Nghiên cứu giá trị của nội soi màng phổi trong chẩn đoán và điều trị tràn khí màng phổi - Pdf 19

Đặt vấn đề
Tràn khí màng phổi (TKMP) được định nghĩa là sự xuất hiện khí
trong khoang màng phổi. Khái niệm này được Itard đề cập đến đầu tiên từ
năm 1803, sau đó các triệu chứng lâm sàng được Laennec mô tả vào năm
1819. Đây là một bệnh lý xảy ra đột ngột, đòi hỏi phải được xử trí nhanh để
loại bỏ khí trong khoang màng phổi (MP) trong trường hợp tràn khí màng
phổi (TKMP) nhiều, nhanh nếu không bệnh nhân có thể bị suy hô hấp và tử
vong.
Điều trị TKMP có 2 vấn đề cơ bản: hút hết khí ra khái khoang MP và
phòng ngừa tái phát. Nội soi màng phổi (NSMP) với sự hỗ trợ của video
(VATS: video - assisted thoracoscopic surgery) ra đời đã dần trở thành
phương pháp điều trị có hiệu quả đối với các trường hợp TKMP tái phát và
TKMP hút dẫn lưu không kết quả. Ở những bệnh nhân này không có chỉ
định phẫu thuật cắt phổi vì nhiều lý do (bệnh nhân lớn tuổi có bệnh lý phổi
mạn tính, TKMP có nhiều bóng kén khí lan toả ở mét hoặc hai bên, hoặc
bệnh nhân trẻ tuổi quá mà việc phẫu thuật cắt phổi có thể ảnh hưởng lớn tới
sức lao động của người bệnh trong thời gian còn lại). Qua NSMP có thể
tiến hành chà sát MP, cắt bóng khí, cắt thuỳ phổi, khâu lỗ thủng, cắt bỏ
MP, bơm hoá chất hay bét talc để gây dính MP.
Trong số các hoá chất được sử dụng để gây dính màng phổi thì bột
talc vẫn được coi là chất hóa học lý tưởng nên lựa chọn đầu tiên do bét talc
có hiệu quả điều trị cao nhất, chi phí thấp, sẵn có, dễ sử dụng và hầu như
không có tác dụng phụ nghiêm trọng nào xảy ra (Sahn (2000).
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu đều cho thấy hiệu
quả của phương pháp NSMP gây dính bằng bột talc trong điều trị TKMP
với tỷ lệ thành công từ 90 - 100%, tỷ lệ tái phát thấp từ 2 - 14%. Tuy
1
nhiên, cũng có một sè nghiên cứu nhận thấy bên cạnh khả năng gây dính
màng phổi, bét talc có thể gây ra nhiều tác dông phụ. Các tai biến sớm có
thể gặp nh đau ngực, sốt, nhiễm trùng khoang MP, ARDS, suy hô hấp, rối
loạn huyết động, thậm chí tử vong. Tác dông phụ lâu dài của phương pháp

tạng quặt ngược lại, liên tiếp với lá thành, theo hình cái vợt mà cán ở dưới
(tạo lên dây chằng phổi hay dây chằng tam giác). Lá tạng lách vào các khe
liên thuỳ và ngăn các thuỳ với nhau. Mặt trong lá tạng dính chặt vào bề mặt
phổi, còn ở mặt ngoài thì nhẵn, bóng và áp sát vào lá thành.
Lá thành
Bao phủ tất cả mặt trong của lồng ngực liên tiếp với lá tạng ở rốn
phổi và tạo nên dây chằng tam giác lúc nó đi từ rốn phổi đến cơ hoành. Lá
thành quấn lấy phổi, dính vào các vùng xung quanh phổi nên có các mặt
cũng như phổi, lá thành tạo nên các túi cùng (góc): góc sườn hoành, góc
sườn trung thất trước, góc sườn trung thất sau, góc hoành trung thất.
Khoang màng phổi
Khoang MP hay khoang phế mạc là một khoang ảo. Hai lá thành và
lá tạng của MP áp sát vào nhau và có thể trượt lên nhau lúc hít vào hay thở
ra. Bình thường khoang MP có áp lực âm (- 4 đến –7mmHg), nhưng vì một
lý do nào đó làm mất áp lực âm ở khoang MP, nhu mô phổi sẽ bị xẹp lại
3
tuỳ theo mức độ. Nếu mức độ nặng, nhu mô phổi sẽ bị co rúm về phía
rốn phổi.
* Phân bố mạch máu:
- Tưới máu lá tạng do các nhánh của động mạch phổi. Các mao tĩnh
mạch đổ về các tĩnh mạch phổi, riêng ở rốn phổi mao tĩnh mạch đổ về tĩnh
mạch phế quản.
- Tưới máu lá thành do động mạch vú trong, động mạch liên sườn và
động mạch hoành, các động mạch này đều xuất phát từ động mạch chủ.
Các tĩnh mạch này đổ về hệ tĩnh mạch azygos và tĩnh mạch vú trong. Tĩnh
mạch azygos đổ về tĩnh mạch chủ trên, còn tĩnh mạch vú trong đổ về tĩnh
mạch không tên.
* Phân bố bạch mạch: Các bạch mạch dưới thanh mạc của cơ hoành
có nhiều nhánh nối lớn đi xuyên cơ hoành. Do có sự nối thông này, khoang
MP và ổ bụng có thể thông thương với nhau. Các quá trình bệnh lý trong ổ

ngoài cũng như bên trong. Thể tích dịch MP sinh lý là 1-10ml hoặc 0,1-
0,2ml/kg cân nặng cơ thể. Nồng độ protein dịch MP khoảng 1g/dl .
Dịch MP sinh lý được tạo ra chủ yếu từ các hệ thống mao quản ở lá
thành. Sự kiểm soát dịch, các protein và các hạt trong khoang MP chủ yếu
do MP thành, nhờ có mạng bạch huyết lưu thông thẳng với khoang MP.
Bình thường quá trình bài tiết dịch thấm và tái hấp thu dịch ở MP được cân
bằng để đảm bảo cân bằng động thể tích và thành phần dịch MP.
Hệ thống bạch huyết của MP thành có vai trò chính trong hấp thu
vào trong hệ tuần hoàn dịch MP và các hạt có kích thước bằng hồng cầu.
5
Khả năng dẫn lưu của hệ thống bạch huyết của MP thay đổi từ vài chục ml
cho đến 600ml trong 24 giê [5].
Sự mất cân bằng giữa quá trình bài tiết và hấp thu dịch MP, sự cản
trở lưu thông của hệ bạch huyết MP sẽ gây ra tràn dịch MP.
1.2. Tràn khí màng phổi
1.2.1. Định nghĩa, phân loại tràn khí màng phổi
* Tràn khí màng phổi là sự xuất hiện khí ở trong khoang MP [27].
* Tràn khí màng phổi được phân loại [42,63]:
- Tràn khí màng phổi tự phát (TKMPTP): xảy ra không do chấn
thương hoặc nguyên nhân nào khác trước đó. TKMPTP lại được phân chia
thành:
• Tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát: xảy ra ở người khoẻ
mạnh, không có bệnh lý về phổi.
• Tràn khí màng phổi tự phát thứ phát: là biến chứng của bệnh
phổi, hay gặp nhất là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
(BPTNMT), viêm phổi do Pneumocystis carinii [63].
- Tràn khí màng phổi do chấn thương: xảy ra do hậu quả trực tiếp
hoặc gián tiếp của chấn thương vào lồng ngực bao gồm cả TKMP do các
kỹ thuật thăm dò chẩn đoán và điều trị.
1.2.1.1. Tràn khí màng phổi tự phát

của bóng khí đi vào khoang MP [51]. Phần lớn các BN TKMP không có
tràn dịch MP trên phim xquang phổi chuẩn. Lý do là TKMP làm tăng áp
lực trong khoang MP, ngăn cản dịch từ mô kẽ di chuyển vào khoang MP.
Bệnh nhân bị TKMPTP nguyên phát thường xảy ra ở người cao, gầy.
Điều này có thể giải thích: áp lực khoang MP giảm khoảng 0,2cm nước với
7
mỗi cm chiều cao, áp lực khoang MP sẽ âm hơn ở đỉnh phổi của người cao
so với người thấp nên các phế nang vùng đỉnh phổi sẽ căng hơn do chịu áp lực
lớn hơn. Trong giai đoạn giãn ra dễ dẫn đến hình thành kén khí dưới MP.
Tỷ lệ tái phát TB của TKMPTP nguyên phát được điều trị bằng các
phương pháp: nằm nghỉ tại giường, chọc hút khí và dẫn lưu MP là 30%,
thay đổi từ 16 - 52% [13]. Sadikot RT và cs (1997) có nhận xét tỷ lệ tái
phát không liên quan đến chiều cao và cân nặng của BN, điều trị ban đầu
cũng như thể tích của TKMP. Tỷ lệ tái phát thường gặp ở nam giới cao
hơn là nữ giới. Ngừng hút thuốc làm giảm nguy cơ tái phát TKMP [61].
Không có sự liên quan giữa số lượng của kén khí hoặc kích thước của
kén khí trên phim CLVT ngực hoặc thấy trên bề mặt của phổi khi mở
ngực với sự tái phát của TKMP.
b) Tràn khí màng phổi tự phát thứ phát
TKMPTP thứ phát xảy ra thường nặng hơn TKMPTP nguyên phát
do tràn khí trên nền bệnh phổi có từ trước.
Tỷ lệ mắc của TKMPTP thứ phát ở nam là 6,3/100.000 dân mỗi năm
đối với nam và 2/100.000 dân đối với nữ. Tỷ lệ nam/nữ là 3,2/1 [27]. Bệnh
gặp nhiều nhất ở lứa tuổi 60 - 65 và ở những người bị bệnh phổi tắc nghẽn
mãn tính.
Những nguyên nhân gây TKMPTP thứ phát: BPTNMT, hen phế
quản, xơ phổi, viêm phổi kẽ, bệnh bụi phổi, lao phổi, viêm phổi do
Pneumocystis carinii, viêm phổi hoại tử, ung thư phổi, ung thư di căn
màng phổi
TKMPTP thứ phát xảy ra khi áp lực phế nang vượt quá áp lực mô kẽ

sinh thiết MP, sinh thiết xuyên vách phế quản, sinh thiết xuyên thành ngực,
đặt catheter tĩnh mạch trung tâm
1.2.1.3. Tràn khí màng phổi ở bệnh nhân AIDS
TKMPTP có thể gặp ở 2 - 6% BN nhiễm HIV, trong đó 80% những
BN này có liên quan đến viêm phổi do Pneumocystis carinii. Tỷ lệ chết
trong bệnh viện là trên 25% và thời gian sống TB là 3 tháng. Cơ chế gây ra
TKMP là sự vỡ của các kén khí lớn dưới MP có liên quan đến sự hoại tử tổ
chức dưới MP. Tái phát của TKMP ở BN AIDS cùng bên hoặc đối bên rất
thường gặp [27].
1.2.2. Hậu quả sinh lý của tràn khí màng phổi
Khoang MP bình thường không có khí. Có khí trong khoang MP là
hiện tượng bất thường. Tuỳ theo lượng khí trong khoang MP nhiều hay Ýt
có thể gây ra những ảnh hưởng đến nhiều cơ quan trong cơ thể, trước hết là
hô hấp và tuần hoàn
* Ảnh hưởng đến hô hấp: Không khí lọt vào khoang MP làm xẹp
phổi. Khi hít vào khí không thể vào được các phế nang ở phần phổi xẹp,
đồng thời các phế nang ở phần phổi không bị xẹp cũng bị dồn nén, khí
không thể thoát ra ngoài trong động tác thở ra, khí cặn tồn dư trong phổi rất
lớn, có thông khí nhưng không có sự trao đổi khí. Nếu toàn bộ phổi bên bị
tràn khí bị xẹp, khả năng hô hấp của bên đó bị mất hoàn toàn. Nếu phổi chỉ
bị xẹp một phần thì khả năng hô hấp của bên đó bị mất đi một phần, phần
đó không chỉ tương ứng với thể tích phổi bị suy giảm mà còn lớn hơn rất
nhiều vì phần hoạt động thông khí của phần phổi còn lại không bị xẹp cũng
bị ảnh hưởng. Máu chứa nhiều CO
2
từ động mạch phổi đưa đến phổi không
thể thải được CO
2
ra, các phế nang cũng không nhận được O
2

b) Cận lâm sàng
11
- Xquang phổi là chỉ định đầu tiên được dùng để đánh giá TKMP vì
những ưu điểm như: đơn giản, không đắt tiền, nhanh chóng và không xâm
lấn. Tuy nhiên, hiệu quả kém hơn CLVT ngực trong chẩn đoán TKMP Ýt
cũng như phát hiện các kén khí.
Xquang phổi chuẩn giúp chẩn đoán xác định TKMP với 5 triệu
chứng:
+ Phổi sáng ở vùng có tràn khí.
+ Mất vân phổi, nhu mô phổi co rúm về phía rốn phổi.
+ Tim, trung thất bị đẩy sang bên đối diện.
+ Khoang liên sườn giãn.
+ Cơ hoành hạ thấp
Các tổn thương, thâm nhiễm ở bên phổi xẹp khó xác định. TKMP tự
phát bên phải và trái có tỷ lệ gần ngang nhau. TKMP toàn bộ gặp nhiều
hơn TKMP khu trú (80% so với 20%) [1].
- Chụp CLVT ngực cho chẩn đoán xác định TKMP, vị trí, mức độ
của tràn khí trong trường hợp Xquang phổi chưa rõ ràng, nhất là ở BN bị
giãn phế nang. Đặc biệt chụp CLVT ngực lớp mỏng cho thấy các bóng khí,
kén khí, dày dính và các tổn thương phổi như giãn phế nang, thâm nhiễm
nhu mô, tổn thương tổ chức kẽ. Các bóng khí có bờ mỏng, hay gặp nhất ở
vùng đỉnh phổi, sau đó là phân thuỳ đỉnh của thuỳ giữa, các vùng rìa phổi
[7]. CLVT ngực giúp phân biệt các bóng khí lớn với TKMP.
1.2.4. Mức độ tràn khí màng phổi
Mức độ TKMP có ý nghĩa trong việc lựa chọn hướng điều trị
thích hợp.
- Berk JL (1997) đưa ra cách tính thể tích TKMP dựa trên kích thước
TKMP trên phim xquang phổi thẳng [17]
% thể tích TKMP = [1 – a
3

và giảm khả năng tái phát. Hiện nay, lựa chọn điều trị phụ thuộc vào
TKMP lần đầu tiên hay tái phát, mức độ TKMP, số lượng, vị trí và kích
thước của các bóng khí.
1.2.5.1. Theo dõi
13
Được chỉ định khi BN có mức độ tràn khí nhỏ hơn 15% thể tích nửa
ngực hoặc TKMP Ýt (< 2cm), không khó thở, không có rối loạn huyết
động [31,38,17,63]. BN cần nghỉ ngơi tuyệt đối, thở oxy liều cao (4 - 6
lít/phút, có thể tới 10 lít/phút). Việc hít thở oxy nồng độ cao có thể làm
giảm áp lực toàn phần của khí trong mao mạch của MP bằng cách làm
giảm áp lực riêng phần của nitrogen. Do đó tạo nên chênh lệch về áp suất
giữa mao mạch của MP với khoang MP và dẫn đến làm tăng hấp thu khí từ
khoang MP [31]. Những BN bị TKMP được thở bổ sung oxy nồng độ cao
thì tốc độ hấp thu khí trong khoang MP nhanh gấp 4 lần. Những trường
hợp TKMP chiếm hơn 15% thể tích nửa ngực có chỉ định chọc hút hoặc
dẫn lưu khí [28].
1.2.5.2. Chọc hút khí bằng kim
Phương pháp này chỉ định khi TKMPTP nguyên phát cần can thiệp
và TKMPTP thứ phát lần đầu mức độ Ýt (< 2cm), BN dưới 50 tuổi, không
khó thở, không có rối loạn huyết động. Những BN TKMPTP thứ phát sau
chọc hút hết khí nên theo dõi tại bệnh viện Ýt nhất 24 giờ. Có thể chọc hút
khí lần 2 hoặc đặt catheter ở BN TKMPTP nguyên phát khi việc chọc hút
lần đầu không có kết quả và lượng khí hút ra < 2,5 lít [31,17,63].
1.2.5.3. Đặt dẫn lưu màng phổi
Chỉ định khi: TKMPTP thứ phát khó thở nhiều, có rối loạn huyết
động; TKMP tái phát hoặc TKMPTP nguyên phát thất bại khi chọc hút
bằng kim.
Sau khi hết khí phải kẹp sonde dẫn lưu và kiểm tra lại Xquang phổi,
nếu phổi nở tốt, hết khí thì theo dõi, sau 24 giờ chụp kiểm tra nếu không bị
TKMP lại thì rút sonde. Những kỹ thuật này thành công trong khoảng 70%

Can thiệp phẫu thuật được chỉ định khi: TKMP tái phát lần thứ 2;
tiền sử TKMP đối bên; TKMPTP 2 bên; sau 5 - 7 ngày hút dẫn lưu không
kết quả hoặc phổi không nở hoàn toàn; tràn máu MP tự phát kèm theo;
nghề nghiệp có nguy cơ cao bị TKMP (phi công, thợ lặn…), TKMP có
bóng khí dưới MP lá tạng trên phim CLVT ngực lớp mỏng [30,69].
Từ khi có NSMP đặc biệt là NSMP có sự hỗ trợ của video cho phép
thực hiện nhiều kỹ thuật chẩn đoán và điều trị trong quá trình phẫu thuật.
NSMP giúp quan sát trực tiếp MP, có thể dễ dàng phát hiện các bóng khí,
can thiệp đốt bằng phương pháp thông thường hoặc bằng điện đông cao
tần, thắt bóng khí kết hợp gây dính bằng bét talc. Theo Sawada S và cs
(2005) hiệu quả điều trị của NSMP tương đương với phẫu thuật mở ngực.
Tỷ lệ thành công của NSMP gây dính bột talc khoảng 97% [48]. Tỷ lệ tái
phát TKMP của phương pháp này từ 2-14% so với tỷ lệ tái phát của
phương pháp mở ngực là 0-7%. Điều này có thể được giải thích là do khả
năng phát hiện và xử trí các bóng khí ở đỉnh phổi khi NSMP không thuận
lợi như khi phẫu thuật mở ngực. Tuy nhiên, các nghiên cứu nhận xét một
số ưu điểm của NSMP như thời gian nằm viện, thời gian lưu sonde sau can
thiệp ngắn, các biến chứng như đau, chảy máu, nhiễm trùng của NSMP Ýt
hơn phẫu thuật mở ngực [61].
1.3. Vai trò của bột talc trong bệnh lý màng phổi
1.3.1. Đặc điểm cấu tạo của bột talc
Thành phần cấu tạo bột talc là Magnesium silicat hydrate có công
thức hóa học Mg
3
Si
4
O
10
(OH)
2

tính vào khoang MP và bài tiết ra Interleukin 8 (IL-8). Đồng thời, bột talc
cũng gây tập trung nhiều đại thực bào vào khoang MP, kích thích đại thực
17
bào giải phóng ra IL-8, thêm vào đó đại thực bào sẽ gây hóa ứng động đối
với protein 1. Hiện tượng bám dính của các phân tử này lên trên tế bào
trung biểu mô MP sẽ khuếch đại phản ứng viêm và cuối cùng sẽ dính chặt
lá thành vào lá tạng làm mất khoang MP [62].
Antony V.B và cộng sự (2004) nghiên cứu trên những BN được gây
dính màng phổi bằng bôt talc nhận thấy, những BN có tổn thương các tế
bào trung biểu mô màng phổi lan toả có nồng độ yếu tố tăng sinh sợi xơ rất
thấp so với những BN có Ýt tổn thương trên các tế bào này. Hiệu quả gây
dính màng phổi cao hơn ở những BN Ýt có tổn thương MP, điều đó cho
thấy tế bào trung biểu mô MP có vai trò quan trọng trong cơ chế gây dính
MP.
1.3.3. Các biện pháp gây dính màng phổi bằng bột talc
Bét talc được sử dụng để gây dính màng phổi thông qua việc bơm
trực tiếp vào khoang màng phổi qua ống dẫn lưu màng phổi. Có 2 biện
pháp bơm bột talc vào khoang màng phổi:
- Bơm bột talc vào khoang màng phổi qua ống dẫn lưu màng phổi.
Bột talc được bơm vào dưới dạng nhò dịch. Ưu điểm của phương pháp này
là đơn giản, dễ thực hiện. Tuy nhiên, nhược điểm là bột talc thường tập
trung thành đám ở màng phổi, lượng bột talc bơm vào khoang MP mỗi lần
khá nhiều.
- Bơm bột talc dạng phun mù dưới hướng dẫn của NSMP, bét talc
được rải đều lên bề mặt MP. Ưu điểm của phương pháp này là bột talc rải
đều, tránh được tình trạng bột talc tập trung thành đám ở MP, lượng bột
talc mỗi lần bơm thường thấp.
1.4. Các tác dụng phụ của bột talc
18
Bên cạnh khả năng gây dính màng phổi, bột talc có thể gây nhiều các

1.4.1.2. Sốt
Sốt sau gây dính MP là biến chứng thường gặp với hầu hết các hoá
chất gây dính MP. Sốt có thể xảy ra sau gây dính MP cả với bột talc dạng
nhũ dịch và dạng phun mù.
Sốt thường xảy ra 4-12h sau gây dính bằng bột talc và có thể kéo dài
đến 72h. Sốt sau gây dính MP bằng bột talc không quá cao, nhiệt độ
thường không quá 38◦C [62]. Để giải thích nguyên nhân gây sốt sau gây
dính màng phổi bằng bột talc người ta cho rằng do phản ứng viêm của
màng phổi [32].
Theo Huseyin Yıldırım và cộng sự khi nghiên cứu 43 BN được gây
dính bột talc qua NSMP thấy có 19 BN sốt sau gây dính ( 47,5%) [32].
Trong nghiên cứu của Brant A và cộng sự, tỷ lệ gặp khoảng 24% trường
hợp(8/29BN) [19]
Ở Việt Nam, nghiên cứu của Ngô Thanh Bình tại Thành phố Hồ Chí
Minh (2005) trên những BN TKMP thứ phát được gây dính MP bằng bột
talc qua sonde dẫn lưu gặp tỷ lệ sốt sau gây dính MP là 15.3% [2]. Nguyễn
Thị Thanh Huyền (2006) gặp tỷ lệ sốt sau gây dính MP bằng bột talc qua
NSMP cao hơn: 63,3% BN với nhiệt độ TB là 38,1 ± 0,5
0
C, mức độ sốt chủ
yếu là sốt nhẹ và vừa (84,2%). Thời gian xuất hiện sốt phần lớn các BN là
từ ngày thứ 2 sau NSMP gây dính bột talc và kéo dài trong khoảng thời
gian TB 2,2 ± 1,5 ngày [6].
Xử trí sốt sau gây dính bột talc qua NSMP bằng các thuốc hạ sốt
thông thường như acetaminophene.
20
1.4.1.3. Khó thở, suy hô hấp, ARDS
Hội chứng suy hô hấp cấp tính, viêm phổi cấp và suy hô hấp cũng
đã được báo cáo xảy ra với cả bột talc sử dụng ở dạng phun mù và dạng
nhũ dịch.

bình thường lớn hơn dạng bột talc có kích thước lớn. Tuy nhiên, dạng bột
talc có kích thước bình thường được tìm thấy ở các cơ quan khác ngoài
màng phổi: phổi, trung thất, gan, lách nhiều hơn dạng bột talc có kích
thước lớn. Điều này gợi ý đến các tác động toàn thân của bột talc có liên
quan đến kích thước hạt của bột talc [50,59].
Tỷ lệ xuất hiện ARDS sau gây dính MP bằng bột talc thay đổi rất
khác nhau tuỳ từng nghiên cứu. Theo Reshe và cộng sự thực hiện gây dính
MP bằng bột talc thấy có 9% BN xuất hiện biến chứng ARDS đòi hỏi phải
thông khí nhân tạo [59]. Trong một nghiên cứu khác ở Italia, Cardillo và
cộng sự thấy trong sè 611 BN được gây dính MP với liều bột talc là 5g
không thấy có trường hợp nào xuất hiện biến chứng ARDS. Điều này dẫn
đến giả thuyết sự xuất hiện ARDS có thể có liên quan tới những BN được
điều trị với liều bột talc > 5g. Tuy nhiên giả thuyết này lại có vẻ không
thuyết phục khi Campos và cộng sự báo cáo 7/550 BN (1.3%) xuất hiện
ARDS sau khi liều bột talc 2g dạng nhũ dịch được bơm vào khoang màng
phổi, 4 BN trong số này đã tử vong vì suy hô hấp [41]
Khi nghiên cứu về kích thước các phân tử bột talc trong các chế
phẩm được sử dụng để gây dính MP, các tác giả thấy kích thước trong 8
loại chế phẩm khác nhau thay đổi từ 10,8 đến 33,6 µm. Điều đáng chú ý là
22
kích thước talc trong các sản phẩm từ Mỹ, nơi có tỷ lệ ARDS xuất hiện sau
gây dính bột talc cao nhất, có kích thước trung bình nhỏ nhất [41]
1.4.1.4. Các biến chứng tim mạch
Các biến chứng tim mạch như rối loạn nhịp tim, ngõng tim, đau thắt
ngực, nhồi máu cơ tim và hạ huyết áp cũng có thể gặp. Trong nhiều trường
hợp rất khó phân biệt các biến chứng này là hậu quả liên quan đến phẫu
thuật hay do bét talc [44].
1.4.1.5. Tử vong
Tử vong cũng đã được báo cáo ở một vài trường hợp ngay sau gây
dính MP bằng bột talc. Nguyên nhân tử vong trong những trường hợp này

chế mức độ trung bình, đây là trường hợp BN có tiền sử TKMP bên đối
diện đã được điều trị bằng bơm dung dịch glucose ưu trương vào khoang
MP trước khi gây dính MP bằng bột talc [41].
S. Gyorik và cộng sự theo dõi 53 BN điều trị gây dính MP bằng bột
talc với thời gian theo dõi trung bình là 118 tháng ghi nhận FVC trung bình
ở 99% sè BN này là 102%, nhưng khi so sánh ở nhóm BN có hút thuốc với
không hút thuốc thì thấy FVC và FEV1 giảm có ý nghĩa thống kê ở nhóm
hút thuốc [66].
1.4.2.2. Tổn thương màng phổi sau gây dính bột talc
Về hình thái khoang màng phổi sau gây dính bằng bột talc, các
nghiên cứu đều thấy có dày màng phổi ở các mức độ khác nhau, có thể tạo
thành các nốt. Trên CT Scan ngực biểu hiện bằng những vùng tăng tỷ
trọng, do sự lắng đọng của bột talc. Đôi khi tổn thương như vậy dễ nhầm
lẫn với các bệnh lý màng phổi khác.
24
Nghiên cứu của Boon Han Kwek và cộng sự (2004), theo dõi hình
ảnh CT Scan ngực với thời gian theo dõi trung bình là 25 tháng sau gây
dính màng phổi bằng bột talc thấy màng phổi dầy lên, có những chỗ tạo
thành nốt, biểu hiện trên CT là những vùng tăng tỷ trọng (trung bình 230
đơn vị Hounsfield). Độ dầy của những vùng màng phổi này trung bình là
1,3 cm; dài trung bình 7,1cm. Các nốt có đường kính trung bình là 1,5cm;
nốt lớn nhất có đường kính 3,1cm [18, 35]. Mô bệnh học của những nốt
này thấy có sự xâm nhập lan toả các tế bào khổng lồ Langerhans và lympho
bào[35].
Viskum và cộng sự (Thuỵ Điển, 1989) [33] theo dõi sau 21 năm thấy
có 2/50 BN (4%) có biểu hiện dầy màng phổi trên phim chụp XQ phổi
thường quy.
Tschopp JM và cộng sù (1997) [67] cũng gặp tỷ lệ dầy màng phổi
khu trú trên phim chụp XQ phổi là 8.75% (7/80)
Lange và cộng sự (1988) theo dõi trong khoảng 22 - 35 năm [54], tỷ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status