NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG THIẾU MÁU Ở THAI PHỤ ĐẺ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐÔNG ANH NĂM 2014 - Pdf 37

BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐÔNG ANH

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ

NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG THIẾU MÁU Ở THAI PHỤ ĐẺ
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐÔNG ANH NĂM 2014

Nhóm nghiên cứu:
1.Bs. Nghiêm Thị Xang
2.Bs. Nguyễn Minh Đức
3.Bs. Ngô Anh Quang
4.Bs. Nhữ Văn Giang

HÀ NỘI – 2015


CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BN

:

Bệnh nhân

HA

:

Huyết áp

Hb


:

Phụ nữ có thai


MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chương 1 : TỔNG QUAN
1.1. Thiếu máu ở phụ nữ có thai
1.1.1. Định nghĩa thiếu máu
1.1.2. Định nghĩa thiếu máu ở phụ nữ có thai
1.1.3. Phân loại thiếu máu ở phụ nữ có thai theo WHO
1.1.4. Nguyên nhân thiếu máu ở phụ nữ có thai
1.2. Một số yếu tố liên quan đến thiếu máu
1.3. Một số nghiên cứu thiếu máu ở phụ nữ có thai
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1.1 Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu
2.1.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
2.2.2. Chọn mẫu nghiên cứu
2.2.3. Phương pháp thu thập thông tin nghiên cứu
2.2.4. Biến số nghiên cứu
2.2.5. Một số tiêu chuẩn liên quan đến nghiên cứu
2.2.6. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
2.2.7. Đạo đức trong nghiên cứu
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thiếu máu là sự giảm số lượng hồng cầu hoặc giảm nồng độ Hb ở máu ngoại
vi dẫn đến thiếu oxy cung cấp cho các mô tế bào trong cơ thể [1].
Thiếu máu trong thời kỳ mang thai là 1 trong những nguyên nhân đe dọa cả mẹ
và thai nhi. Đối với người mẹ, thiếu máu làm tăng tai biến trong và sau đẻ, nhiễm
khuẩn hậu sản, sót rau, choáng trong cuộc đẻ, chậm hồi phục sức khoẻ sau đẻ [2]. Tỷ
lệ tử vong khi đẻ ở những người mẹ bị thiếu máu cao hơn so với người mẹ bình
thường [3]. Thai có thể bị sẩy, đẻ non, chậm phát triển trong buồng tử cung, và thiếu
máu, nhẹ cân khi đẻ ra [4].
Theo thống kê của tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ
mang thai dao động từ 5 -15% tại Hoa Kỳ và lên đến 20- 80% tại các nước đang phát
triển [5]. Ở Việt Nam, năm 2006 tỷ lệ này là 16,2- 68,1% và tại Hà Nội là 36,7% [6].
Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2010- 2020 do Thủ tướng chính
phủ phê duyệt đã xây dựng mục tiêu giảm tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ mang thai xuống
28% năm 2010 và 23% vào năm 2015. Như vậy việc xác định tỷ lệ thiếu máu và một
số yếu tố liên quan ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai là hết sức có ý nghĩa [7].
Xuất phát từ thực tế trên, nhằm góp xác định tỷ lệ thiếu máu ở thai phụ và cải
thiện sức khoẻ bà mẹ - trẻ em, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu
tình trạng thiếu máu ở thai phụ đẻ tại Bệnh viện Đa khoa Đông Anh năm 2014 ”
với 2 mục tiêu:
1. Xác định tỷ lệ thiếu máu ở thai phụ đẻ tại Bệnh viện Đa khoa Đông Anh
năm 2014.
2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến thiếu máu ở thai phụ đẻ tại Bệnh
viện Đa khoa Đông Anh năm 2014.


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. THIẾU MÁU Ở PHỤ NỮ CÓ THAI
1.1.1. Định nghĩa thiếu máu
Thiếu máu là sự giảm số lượng HC hoặc giảm nồng độ Hb ở máu ngoại vi dẫn

hoặc hem của men (xytocrom, myoglobin – hemoglobin…). Đây là hỗn hợp sắt luôn
thay đổi. Tại tuỷ xương, sắt kết hợp với protoporphyrin thành hem để hình thành
hemoglobin. Nhu cầu sắt cho cơ thể phụ thuộc vào tuổi, giới và những tiêu hao hàng
ngày, tiêu hao bất thường như kinh nguyệt, có thai, cho con bú. Bình thường, mỗi
ngày cơ thể nữ giới cần 2,5 mg sắt. Bình thường hàm lượng sắt trong huyết thanh là:
11±2 mmol/lít hoặc 140 ± 54g/100ml máu [11]. Thiếu máu thiếu sắt khi hàm lượng
sắt trong huyết thanh giảm dưới ngưỡng trên. Thiếu máu thiếu sắt chiếm đại đa số các
trường hợp thiếu máu trong quá trình mang thai. Theo Đào văn Chinh, thiếu máu do
thiếu sắt chiếm 80% các trường hợp thiếu máu khi có thai, 10% - 20% các PNCT có
chế độ ăn đầy đủ bị thiếu máu do thiếu sắt, tỷ lệ này tăng cao hơn nhiều ở những
người đẻ nhiều, đẻ dày và cho con bú kéo dài [12].
Nguyên cứu trên 33 phụ nữ có thai bình thường ở 3 tháng cuối thai kỳ đến khám
tại khoa sản bệnh viện Thanh Nhàn – Hà Nội năm 1994, Hà Huy Khôi và các cộng sự
cho thấy: dự trữ sắt bình thường ở thai phụ không thiếu máu, dự trữ sắt giảm ở thai
phụ bị thiếu máu, khi lượng Hb 6-8 g/l dữ trữ sắt cạn kiện, từ đó nhận định rằng thiếu
sắt là nguyên nhân quan trọng dẫn tới thiếu máu ở các đối tượng nghiên cứu [13].
Sukrat B. và Sirichotiyakul S. nghiên cứu năm 2006 trên 648 phụ nữ có thai ở bệnh
viện Maharaj Nakim Chiangmai, Thái Lan, kết quả cho thấy: tỷ lệ thiếu máu là
20,1%; phân chia thiếu máu trong từng thai kỳ là 17,3%, 23,8% và 50,0% tương ứng
với quý 1,2 và 3. PNCT bị bệnh Thalassemia và các bệnh khác là 56 trong tổng số
102 PNCT bị thiếu máu (54,9%). Trong 58 thai phụ bị thiếu máu, có 25 trường hợp


thiếu máu thiếu sắt. Các nguyên nhân khác gây thiếu máu là nhiễm ký sinh trùng
(8,7%), thiếu máu do các bệnh mãn tính( 92,7%), 37 trường hợp (33%) không xác
định được nguyên nhân thiếu máu [14].
Tổng lượng sắt cần cho thời kỳ có thai trung bình là 1000mg, trong đó 300500mg để tăng tổng hợp Hemoglobin, 250 - 300mg giúp thai phát triển, 30 - 100mg
cần cho máu thai và bánh rau [2]. Chảy máu khi sổ rau bình thường khoảng 300ml
cũng gây mất 150 mg sắt. Như vậy, khi có thai cần khoảng 700mg sắt và cơ thể phải
hấp thu

1.1.4.3. Các nguyên nhân hiếm gặp khác:
- Thiếu máu ác tính do thiếu Vitamin B12:
Bệnh hiếm gặp, hiếm xảy ra trong thời kỳ có thai. Nguyên nhân có thể do rối
loạn tiêu hoá, do cắt đoạn dạ dày… gây mất yếu tố nội do vùng đáy dạ dày tiết ra nên
không hấp thu được vitamin B12 là yếu tố ngoại [16].
- Thiếu máu do suy tuỷ xương:
Một vài trường hợp gặp suy tuỷ xương không rõ nguyên nhân ở PNCT, cơ chế
bệnh sinh chưa rõ. Suy tuỷ có thể hết đi khi đẻ và tái phát ở lần có thai sau [12].
- Thiếu máu do mất máu cấp: gây nên do sảy thai, thai ngoài tử cung, rau bong
non, rau tiền đạo, thai trứng…
Theo thống kê của WHO, hàng năm có khoảng 1/2 PNCT trên thế giới bị thiếu
máu, đặc biệt ở những nước đang phát triển tỷ lệ thiếu máu chiếm 56%.
Tỷ lệ PNCT bị thiếu máu cao nhất ở Châu Phi, sau đó là Châu Á và Châu Mỹ La
Tinh. Tại các quốc gia phát triển, tỷ lệ PNCT bị thiếu máu khoảng 16% [5].
1.2. MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THIẾU MÁU
* Các yếu tố: nơi ở, nghề nghiệp, tuổi, môi trường sống, số lần đẻ, khoảng cách
giữa các lần đẻ… của thai phụ.
Nghiên cứu trong 2 năm 1987 và 1988 ở vùng nông thôn và thành phố Hà Nội
của Từ Giấy và Hà Huy Khôi cho thấy tỷ lệ thiếu máu của PNCT ở nội thành là
37,1%, ở nông thôn là 59%. Tỷ lệ thiếu máu tăng dần theo tuổi thai ở cả hai nhóm
[13].
Trong nghiên cứu của Đào Văn Chinh (1980) cho thấy tỷ lệ thiếu máu tăng cao
ở người đẻ dày, đẻ nhiều, cho con bú kéo dài [12].


Tại Trung tâm y tế Jima-Ethiopia năm 1993 nghiên cứu 279 phụ nữ lần đầu đến
khám thai, người ta thấy tỷ lệ thiếu máu chung là 48% trong đó: nông thôn chiếm
56,8%, thành phố 43,8%. Tỷ lệ thiếu máu tăng theo số lần mang thai và khoảng cách
giữa các lần mang thai càng dày tỷ lệ thiếu máu càng cao [17].
Nghiên cứu của Ogbeide O. ; Waghatasoma V. 1994 cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở

thận gây thiếu máu thận ức chế sản sinh hormon erythropoietin dẫn đến ức chế tuỷ
xương sinh hồng cầu [11].
Theo nghiên cứu của Ramin S.M và cộng sự, bệnh thận mãn tính là một bệnh ít
gặp đối với thai nghén, tần suất bệnh dao động trong khoảng từ 0,03% - 0,12% trong
quần thể PNCT. Các biến chứng trong quá trình mang thai liên quan đến bệnh thận
mãn tính bao gồm tiền sản giật, giảm chức năng thận, đẻ non, thiếu máu, tăng HA
mạn tính và mổ lấy thai. Tỷ lệ sơ sinh sống trong nhóm PNCT bị bệnh thận mạn tính
trong khoảng từ 64% - 98%, phụ thuộc vào mức độ suy thận và bệnh tăng HA đi kèm
[20]. Mẹ mắc một số bệnh mãn tính khác như: bệnh tim, bệnh phối mãn tính… mẹ bị
nhiễm độc: chì, tia X…
* Một số yếu tố từ phía thai và phần phụ của thai:
- Đa thai:
Khi có thai nhu cầu dinh dưỡng của thai phụ tăng để nuôi dưỡng thai. Trong
chửa đa thai không những một thai mà nhiều thai cùng phát triển, vì thế hiện tượng
thiếu máu rất hay gặp.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kiều Oanh (2006), tỷ lệ thiếu máu trong chửa song
thai chiếm 56,1%, cao gấp 1,76 lần so với 43,3% ở nhóm chửa đơn thai (OR = 1,76,
CI: 1,38-0.03) [21].
- Rau tiền đạo:
Rau tiền đạo là rau bám một phần hoặc hoàn toàn ở đoạn dưới và cổ tử cung,
làm cản trở đường ra của thai khi chuyển dạ đẻ. Rau tiền đạo là một trong những
bệnh lý về vị trí rau bám, gây chảy máu trong 3 tháng cuối của thời kỳ thai nghén và
trong chuyển dạ. Đoạn dưới tử cung được thành lập trong 3 tháng cuối bởi eo tử
cung từ 0,5cm giãn dần tới lúc chuyển dạ là 10cm, trong khi đó bánh rau không giãn
ra được gây co kéo làm đứt các mạch máu giữa tử cung và bánh rau gây chảy máu.


Trong 3 tháng cuối có những cơ co Hick (cơn co sinh lý để hình thành đoạn dưới)
cũng có thể gây bong rau một phần làm chảy máu do đó dẫn đến tình trạng thiếu máu.
1.3. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU THIẾU MÁU Ở PHỤ NỮ CÓ THAI:

1.3.2. Một số nghiên cứu ở Việt Nam
Tại thành phố Hồ Chí Minh, năm 1981 kết quả nghiên cứu huyết đồ trên PNCT
tại Bệnh viện Hùng Vương cho thấy các trị số nằm ở giới hạn giữa bình thường và
thấp của thiếu máu, Hb trung bình 11.2 ±1.29 g/dl [24].
Nghiên cứu ở vùng nông thôn và thành phố Hà Nội của Từ Giấy và Hà Huy
Khôi trong 2 năm 1987- 1988 cho thấy tỷ lệ thiếu máu của PNCT ở nội thành là
37,1%, ở nông thôn là 59%. Tỷ lệ thiếu máu tăng dần theo tuổi thai ở cả hai nhóm
[13].
Dương Thị Cương và Nguyễn Thị Hảo nghiên cứu trên 384 PNCT đến khám tại
phòng khám của BVBVBMTSS trong năm 1991 cho kết quả 77% PNCT bị thiếu
máu, tỷ lệ tăng dần theo tuổi thai. Trên 302 trẻ sơ sinh của những bà mẹ này, tác giả
đã làm xét nghiệm Hb cho thấy 22.85% trẻ có thiếu máu [25].
Năm 1995, công trình nghiên cứu ở 6 quận nội thành và 3 huyện ngoại thành tại
thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ thiếu máu trong thai kỳ là 26,5% với Hb trung
bình 11,6 ±1.2g/dl. Năm 1996, nghiên cứu tại bệnh viện Châu Đốc – An Giang, thiếu
máu ở PNCT là 35,6% trong đó 87,5% là thiếu máu thiếu sắt [24].
Năm 2001, Nguyễn Thị Minh Yên nghiên cứu trên 355 PNCT đẻ tại bệnh viện
BVBMTSS thấy rằng tỷ lệ thiếu máu là 62%, trong đó chủ yếu là thiếu máu mức độ
nhẹ ( 94,1%) còn lại thiếu máu trung bình (5,9%), không có trường hợp nào thiếu
máu nặng. Sau đẻ tình trạng thiếu máu ở sản phụ tăng (85,9%), trong đó 81% thiếu
máu nhẹ, 18,7% thiếu máu trung bình, 3% thiếu máu nặng. Thiếu máu trong thời kỳ
mang thai ảnh hưởng rõ rệt tới tình trạng thiếu máu sau đẻ của sản phụ. Thiếu máu
PNCT có ảnh hưởng rõ rệt tới một số chỉ số hình thái của trẻ sơ sinh: các chỉ số cân
nặng, chiều cao, vòng đầu, vòng ngực, vòng cánh tay của nhóm trẻ sơ sinh có mẹ bị
thiếu máu đều thấp hơn có ý nghĩa so với các chỉ số hình thái này của nhóm sơ sinh
có mẹ không thiếu máu [26].


Năm 2003, Nguyễn Viết Trung nghiên cứu trên 416 PNCT và 35 phụ nữ không
có thai tại Bệnh viện Quân Y 103, thấy: tỷ lệ thiếu máu là 37,02%, hầu hết là thiếu

Tất cả bệnh án đẻ tại khoa sản bệnh viện đa khoa Đông Anh năm 2014 có đầy đủ
thông tin nghiên cứu, không nằm trong nhóm loại trừ.
2.2.3. Thu thập thông tin và dữ liệu:
- Lấy thông tin từ bệnh án.
- Ghi chép thông tin vào phiếu thu thập.
2.2.4. Các biến số nghiên cứu:
* Các yếu tố liên quan
- Tuổi của thai phụ.


- Địa chỉ: Nông thôn, thị trấn
- Nghề nghiệp: Cán bộ công nhân viên chức, làm ruộng và nghề khác
- Số lần đẻ
- Khoảng cách sinh lần này so với lần sinh trước ở người con rạ ( năm).
- Số con của lần đẻ này.
- Lượng huyết sắc tố.
- Số lượng hồng cầu.
- Lượng hematocrit.
- Cách thức đẻ: Đẻ thường, mổ đẻ
2.2.5. Một số tiêu chuẩn liên quan đến nghiên cứu:
- Đánh giá về thiếu máu
Theo tiêu chuẩn của WHO [11] thiếu máu ở PNCT khi Hb90g/l và 110g/l.
Tiêu chuẩn đánh giá nghề nghiệp:
- Cán bộ công nhân viên chức
- Làm ruộng

3.2. Mức độ thiếu máu của thai phụ
Bảng 1: Mức độ thiếu máu của thai phụ
Mức độ thiếu máu

Số lượng (n)

Tỷ lệ (%)

Nhẹ

1485

95,74

Trung bình

66

4,26

Nặng

0

0

Tổng số

1551


4

36,36

7

63,64

11

19- 24

557

28,45

1401

71,55

1958

25- 34

912

25,91

2608


- Nhóm thai phụ có độ tuổi từ 25 đến 34 có tỷ lệ thiếu máu thấp nhất: 25,91%
- Không có thai phụ nào có tuổi ≥ 45
3.3.2. Nghề nghiệp của thai phụ
Bảng 3. Liên quan giữa nghề nghiệp của thai phụ và thiếu máu


Nhóm

Thiếu máu

Không thiếu máu

Tổng

n

%

n

%

CBCNV

968

26,11

2739


- Nhóm thai phụ làm các nghề khác có tỷ lệ thiếu máu là thấp nhất: 24,14%
3.3.3. Số lần đẻ của thai phụ
Bảng 4. Liên quan giữa số lần đẻ của thai phụ và thiếu máu
Nhóm

Thiếu máu

Không thiếu máu

Tổng

n

%

n

%

1

506

24,73

1540

75,27

2046

Bảng 5. Liên quan giữa khoảng cách giữa lần sinh trước của thai phụ con rạ và
thiếu máu


Thiếu máu

Không thiếu máu

Tổng

n

%

n

%


3.3.5. Số lượng thai
Bảng 6. Liên quan giữa số lượng thai và thiếu máu
Nhóm

Thiếu máu

Không thiếu máu
Tổng

n

%

n

%

1 thai

1548

26,95

4197

73,05

5745

>1 thai

Nông thôn

n

%

n

%

1464

27,22

3915

72,78

5379

Thị trấn

87

23,26

287

76,74



Mổ đẻ

560

36,11

1684

40,08

Tổng

1551

100

4202

100

Nhận xét:
- Nhóm thai phụ thiếu máu: tỷ lệ mổ đẻ là 36,11%
- Nhóm thai phụ không thiếu máu: tỷ lệ mổ đẻ là 40,08%


CHƯƠNG 4
BÀN LUẬN
Thiếu máu trong quá trình mang thai là một biểu hiện rất thường gặp trong sản
khoa và là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của sơ sinh cũng như gây ra

thai phụ tại bệnh viện 103 tỷ lệ thiếu máu là 37,02% . Chúng tôi cho rằng do các
nghiên cứu trước đây được làm từ những thập niên 90, điều kiện kinh tế còn khó
khăn, nay điều kiện kinh tế được cải thiện đáng kể nên tỷ lệ thiếu máu giảm rõ rệt.

4.2. Mức độ thiếu máu
Kết quả nghiên cứu trong số 1551 thai phụ thiếu máu cho thấy chủ yếu là thiếu máu
mức độ nhẹ chiếm 95,74%, thiếu máu mức độ trung bình chiếm 4,26% , không có
trường hợp nào thiếu máu mức độ nặng. So sánh với các nghiên cứu của nhiều tác giả
khác chúng tôi thấy mức độ thiếu máu trong nhóm PNCT bị thiếu máu của chúng tôi
tương đương với nhiều nghiên cứu trước đó: Lê Xuân Ngọc ( 1989) thiếu máu nhẹ là
99,2%, thiếu máu trung bình là 0,8%; Trương Thúy Vinh (1991) tỷ lệ thiếu máu nhẹ
là 94%, trung bình là 6%; Nguyễn Thị Minh Yên (2001) tại BVBMTSS cho thấy tỷ lệ
thiếu máu nhẹ là 94,1%, trung bình là 5,9%. Cả ba nghiên cứu trên không thấy trường
hợp nào thiếu máu nặng. Có lẽ cũng do điều kiện kinh tế được cải thiện, trình độ dân
trí được nâng lên nên người dân có điều kiện chăm sóc sức khỏe tốt hơn nên tình
trạng thiếu máu được cải thiện đáng kể.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status