Nghiên cứu giá trị của lâm sàng, xquang phổi chuẩn và kỹ thuật genexpert MTBRIF trong chẩn đoán lao kháng thuốc tại bệnh viện đa khoa thanh hóa năm 2016 - Pdf 38

MỤC LỤC
2.2.3.2. Nghiên cứu Xquang phổi chuẩn........................................................................19
- Đặc điểm tổn thương: nốt, kê, thâm nhiễm, hang xơ, đông đặc.................................19
- Mức độ tổn thương: độ 1, độ 2, độ 3............................................................................19
- Vị trí tổn thương: phổi phải, phổi trái, hai bên...........................................................19
2.2.3.3. Nghiên cứu Xpert MTB/RIF trong chẩn đoán lao kháng thuốc......................20


ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh lao kháng thuốc, đặc biệt là bệnh lao kháng đa thuốc (MDR-TB) và
bệnh lao siêu kháng thuốc (XDR-TB) đã xuất hiện ở nhiều quốc gia trên thế
giới, trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng, đe dọa thành quả của chương trình
chống lao toàn cầu cũng như của mỗi quốc gia.
Nguyên nhân phát sinh MDR-TB và XDR-TB chủ yếu do con người tạo
nên, đó là bệnh nhân lao không tuân thủ y lệnh của thầy thuốc trong quá trình
điều trị, việc kê đơn điều trị của thầy thuốc không đúng, việc cung cấp thuốc
kém chất lượng và bị gián đoạn, việc thực hiện giám sát điều trị chưa tốt.
Ở Việt Nam, mỗi năm có thêm từ 3000 đến 5000 bệnh nhân lao đa kháng
thuốc, số bệnh nhân này phân bố ở khắp các tỉnh thành nhưng tập trung chủ yếu
ở các tình thành có nhiều bệnh nhân lao, có nhiều cơ sở y dược tư nhân hoạt
động, có độ lưu hành HIV cao. Việc chẩn đoán, quản lý điều trị MDR-TB và
XDR-TB là vô cùng khó khăn và tốn kém, đòi hỏi phải đầu tư kinh phí gấp hàng
nghìn lần để nâng cấp cơ sở điều trị, phòng xét nghiệm, đào tạo cán bộ, mua các
sinh phẩm xét nghiệm chẩn đoán và thuốc điều trị [5].
Chẩn đoán lao kháng thuốc ở Việt Nam chủ yếu vẫn dựa vào phương pháp
kháng sinh đồ và phải mất khoảng 8 tuần mới cho kết quả. Trên hệ thống nuôi
cấy cải tiến MGIT, BACTEC cũng mất 2 tuần, nếu làm kháng sinh đồ lao mất
thêm ít nhât 2 tuần nữa và sự khó khăn trong vận chuyển mẫu đờm từ các địa
phương tới các đơn vị chẩn đoán là một rào cản rất lớn gây nên chậm trễ cho sự phát
hiện và chỉ định điều trị lao đa kháng thuốc, khiến cho nhiều người bệnh có thể tử
vong trước khi được điều trị. Đây cũng chính là nguyên nhân quan trọng khiến cho


2


Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
I. Đại cương về lao kháng thuốc.
1. Tình hình lao kháng thuốc.
1.1. Trên thế giới.
Theo thông báo của WHO năm 2007, tỷ lệ lao kháng đa thuốc là 4,8%.
Tỷ lệ lao kháng thuốc tiên phát với ít nhất 1 loại thuốc là 17% (từ 0% đến
56,3%), kháng isoniazid là 10,3%, kháng đa thuốc thay đổi từ 0% đến 22,3%.
Trường hợp kháng thuốc thứ phát: kháng ít nhất 1 loại thuốc là 35%, kháng isoniazid
là 27,7%, tỷ lệ kháng đa thuốc là 15,3%, tỷ lệ kháng đa thuốc mở rộng là 7,0%.
Theo WHO năm 2011, trên thế giới có khoảng 650.000 các trường hợp
bệnh lao kháng thuốc, ước tính số lượng bệnh nhân sẽ chết vì lao kháng thuốc
hàng năm khoảng 150.000 trường hợp. Lao đa kháng thuốc năm 2004 là
424.203 trường hợp và gia tăng năm 2007 là 511.000 và đến năm 2011 trên toàn
thế giới có khoảng 650.000 bệnh nhân lao đa kháng thuốc. Số lượng phần lớn là
ở những nước đang phát triển. Ở những bệnh nhân lao mới chưa điều trị bao giờ
có gia tăng trên 5%.
Tại Uzbekistan tỷ lệ đa kháng thuốc lên đến 60,0%, Azerbaijan là 55,8%.
Trung Quốc, Ấn Độ, Liên bang Nga là những nước có tỷ lệ lao kháng thuốc lớn
nhất. Hiện nay 69 nước và vùng lãnh thổ được xác định là xảy ra lao kháng đa
thuốc, và 45 nước xuất hiện lao kháng đa thuốc mở rộng. Theo ước tính của
WHO, tỷ lệ lao kháng đa thuốc mở rộng tăng từ 1 triệu ca đến 1,5 triệu ca trong
khoảng thời gian từ 2-3 năm.
Vi khuẩn lao kháng đa thuốc đang là một thách thức lớn cho toàn cầu.
Trong khi thuốc chống lao hàng đầu chỉ có 5 thuốc, thì thuốc chống lao loại hai
thường có độc tính cao và giá thành rất đắt. Những người mắc bệnh lao với
chủng vi khuẩn kháng đa thuốc cần phải điều trị trên 2 năm so với 6-8 tháng

Tỷ lệ MDR trong số BN lao mới

2,7 % (2,0 – 3,6%)

4,0 % (2,5 – 5,4%)

Tỷ lệ MDR trong số BN điều trị lại

19% (14 - 25%)

23,3 % (16,7- 29,9%)

Số BN MDR trong số BN lao mới
hàng năm

2000 (1500 - 2700)

3000

Số BN MDR trong số BN điều trị lại
hàng năm

1700 (1200 - 2200)

2100

Tổng số BN MDR trong số BN lao
hàng năm

3700

lâm sàng kháng rifampicin thì đồng thời cũng kháng INH. Như vậy việc phát
hiện các chủng lao kháng rifampicin cũng có nghĩa là xác định được lao kháng
đa thuốc. Hơn 95% các chủng lao kháng rifampicin phát hiện có đột biến tại
gen rpoB. Và hầu hết các chủng lao kháng rifampicin (các chủng này kháng đa
thuốc) đều có đột biến ở vùng lõi 81bp. Nếu gắn các gen này vào genom của
chủng M. smegmatis nhạy cảm rifampicin thì các chủng này cũng trở nên kháng
rifampicin. Vì vậy có thể áp dụng công nghệ sinh học phân tử để phát hiện khả
năng kháng đa thuốc của vi khuẩn lao [5].
2. Chẩn đoán lao kháng thuốc (sơ đồ chẩn đoán) [4].
2.1. Các đối tượng nguy cơ mắc lao kháng thuốc: gồm 9 đối tượng
1) Người bệnh lao thất bại điều trị phác đồ II.
2) Người nghi lao hoặc người bệnh lao mới có tiếp xúc với người bệnh lao kháng thuốc.
3) Người bệnh lao thất bại điều trị phác đồ I.
4) Người bệnh lao không âm hóa đờm sau 2 hoặc 3 tháng điều trị phác đồ I hoặc II.
5


5) Người nghi lao tái phát hoặc người bệnh lao tái phát (phác đồ I hoặc II).
6) Người nghi lao điều trị lại sau bỏ trị hoặc người bệnh lao điều trị lại sau bỏ trị
(phác đồ I hoặc II).
7) Người bệnh lao mới phát hiện có HIV (+).
8) Các trường hợp khác: bao gồm người nghi lao hoặc người bệnh lao có tiền sử
dùng thuốc lao trên 1 tháng, người nghi lao hoặc người bệnh lao có tiền sử điều
trị lao ở y tế tư nhưng không rõ kết quả điều trị.
9) Người bệnh lao mới (HIV âm tính hoặc không rõ).
2.2. Lâm sàng:
- Người bệnh khi đang điều trị lao nhưng các triệu chứng sốt, ho, khạc đờm
không thuyên giảm hoặc thuyên giảm một thời gian rồi lại xuất hiện trở lại với
các triệu chứng tăng lên, người bệnh tiếp tục sút cân.
- Tuy nhiên bệnh lao kháng thuốc có thể được chẩn đoán ở người chưa bao giờ

nhóm Fluoroquinolone và với ít nhất một trong ba thuốc hàng hai dạng tiêm
(Capreomycin, Kanamycin, Amikacin).
- Lao kháng Rifampicin: Kháng với Rifampicin, có hoặc không kháng thêm với
các thuốc lao khác kèm theo (có thể là kháng đơn thuốc, kháng nhiều thuốc, đa
kháng thuốc hoặc siêu kháng thuốc). Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay, các chủng
đã kháng với Rifampicin
3. Phân loại người bệnh dựa trên tình trạng kháng thuốc.
2.1. Phân loại người bệnh lao đa kháng theo tiền sử điều trị
- Lao đa kháng mới: Người bệnh lao đa kháng chưa có tiền sử điều trị lao hoặc
mới điều trị lao dưới 1 tháng (còn có thể gọi là lao đa kháng nguyên phát).
- Tái phát: là người bệnh đã có tiền sử điều trị lao trước đây, được kết luận khỏi
bệnh hay hoàn thành điều trị, nay được chẩn đoán là lao đa kháng.
- Thất bại công thức I: Người bệnh lao đa kháng có tiền sử là người bệnh lao
thất bại điều trị công thức I trước đây.
- Thất bại công thức II: Người bệnh lao đa kháng có tiền sử là người bệnh lao
thất bại điều trị công thức II trước đây.
- Điều trị lại sau bỏ trị: Là người bệnh đã có tiền sử điều trị lao trước đây, được
kết luận là bỏ trị, nay được chẩn đoán là lao đa kháng.
- Lao đa kháng khác: là người bệnh lao đa kháng không rõ kết quả điều trị trước đây.
2.2. Phân loại người bệnh lao đa kháng theo xét nghiệm trước điều trị
- S+, C+: Người bệnh lao đa kháng có xét nghiệm trước điều trị nhuộm soi trực
tiếp dương tính, nuôi cấy dương tính.
7


- S-, C+: Người bệnh lao đa kháng có xét nghiệm trước điều trị nhuộm soi trực
tiếp âm tính, nuôi cấy dương tính.
- S+, C-: Người bệnh lao đa kháng có xét nghiệm trước điều trị nhuộm soi trực
tiếp dương tính, nuôi cấy âm tính.
4. Điều trị lao kháng thuốc.

+ Thuốc chống lao hàng 2 loại tiêm: Kanamycin (Km); Amikacin (Am);
Capreomycin (Cm);
+ Thuốc chống lao hàng 2 thuộc nhóm Fluoroquinolones như: Levofloxacin (Lfx);
Moxifloxacin (Mfx); Gatifloxacin (Gfx); Ciprofloxacin (Cfx); Ofloxacin (Ofx);
+ Thuốc chống lao hàng 2 uống: Ethionamide (Eto); Prothionamide (Pto);
Cycloserine (Cs); Terizidone (Trd); Para-aminosalicylic acid (PAS); Paraaminosalicylate sodium (PAS-Na);
+ Các thuốc hàng 2 thuộc nhóm 5 bao gồm: Bedaquiline (Bdq); Delamanid
(Dlm); Linezolid (Lzd); Clofazimine (Cfz); Amoxicilline / Clavulanate (Amx /
Clv); Meropenem (Mpm); Thioacetazone (T); Clarithromycin (Clr).
4.3.2. Chỉ định và phác đồ điều trị:
Phác đồ IV: Z E Km(Cm) Lfx Pto Cs (PAS) / Z E Lfx Pto Cs (PAS)
- Hướng dẫn:
+ Giai đoạn tấn công: 8 tháng, gồm 6 loại thuốc Z E Km (Cm) Lfx Pto Cs (PAS)
- Cm, PAS được sử dụng thay thế cho trường hợp không dung nạp Km,Cs, dùng
hàng ngày.
+ Giai đoạn duy trì dùng 5 loại thuốc hàng ngày.
+ Tổng thời gian điều trị là 20 tháng.
- Chỉ định: Lao đa kháng thuốc.
Phác đồ cá nhân cho người bệnh lao siêu kháng thuốc
- Hướng dẫn: Theo nguyên tắc
+ Sử dụng Pyrazinamide và các thuốc thuộc nhóm I còn hiệu lực.
+ Sử dụng một thuốc tiêm còn nhạy cảm và có thể sử dụng trong thời gian dài
(12 tháng hoặc trong suốt liệu trình). Nếu có kháng với tất cả các thuốc tiêm thì
khuyến cáo sử dụng loại thuốc mà người bệnh chưa từng sử dụng hoặc không sử
dụng thuốc tiêm.
+ Nếu người bệnh có nguy cơ dị ứng với thuốc tiêm có hiệu lực, cân nhắc việc
sử dụng theo đường khí dung.
+ Sử dụng Fluoroquinolone thế hệ sau như Moxifloxacin hoặc Gatifloxacin.

9

đoạn củng cố.
+ Hooc mon tuyến giáp (TSH): 6 tháng/lần và khi có chỉ định.
+ Xét nghiệm HIV: trước điều trị và khi cần thiết.
10


+ Thử thai: trước điều trị và bất cứ khi nào có nghi ngờ.
- Chụp Xquang phổi: 4 tháng/lần trong giai đoạn tấn công, 6 tháng/lần trong giai
đoạn củng cố.
- Đo thính lực đồ trước điều trị và khi có chỉ định.
- Soi đáy mắt: trước điều trị và khi có chỉ định.
6. Đánh giá kết quả điều trị lao đa kháng.
• Khỏi: hoàn thành liệu trình theo hướng dẫn của CTCLQG và không có dấu
hiệu thất bại, đồng thời có 3 mẫu nuôi cấy âm tính liên tiếp cách nhau ít nhất 30
ngày trong giai đoạn duy trì.
• Hoàn thành điều trị: hoàn thành liệu trình theo hướng dẫn của CTCLQG và
không có dấu hiệu thất bại, tuy nhiên không đầy đủ bằng chứng về 3 mẫu nuôi
cấy âm tính liên tiếp cách nhau ít nhất 30 ngày trong giai đoạn duy trì.
• Thất bại: Ngừng điều trị hoặc thay đổi vĩnh viễn ít nhất 2 thuốc chống lao
trong công thức điều trị vì các lý do:
- Không âm hóa vào cuối giai đoạn tấn công (*) hoặc,
- Dương tính trở lại trong giai đoạn duy trì sau khi đã âm hóa (**) hoặc,
- Có bằng chứng kháng thêm với Fluoroquinolone hoặc thuốc tiêm hàng hai, hoặc,
- Có phản ứng bất lợi của thuốc (ADRs).
• Chết: người bệnh chết do bất cứ nguyên nhân nào trong quá trình điều trị lao
kháng thuốc
• Không theo dõi được: người bệnh ngừng điều trị liên tục từ 2 tháng trở lên do
bất cứ lý do gì.
• Không đánh giá: người bệnh không được đánh giá kết quả điều trị (bao gồm
cả các trường hợp chuyển đến đơn vị điều trị khác và các trường hợp không biết

người ta tiến hành chụp cắt lớp vi tính. Một số kỹ thuật Xquang khác cũng được
sử dụng để chẩn đoán phân biệt: dựng hình phế quản (soi phế quả ảo), chụp
động mạch phổi, chiếu phổi trên truyền hình tăng sáng, …
- Trong hoạt động điều tra lao phổi trong cộng đồng: người ta đã sử dụng các xe
Xquang huỳnh quang lưu động: MMR (Mass Miniature RadiographyPhotofluography) hoặc xe Xquang kỹ thuật số (Digital MobileX-ray Car).
3. Mô tả và phân tích hình ảnh tổn thương lao trên phim Xquang phổi.
3.1. Hình ảnh tổn thương.
3.1.1. Nốt: là một bóng mờ có kích thước nhỏ, đường kính nốt kê ≤ 2mm (lao
kê), 2mm < đường kính nốt nhỏ ≤ 5mm, 5mm < đường kính nốt to < 10mm.
Đậm độ của nốt rất thay đổi: có thể độ tương phản rất ít so với mô phổi xung
12


quanh hoặc gần bằng đậm độ của mạch máu, có khi đậm độ cao gần bằng đậm
độ xương hoặc kim loại. Tập hợp của các nốt gọi là đám thâm nhiễm.
3.1.2. Thâm nhiễm: là đám mờ đồng đều có đặc điểm:
- Có hình “phế quản hơi’’.
- Không đẩy hoặc co kéo các tổ chức lân cận.
- Có thể mờ theo định khu: thùy/ phân thùy hoặc mờ rải rác.
3.1.3. Hang: là hình sáng giới hạn bởi một bờ mở tròn khép kín liên tục, đường
kính ≥ 0,5cm. Độ sáng của hang cao hơn của nhu mô phổi, kích thước của hang
đa dạng: trung bình từ 2 - 4cm, 4cm ≤ hang lớn < 6cm, hang khổng lồ ≥ 6cm,
tuy nhiên có thể rất lớn chiếm 1/2 phế trường, 1 thuỳ phổi hoặc rất nhỏ và tập
trung lại tạo hình “rỗ tổ ong” hoặc “ruột bánh mì”. Thành hang: có độ dày ≥
2mm phân biệt với những bóng giãn phế nang. Trong lòng hang thường là hình
sáng của khí, đôi khi có mức dịch hoặc có bóng mờ chiếm chỗ trong lòng hang
(u nấm) còn gọi là hình liềm khí.
3.1.4. Dải xơ mờ: là các đường mờ có đường kính rộng từ 0,5 - 1mm, thường
tạo giống “hình lưới” hoặc hình “vân đá”.
3.1.5. Nốt vôi hoá: đâm độ gần tương đương kim loại và chất cản quang, hoặc

ứng với các phân thùy 1, 2, 3 và 6).
b. Tổn thương hai bên có thể là đối xứng ngang hoặc đối xứng chéo.
c. Tổn thương đan xen giữa những hình thái ổn định (xơ vôi) với những hình
thái tiến triển (thâm nhiễm, nốt, hang …).
d. Đáp ứng chậm với thuốc chống lao sau 1 tháng điều trị (khi tổn thương thay
đổi rất nhanh trong thời gian dưới 1/2 tháng phải hết sức thận trọng khi chẩn
đoán lao phổi).
3.3. Sự thay đổi hình ảnh tổn thương.
Chụp phim vào những thời điểm khác nhau để đánh giá sự thay đổi của tổn
thương theo thời gian và đáp ứng điều trị sẽ mang lại giá trị cao hơn là chụp
phim tại 1 thời điểm. Đối với tổn thương do lao thay đổi chậm và không đáp
ứng với điều trị kháng sinh thông thường.
III. Đại cương về kỹ thuật GeneXpert [2], [3]:
GeneXpert là một kỹ thuật mang tính đột phá tích hợp của 3 công nghệ
(tách gien, nhân gien và nhận biết gien) với tên gọi là GeneXpert đã được phát
triển trong khuôn khổ hợp tác của tổ chức FIND (Foundation for Innovative
New Diagnostics), Cepheid Inc và trường đại học y - nha khoa New Jersey.

14


Với công nghệ này, máy Xpert MTB/RIF cho phép xác định vi khuẩn lao
với độ nhậy rất cao (99% người bệnh xét nghiệm đờm trực tiếp dương tính, 80
% người bệnh xét nghiệm đờm trực tiếp âm tính, 91% với các trường hợp nuôi
cấy dương tính và 72,5% với người bệnh nuôi cấy âm).
Kỹ thuật cho kết quả nhanh chỉ trong vòng 2 giờ và rất đơn giản cho người
dùng. Điều đặc biệt là máy có thể cho kết quả kép, tức là cùng một lần trả lời
cho phép biết bệnh phẩm có vi khuẩn lao hay không, có nhiều hay ít và vi khuẩn
có kháng với thuốc rifampicin hay không.
Kỹ thuật này là bước tiến đột phá trong cuộc chiến phòng chống lao hiện

+ Mở nắp cốc đờm đưa lại gần miệng để lấy đờm
+ Đậy nắp cốc đờm, xoáy chặt
- Kiểm tra chất lượng mẫu đờm: Mẫu đờm có chất lượng tốt phải là:
+ Đờm đặc khạc sâu từ trong phổi
+ Số lượng ít nhất từ 2ml trở lên
+ Nếu là nước bọt phải yêu cầu bệnh nhân lấy lại đờm
- Nếu mẫu đờm được lấy tại cơ sở y tế lân cận nơi đặt máy thì cần lưu ý:
+ Để mẫu đờm tại nơi mát (tốt nhất để trong ngăn mát của tủ lạnh)
+ Tránh nhiệt độ cao và ánh nắng mặt trời
+ Chuyển mẫu đờm đến nơi làm xét nghiệm càng sớm càng tốt (tốt nhất là ngay
trong ngày)
b) Chuẩn bị test:
- Đổ dung dịch đệm (dung dịch này nằm trong bộ test được chuẩn bị sẵn) vào
mẫu đờm theo tỷ lệ 2:1 để làm loãng đờm và diệt vi khuẩn
- Lắc hỗn dịch và để trong 10 phút
- Tiếp tục lắc lần 2 và để thêm 5 phút
- Dùng Pipet lấy 2ml hỗn dịch đưa vào hộp xét nghiệm (cartridge)
- Scan mã số (Code) trên cartridge vào máy
- Đặt cartridge vào máy, từ đây các bước tiếp theo sẽ hoàn toàn tự động theo quy
trình vận hành của máy.
2.2. Nguyên lý kỹ thuật và quy trình vận hành của máy:
a) Nguyên lý kỹ thuật: Kỹ thuật dựa trên tích hợp 3 công nghệ: tách gien, nhân
gien và xác định gien.
- Tách gien: Vi khuẩn bị tiêu huỷ bởi sóng siêu âm mạnh. ADN của vi khuẩn sẽ
được chiết tách và có hệ thống tự kiểm định chất lượng quá trình chiết tách.

16


- Nhân gien (khuyếch đại gien): Phản ứng nhân gien gọi là realtime hemi

- Yêu cầu về hậu cần: điều kiện nhiệt độ, độ ẩm và bảo quản an toàn cần thiết
cao hơn vận hành kính hiển vi thông thường.
3. Các bước tiến hành:
Quy trình chẩn đoán được xây dựng cụ thể cho các đối tượng bệnh nhân.
Người bệnh đến khám cần được đánh giá nguy cơ kháng đa thuốc, hay tình trạng
nhiễm HIV. Nếu người bệnh nghi lao đa kháng sẽ áp dụng Quy trình I.

18


Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu .
Gồm tất cả bệnh nhân nghi lao kháng thuốc điều trị nội trú tại Bệnh viện 71
Trung ương từ tháng 01 đến tháng 12 năm 2016.
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân.
* Nhóm nguy cơ lao kháng thuốc:
1) Người bệnh lao thất bại điều trị (thất bại PĐ1 và PĐ2)
2) Người bệnh lao không âm hóa đờm sau 2 hoặc 3 tháng điều trị PĐ1 hoặc PĐ2
3) Người bệnh lao tái phát (tái phát PĐ1 và PĐ2)
4) Người bệnh lao điều trị lại sau bỏ trị (sau PĐ1 và PĐ2)
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ:
1) Người bệnh lao phổi AFB (-).
2) Người bệnh lao phổi mới có HIV (+)
3) Người bệnh lao phổi AFB (+) mới.
4) Lao phổi trẻ em
2.2. Phương pháp nghiên cứu.
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: tiến cứu, mô tả cắt ngang.
2.2.2. Phương pháp chọn mẫu: không xác xuất, với mẫu tiện lợi
2.2.3. Nội dung nghiên cứu.
2.2.3.1. Nghiên cứu lâm sàng.

20


- Kiểm tra Phiếu xét nghiệm đã được điền đầy đủ thông tin và kiểm tra trên
Phiếu xét nghiệm xem đối tượng được xét nghiệm có đúng theo quy định của
CTCLQG
*Bước 4: Nhận định kết quả xét nghiệm Xpert MTB/RIF
- TB+/R+: Kết quả Xpert xác định có vi khuẩn lao và có kháng RIF. Bắt đầu
điều trị phác đồ IV theo hướng dẫn của CTCLQG, đồng thời làm xét nghiệm
kháng sinh đồ với thuốc chống lao hàng hàng 2 (theo hướng dẫn của CTCLQG).
Nếu kết quả kháng sinh đồ:
+ Kháng Rifampicin, không kháng Isoniazid, tiếp tục điều trị phác đồ IV, tuy
nhiên những bệnh nhân này sẽ được báo cáo riêng.
+ Kháng Rifampicin, kháng Isoniazid, tiếp tục điều trị phác đồ IV.
+ Kháng Rifampicin, kháng Isoniazid, kháng một trong các thuốc tiêm hang 2
và thuốc nhóm Quinolon kết luận bệnh nhân mắc lao siêu kháng thuốc và lập
danh sách bệnh nhân báo cáo về CTCLQG.
- TB+/R-: Kết quả Xpert xác định có vi khuẩn lao nhưng không kháng RIF. Chỉ
định điều trị phác đồ I hoặc II tùy theo tiền sử điều trị của bệnh nhân theo đúng
quy định của CTCLQG
- TB-/R-: Kết quả Xpert xác định không có vi khuẩn lao.
+ Hội chẩn chuyên khoa với những trường hợp bệnh nhân lao nhưng có kết quả
xét nghiệm GeneXpert âm tính.
+ Đánh giá lâm sang khả năng lao ngoài phổi
+ Tiếp tục theo dõi và thực hiện các chẩn đoán khác.
- TB+/R không xác định: Làm lại xét nghiệm Xpert MTB/RIF.
* Xác định các đặc tính của xét nghiệm Xpert MTB/RIF.
Các bệnh nhân được làm các xét nghiệm cơ bản chẩn đoán lao theo hướng
dẫn của CTCLQG. Mỗi bệnh nhân trong nhóm đối tượng nghiên cứu được lấy
mẫu đờm vào sáng sớm, trong cùng mẫu đờm này đồng thời tiến hành xét

Xpert (-), nuôi cấy (+)

Âm tính thật:

Xpert (-) và nuôi cấy (-)

Âm tính giả:

Xpert (+), nuôi cấy (-)

2.3. Phương pháp thu thập thông tin và xử lý số liệu.
Số liệu thu thập được ghi vào mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất và được
xử lý theo các thuật toán thống kê y học bằng phần mềm SPSS 16.0.
2.4. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
- Tiến hành nghiên cứu một cách trung thực và nghiêm túc.
- Những kết quả nghiên cứu, ý kiến đề xuất được sử dụng vào mục đích
nâng cao sức khoẻ, hạn chế sự xuất hiện và tiến triển của bệnh cho cộng đồng.

22


SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU
Mẫu đờm của bệnh nhân
nghi lao kháng thuốc

GeneXpert
MTB/RIF

MGIT


Tuổi
18 - 24
25 - 34
35 - 44
45 - 54
55 - 64
≥ 65
Trung bình

n

Tỷ lệ %

* Nhận xét:
Biểu đồ 3.1: Phân bố bệnh nhân theo giới

*Nhận xét:
Biểu đồ 3.2: Phân bố bệnh nhân theo nghề nghiệp

*Nhận xét:

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status