẩn lao, khi vi khuẩn
chuyển hóa sẽ lấy các acid béo này và giải phóng ra CO2(có cacbon phóng
xạ) được đo bằng máy Bactec -460 TB systerm. Kỹ thuật này cho kết quả
nhanh (5-7 ngày).
Kỹ thuật MGIT (Mycobactetie Growth Indicator Tube).
Sử dụng các chất đặc biệt để kích thích vi khuẩn lao sinh sản nhanh.
Khi chúng phát triển sẽ sử dụng oxy và thải ra CO
2
trong môi trường nuôi
cấy. Dùng bộ phận nhận cảm có phát quang có thể nhận biết được CO
2
(môi
trường nuôi cấy chuyển từ màu xanh lục sang màu vàng). Phương pháp này
Trong nhiều thập niên qua kỹ thuật PCR được coi như tiêu chuẩn vàng
để chẩn đoán lao phổi, tuy nhiên ở một số nước thì chỉ coi xét nghiệm này
như một tiêu chuẩn tham khảo [54,55].
1.3.2.5. Xét nghiệm mô học:
Các mảnh sinh thiết được chẩn đoán mô học thấy nang lao điển hình (ở
giữa là chất hoại tử bã đậu, xung quanh là tế bào bán liên, lympho bào, tế bào
khổng lồ Langhans).
1.3.3. Cải thiện phương pháp soi trực tiếp:
Forelds J và cs (2000) thấy rằng nhuộm và soi trực tiếp bằng kính hiển
vi huỳnh quang có độ nhậy cao hơn kính hiển vi thông thường nên có thể áp
dụng cho những trường hợp lao phổi AFB âm tính trong đờm, nhưng giá
thành đắt hơn 5 lần và bóng đèn Halogen phải thay sau 20 giờ làm việc.
Rieder HL (1998) nhận thấy trong những trường hợp lao phổi AFB âm
tính, làm thuần nhất đờm bằng N-Acetyl-Cysteine có thêm NaOH, sau đó ly
tâm, soi trực tiếp tỷ lệ AFB dương tính đạt 20% [56].
1.3.4. Cải thiện mẫu bệnh phẩm:
Để tăng hiệu quả phát hiện AFB thì phải cải thiện phương pháp lấy
bệnh phẩm nhằm lấy được mẫu bệnh phẩm có nhiều vi khuẩn nhất [44,49,52].
Thăm khám bằng nội soi: Soi thanh quản, soi màng phổi, soi phế
quản…để lấy bệnh phẩm xét nghiệm tìm AFB hoặc mô học.
* Soi phế quản ống mềm:
Soi phế quản ống mềm trong lao phổi: nghi ngờ lao thanh quản, tìm
AFB ở những bệnh nhân lao phổi AFB âm tính bằng các phương pháp cổ
điển, để phát hiện rò hạch vào phế quản trong lao hạch phế quản, để chẩn
đoán mô bệnh bằng sinh thiết xuyên thành phế quản trong u lao, lao tản mạn,
để chẩn đoán ung thư phổi phát triển trên tổn thương lao hoặc ung thư kèm
theo lao để phân biệt lao với ung thư hay bệnh khác giống lao, ngoài ra còn để
chẩn đoán ho máu chưa rõ nguyên nhân, ngoài mục đích chẩn đoán soi phế
20
quản còn mục đích điều trị như làm lưu thông phế quản, cắt bỏ u sùi trong phế
triển trên phim Xquang phổi và được hội chẩn với bác sĩ chuyên khoa lao.
+ Kết quả xét nghiệm đờm AFB âm tính nhưng nuôi cấy dương tính
Có xét nghiệm nuôi cấy Bactec – MGIT 960 đờm hoặc dịch phế quản
dương tính.Trong 50 bệnh nhân nghiên cứu có 21 bệnh nhân được soi phế
quản ống mềm lấy dịch rửa phế quản, phế nang.
Nhóm 2 (Nhóm chứng): là 30 bệnh nhân được chẩn đoán viêm phổi
theo hội lồng ngực Anh ( American Thoracic Society )[36]:
- Lâm sàng, cận lâm sàng, đáp ứng với điều trị kháng sinh.
- Có vi khuẩn mọc trong đờm hoặc dịch rửa phế quản phế nang
2.1.3.Tiêu chuẩn loại trừ:
Là những bệnh nhân có đủ tiêu chuẩn trên nhưng có sự khác biệt là:
- Bệnh nhân nhóm nghiên cứu có nuôi cấy Bactec-MGIT âm tính.
22
- Bệnh nhân có chống chỉ định soi phế quản.
- Bệnh nhân không hợp tác.
2.2. Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1. Cách chọn mẫu và cỡ mẫu:
-Chọn mẫu tiện lợi: Lấy tất cả các bệnh nhân có đủ tiêu chuẩn như trên
và trong khoảng thời gian xác định.
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu:
- Là nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu
2.3. Nội dung nghiên cứu:
2.3.1. Nghiên cứu về lâm sàng
Các bệnh nhân đều được học viên khám bệnh tỷ mỷ, khai thác tiền sử
bệnh, các thông số đều được ghi vào mẫu bệnh án nghiên cứu với các nội
dung sau [1,51]:
- Lý do vào viện
- Cách khởi phát bệnh: cấp tính, bán cấp, lặng lẽ.
- Thời gian phát hiện bệnh: < 2 tuần, > 2 tuần.
- Các triệu chứng lâm sàng:
Có các kỹ thuật nhuộm Ziehl-Neelsen, nhuộm Kin-youn, nhuộm soi
huỳnh quang,các kỹ thuật này chỉ có thể phát hiện được vi khuẩn kháng cồn,
kháng toan (AFB), không thể định danh được vi khuẩn và cũng chỉ phát hiện
được AFB với điều kiện số lượng AFB trong 1ml bệnh phẩm từ 5000-10000
vi khuẩn.
24
2.3.4. Kỹ thuật cấy vi khuẩn ngoài lao:
Bệnh phẩm đờm hoặc dịch rửa phế quản của bệnh nhân nhóm chứng sẽ
được cấy, tìm vi khuẩn ngoài lao để xác định tác nhân gây viêm phổi được
thực hiện tại Khoa Vi sinh bệnh viện 198.
2.3.5. Kỹ thuật PCR (Được thực hiện tại Labo vi sinh Bệnh viện Phổi
Trung ương).
2.3.5.1. Nguyên lý:
PCR là kỹ thuật nhân một trình tự AND đích đặc hiệu cho M.
Tuberculosis trong một chuỗi các chu kỳ tổng hợp AND gồm 3 giai đoạn:
- Biến tính (94◦C).
- Lai ghép (65◦C).
- Tổng hợp (72◦C).
Lặp lại với sự trợ giúp của men AND Polymerase chịu nhiệt, các đoạn
mồi Oligonucleotid đặc hiệu với các Deoxynucleotid Triphosphat (DNTP).
AND Polymerase là men có nhiệm vụ sao chép AND trong quá trình sinh sản
tế bào, nó cũng có thể tái sao chép nhiều lần mảnh AND nếu được kích thích
đặc hiệu. Bằng cách sử dụng một AND Polymerase đặc hiệu như Taq
polymerase và các chất cơ sở cần thiết cho tổng hợp AND, người ta có thể
nhân lên tới triệu lần một mảnh AND mà ta muốn phát hiện như gen GroE đối
với trực khuẩn lao, sau khi chuỗi đích được khuyếch đại, vào lúc này có thể
phát hiện bằng lai tạo với mẫu dò gien [61].
2.3.5.2. Thực hiện kỹ thuật[43,68]
* Chuẩn bị mẫu: 5ml dịch rửa phế quản phế nang vô trùng.
* Sử lý mẫu: Dùng Guadinium thionyanate (GuSCN) để ly giải tế bào