ĐẶT VẤN ĐỀ
Những giá trị mà con người lựa chọn và theo đuổi sẽ quy định hoạt
động học tập, lao động nghiên cứu khoa học, sáng tạo nghệ thuật và sẽ thể
hiện rõ trong lao động. Tính hiệu quả và thiết thực của lao động phụ thuộc
vào phẩm chất, năng lực bên trong con người lao động và một phần nó phụ
thuộc không nhỏ vào giá trị của cá nhân.
Một xã hội ổn định, một cộng đồng, một tập thể muốn có sự đoàn kết
nhất trí thì phải có hệ thống giá trị cơ bản chung và định hướng của các cá
nhân cũng nhằm vào các giá trị cơ bản cốt lõi trong sự hài hòa với các giá trị
đặc thù cũng như giá trị riêng của cá nhân.
Những thay đổi nhiều về mặt ngoài của xã hội cũng làm thay đổi nhiều
về giá trị cá nhân.Việc nghiên cứu những thay đổi này cũng góp phần vào
việc định hướng được hoạt động giáo dục và phát triển của con người Việt
Nam trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để xây dựng và
phát triển kinh tế xã hội.
Trong những thập kỉ vừa qua vấn đề giá trị được nhiều nước trên thế giới
quan tâm. Giá trị là một trong những biểu hiện rõ nét của xu hướng nhân cách.
Giá trị được hình thành trong quá trình sống và hoạt động của cá nhân, trong quan
hệ với tự nhiên, xã hội và cộng đồng. Giá trị luôn là vấn đề được tổ chức và các
ngành khoa học quan tâm và nghiên cứu.
Ngành Y là môt ngành rất quan trọng và đặc biệt. Ảnh hưởng trực tiếp
đến sức khỏe và tính mạng con người. Hai yếu tố trên là hai vốn quý và quan
trọng nhất không chỉ của con người mà là của toàn xã hội nên đỏi hỏi những
người làm việc và công tác trong ngành Y phải có những nỗ lực rất lớn để
đem lại hiệu quả cao trong công việc và trong nghề nghiệp.
1
Giá trị nghề nghiệp cũng là một vấn đề được nhiều tác giả quan tâm.
Giá trị nghề Y cũng lần đầu tiên được đề cập tới bởi tác giả Phạm Phương
Thảo khi nghiên cứu về “Tìm hiểu thực trạng giá trị nghề thầy thuốc của sinh
viên trường Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh năm 1999”. Đây là giá
trị được đánh giá từ góc độ của xã hội. Giá trị nghề Y được nhìn nhận dưới
Anh, CHLB Đức, Pháp, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Nam Tư, Philipin, Hàn Quốc,
Braxin. Cùng thời gian đó viện khảo sát xã hội học của châu Âu đã tiến hành
điều tra trên thanh niên lứa tuổi từ 15 - 24 ở 9 nước châu Âu: Pháp, Bỉ, Hà
Lan, CHLB Đức, Italia, Đan Mạch, Ailen, Anh và Hi Lạp. Cả hai cuộc điều
tra trên người ta chủ yếu đề cập đến vấn đề giá trị của thanh niên nhằm chuẩn
bị cho họ sẵn sàng bước vào cuộc sống.
3
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam vấn đề giá trị là một vấn đề khá mới mẻ ở cả phương diện
lí luận lẫn thực tiễn. Trong những năm gần đây biến động của nền kinh tế xã
hội cũng làm xuất hiện các giá trị mới trong đời sống, chính vì thế vấn đề giá
trị được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tới. Một số công trình nghiên cứu
như sau:
- Lê Đức Phúc: “Giá trị và định hướng giá trị” – NCGD số 12- 1992 [16].
- Trần Trọng Thúy: “Giá trị, định hướng giá trị và nhân cách” – NCGD
số 7- 1993 [20].
- Nguyễn Quang Uẩn – Mạc Văn Trang: “Giá trị, định hướng giá trị
nhân cách và giáo dục giá trị”, chương trình khoa học công nghệ cấp nhà
nước KX 07, 1995 [24]. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những đặc trưng trong
giá trị con người ở Việt Nam đương thời, những nét tích cực và tiêu cực của
nó, xu thế phát triển nhu cầu của con người Việt Nam trong sự phát triền kinh
tế xã hội từ đó đề xuất giá trị cần giáo dục cho con người Việt Nam để phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Hội nghị khoa học “Nghiên cứu con người, giáo dục phát triển và thế
kỉ XXI”- chương trình khoa học cấp nhà nước do GS.TSKH Phạm Minh Hạc
chủ nhiệm đề tài KX- 07: “Con người Việt Nam- mục tiêu và động lực của sự
phát triển kinh tế xã hội” tổ chức tại Hà Nội tháng 7- 1994 đã đề cập đến vấn
đề giá trị của con người Việt Nam hiện nay [7].
- Trên tạp chí nghiên cứu giáo dục có đăng một số bài đề cập đến vấn
đề giá trị:
một xã hội cụ thể.
- Đạo đức học: Quy giá trị về các lĩnh vực đạo đức bởi bản thân đạo đức
là giá trị và giá trị nào cũng được hình thành trong các mối quan hệ đạo đức.
- Giáo dục học: Không nghiên cứu giá trị mà sử dụng khái niệm giá trị
của triết học, mỹ học, xã hội học, đạo đức học để luận chứng mục đích, nội
dung và phương pháp giáo dục.
- Tâm lý học: Giải thích khái niệm giá trị chung từ quan điểm triết học.
Như vậy có rất nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm giá trị. Có thể khái
quát ở một số điểm sau:
- Bất cứ một sự vật nào cũng có thể xem là giá trị, dù nó là vật thể hay
phi vật thể miễn là nó được người ta thừa nhận và cần đến nó như một nhu
cầu hoặc cấp cho nó một ví trí quan trọng trong đời sống.
- Cần phân biệt cái gọi là bản chất và quy luật của sự vật hiện tượng với
cái gọi là giá trị của chúng.
- Giá trị có thể tốt hay xấu đúng hay sai nhưng điểm quan trọng của giá
trị là đúng hay sai tốt hay xấu là do các nguyên tắc, các chuẩn mực đạo đức
do xã hội quy định.
- Giá trị được tạo nên bởi thực tế của lịch sử xã hội. Thực tiễn là tiêu
chuẩn của mọi giá trị.
- Khi đã nhận thức một cách đầy đủ nhất các giá trị trở thành những
tiêu chuẩn cho sự đánh giá, ưa thích và sự lựa chọn. Giá trị được coi là cơ sở
cho hành động của con người.
1.2.1.2. Một số đặc trưng cơ bản về giá trị
Khái niệm giá trị cho thấy giá trị tồn tại ở cả hai mặt khách quan và chủ quan.
Mặt khách quan thể hiện ở chỗ sự xuất hiện, tồn tại hay mất đi của một
giá trị nào đó không hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức của chủ thể trong mối
6
quan hệ giữa sự vật và hiện tượng, mà nó phụ thuộc vào sự tồn tại, xuất hiện
hay mất đi của một nhu cầu nào đó của con người.
Mặt chủ quan thể hiện ở chỗ cùng một sự vật hiện tượng nhưng đối với
đối khàng riêng biệt.
Giá trị tồn tại bên trong chủ thể, nó không phải lá một trạng thái sự vật
mà là một trạng thái tư tưởng và do đó giá trị không thể tồn tại được nếu
không có chủ thể. Giá trị chỉ là giá trị trong ý thức của chủ thể biểu hiện với
tư cách là một nội dung nhất định.
Cơ chế hình thành giá trị trên có ý nghĩa quan trọng trong việc vận
dụng vào giảng dạy và giáo dục giá trị cho học sinh ở các cấp. Thực chất quá
trình giảng dạy và giáo dục là quá trình tỗ chức hình thành ở học sinh những
giá trị về văn hóa, khoa học, thẩm mỹ đạo đức…Vì vậy mỗi người làm công
tác giáo dục cần hiểu và nắm được cơ chế này.
1.2.1.4. Vai trò của giá trị
Qua các vấn đề đã trình bày, ta thấy giá trị có tác dụng như những quy
tắc, chuẩn mực để hướng con người tới mục tiêu, thúc đẩy và điều chỉnh hành
động của con người hướng tới mục tiêu đó. Giá trị là cơ sở của việc đánh giá
thái độ hành vi là đúng là nên có, nên làm hoặc là sai hoặc không nên có. Sự
thống nhất , ổn định về mặt tâm lí, đạo đức, tinh thần của cá nhân và xã hội
được chỉ đạo bởi các giá trị. Nó là thang bậc chuẩn của hành vi để các thành
viên của xã hội so sánh đối chiếu, phân biệt được những hành động và suy
nghĩ tốt đẹp,tích cực hoặc tiêu cực. Giá trị góp phần hình thành ý thức, thái độ
8
và sức mạnh của luận đạo đức để đối phó với những hành vi đi ngược lại với
lợi ích của xã hội và nhân loại.
Giá trị có vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển của nhân cách
con người. Là cơ sở cho sự hình thành và duy trì những định hướng giá trị
tròn ý thức của con người, cho phép cá nhân giữ một lập trường nhất định,
bày tỏ quan điểm của mình, đánh giá và phê phán. Và thúc đẩy hành vi, hoạt
động của con người, bởi vì sự định hướng của con người trong thế giới xung
quanh và nguyện vọng đạt được các mục đích riêng lẻ của họ đều được đối
chiếu vói các giá trị nằm trong cấu trúc nhân cách.
1.2.2. Giá trị nghề nghiệp
- Nhóm nghề quan hệ với kĩ thuật như: thợ điện, thợ máy, kĩ sư xây
dựng…
- Nhóm nghề quan hệ với tự nhiên: nghề làm vườn, bác sĩ thú y, chăn
nuôi, trồng trọt…
- Nhóm nghề quan hệ với tín hiệu như: nhân viên đánh máy, nhân viên
ra da…
- Nhóm nghề quan hệ trực tiếp với con người như: cán bộ quản lý, nhân
viên bán hàng, thầy thuốc, thầy giáo…
- Nhóm nghề quan hệ với nghệ thuật như: họa sĩ, diễn viên điện ảnh…
Như vậy bác sĩ thuộc nhóm nghề quan hệ trực tiếp với con người.
1.2.2.2. Giá trị nghề nghiệp
Có nhiều hướng nghiên cứu và nhiều cách hiểu khác nhau về giá trị
nghề nghiệp.
Phạm Phương Thảo cho rằng giá trị nghề nghiệp là sự đánh giá của xã
hội đối với nghề nghiệp [18]. Tuy nhiên khi xây dựng bảng hỏi về nhận thức
10
các giá trị nghề nghiệp thì phải đề cập đến: các chuẩn mực, nguyên tắc, các
đặc điểm, các vị trí của nghề, những yêu cầu về đạo đức, tài năng của những
người hành nghề, những lợi ích mà nghề đó đem lại cho cá nhân, cho xã hội,
những yêu cầu của xã hội đối với nghề đó [1], [18]…
Giá trị nghề nghiệp cũng có thể được nhìn nhận là tốt, xấu nếu căn cứ vào
các chuẩn mực đạo đức, những yêu cầu mà xã hội đòi hỏi ở nghề nghiệp đó.
1.3. Vài nét về trường Đại học Y Hà Nội và Viện Đào tạo Y học
dự phòng và Y tế công cộng
Trường Đại học Y Hà Nội được thành lập năm 1902. Trường luôn là
một trong những trường Đại học hàng đầu của nền giáo dục Việt Nam với bề
dày lịch sử. Trong hơn một thế kỷ hình thành và phát triển vừa qua, nhà
trường đã đóng góp một vai trò quan trọng trong việc đào tạo nhân lực cho
ngành y tế, có nhiều thành tích đáng kể trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân,
phục vụ xã hội và phát triển đất nước, cả trong thời bình cũng như trong các
Sinh viên Y4 hệ Bác sĩ Đa khoa trường Đại học Y Hà Nội.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.3.2. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
2.3.2.1. Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức sau :
n = Z
2
1-α/2
Trong đó:
• n : Cỡ mẫu nghiên cứu
• s : Độ lệch chuẩn (ước tính từ một nghiên cứu trước hoặc một nghiên
cứu thử) (s= 0,8)
•
X
: Giá trị trung bình từ nghiên cứu trước hoặc nghiên cứu thử (
X
= 2)
• ε : Mức sai lệch tương đối giữa tham số mẫu và tham số quần thể (ε = 0,06)
• α : Mức ý nghĩa thống kê (α =0,05 thì Z
2
1-α/2
= 3,84)
Như vây: n= Z
2
1-0,05/2
= 170
13
Phần 2: Lựa chọn lĩnh vực và chuyên ngành.
Phần 3: Giá trị nghề Y: sử dụng bộ câu hỏi của P.J. Hartung thuộc khoa
Khoa học hành vi trường Đại học y bang Ohio – Mỹ để điều tra nhằm thu
thập các thông tin liên quan đến giá trị nghề Y.
Phần 4: Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị nghề Y của sinh viên.
(xem phụ lục)
* Giới thiệu bộ câu hỏi
Bộ câu hỏi gồm 38 câu để thu thập thông tin cho 6 giá trị nghề Y bao
gồm các giá trị sau:
Giá trị về sự danh giá bao gồm các câu: 1,7,13,19,24,28,31,34,36,38.
Giá trị về sự phục vụ bao gồm các câu: 2,8,14,20,25,29,32,35,37.
Giá trị về quyền tự quyết bao gồm các câu: 3,9,15,21,26,30,33.
Giá trị liên quan đến đời sống cá nhân bao gồm các câu: 4,10,16,22.
Giá trị về sự quản lý bao gồm các câu: 5,11,17,23,27.
Giá trị về theo đuổi con đường khoa học bao gồm các câu: 6,12,18.
* Mục đích bộ câu hỏi
Muốn giúp cho sinh viên Y khoa thấy được giá trị nghề Y của họ là gì
hay điều gì cần thiết quan trọng đối với họ trong nghề nghiệp tương lai sau
này. Giá trị được coi như là nhân tố dự đoán có ý nghĩa để dễ nhận thấy sự hài
lòng về nhưng lựa chọn. Giá trị của bác sĩ trong thang đo này là mục đích để
cung cấp một thước đo nhanh chóng và dễ nhận thấy một giá trị cá nhân liên
quan đến thực hành trong ngành Y. Do đó, nó đóng vai trò lá một công cụ
quan trọng làm tăng sự tự nhận thức và củng cố lựa chọn chuyên ngành.
* Tiêu chuẩn và thang đánh giá
- Về giá trị nghề Y: mỗi câu được chia làm 5 mức: rất không đồng ý,
không đồng ý, chưa lựa chọn, đồng ý, rất đồng ý. Tương ứng với các mức đó
sẽ cho điểm từ 1 đến 5. Số liệu được xử lý bằng cách tính giá trị trung bình
15
cho từng câu sau đó tính giá trị trung bình cho từng giá trị [4, tr.24]. Điểm thu
được sẽ tính như sau:
nhiều, ảnh hưởng ít và không ảnh hưởng.
* Quy trình thu thập số liệu
- Lấy danh sách sinh viên từ phòng Đào tạo Đại học.
- Chọn các sinh viên vào mẫu nghiên cứu theo quy định.
- Liên hệ với lớp trưởng, tổ trưởng, phòng Đào tạo Đại học để chọn thời
điểm phù hợp.
16
- Những sinh viên tham gia nghiên cứu được gửi giấy mời tham gia
nghiên cứu, gửi mã cá nhân, giải thích đầy đủ tính bảo mật của nghiên cứu,
thời gian…
- Tổ chức thu thập số liệu: Việc điền vào phiếu điều tra được tiến hành ở
các lớp học với số lượng 20 sinh viên một lần và được đảm bảo hoàn toàn bí
mật dưới sự giám sát của nghiên cứu viên. Các phiếu sau khi hoàn thành sẽ
được kiểm tra đê đảm bảo không bỏ sót.
2.4. Xử lý số liệu
Được tiến hành theo các bước sau:
- Các phiếu điều tra được kiểm tra cẩn thận các số liệu trước khi nhập
vào máy.
- Số liệu điều tra được nhập vào máy bời phần mềm EPIDATA 3.1.
- Xử lí số liệu bằng phần mềm STATA 11.
- Phân tích đơn biến mô tả các đặc điểm của sinh viên và các giá trị
nghề nghiệp.
2.5. Một số sai số và cách khống chế sai số
- Trong nghiên cứu này một số sai số có thể gặp là:
+ Sai số do sinh viên bỏ trống không điền.
+ Sai số do sinh viên chưa hiểu rõ câu hỏi.
+ Sai số trong quá trình nhập số liệu.
- Cách khắc phục sai số.
+ Hướng dẫn lý cách trả lời từng câu hỏi cho các sinh viên trước khi
họ tự điền vào bộ phiếu.
< 6,5
21 10,94
6,5 ≤ đến < 7,5 101 52,60
≥ 7,5
70 36,46
Trình độ học vấn
của cha mẹ
Sau đại học 14 7,29
Đại học 58 30,21
Cao đẳng/ Trung cấp 97 50,52
Phổ thông 20 10,42
Lĩnh vực khác 3 1,56
Lĩnh vực làm
việc sau khi ra
trường
Khoa học cơ sở, cận lâm sàng 4 2,08
Lĩnh vực lâm sàng 162 84,38
Chưa chọn lĩnh vực 26 13,54
Lựa chọn chuyên
ngành trong lĩnh
vực lâm sàng
Hệ nội Nội khoa 25 15,43
Nhi khoa 14 8,64
Tim mạch 10 6,17
Hồi sức cấp cứu 1 0,63
Tổng 50 30,87
Hệ
ngoại
Ngoại khoa 29 17,90
Sản phụ khoa 12 7,41
viên Y4 vẫn còn rất băn khoăn khi lựa chọn chuyên ngành nên việc chưa lựa
chọn là hợp lý.
20
3.2. Thực trạng giá trị nghề Y ở sinh viên Y4 Đa khoa trường
Đại học Y Hà Nội năm học 2010- 2011
3.2.1. Giá trị nghề của sinh viên được nghiên cứu
3.2.1.1. Các nhóm giá trị nghề Y
Biểu đồ 3.1. Giá trị nghề Y của SV Y4 Đa khoa trường ĐHYHN (theo các
nhóm giá trị)
Nhận xét:
Kết quả nghiên cứu cho thấy ĐTB của các nhóm giá trị nghề nghiệp của
sinh viên Y4 Đa khoa trường Đại học Y Hà Nội là ở mức rất đồng ý:
Nhóm giá trị theo đuổi con đường khoa học: 3,88
Nhóm giá trị về tính tự quyết: 3,70
Nhóm giá trị về sự phục vụ: 3,57
Nhóm giá trị về sự danh giá của ngành nghề: 3,57
Dù vậy có 2 nhóm giá trị: Nhóm giá trị liên quan đến đời sống cá nhân
3,50 và Nhóm giá trị về quản lí 2,92 là ở mức lưỡng lự.
21
Bảng 3.2. Tương quan giữa các nhóm giá trị trong Giá trị nghề Y của SV
Y4 Đa khoa trường ĐHYHN
1 2 3 4 5 6
1. Nhóm giá trị về sự danh giá
của ngành nghề
1,000
2. Nhóm giá trị về sự phục vụ 0,5805
1,000
3. Nhóm giá trị về tính tự quyết 0,5160 0,4323
1,000
4. Nhóm giá trị liên quan đến
về chuyên môn, lâm sàng của mình mà không
phụ thuộc vào cơ quan hay cá nhân khác.
GT15. Được quyết định các khía cạnh tài chính
lien quan đến công việc của tôi.
GT21. Được làm việc theo nhu cầu và phong
cách riêng của tôi.
GT26. Đuợc thực hiện công việc của mình theo
những cách sáng tạo riêng.
GT30. Được thực hiện công việc của mình theo
những cách sáng tạo riêng.
GT33. Được lựa chọn cách tiếp cận/ cách làm
của riêng mình trong việc chăm sóc, điều trị và
dự phòng.
23
Nhận xét:
Giá trị về tính tự quyết của SV Y4 đa khoa trường Đại học Y Hà Nội
được thể hiện tập trung nhất ở “Đuợc thực hiện công việc của mình theo
những cách sáng tạo riêng” (ĐTB= 3, 82 xếp thứ 1). Các giá trị thể hiện rõ
ràng tính tự quyết: “Được lựa chọn cách tiếp cận/ cách làm của riêng mình
trong việc chăm sóc, điều trị và dự phòng” (ĐTB= 3,80 xếp thứ 2), “Được
thực hiện công việc của mình theo những cách sáng tạo riêng” (ĐTB= 3,78
xếp thứ 3), “Được có cuộc sống an khang thịnh vượng” và “Được làm việc
theo nhu cầu và phong cách riêng của tôi” (ĐTB= 3,71 xếp thứ 4). Các giá trị:
“Được kiểm soát hoàn toàn các quyết định về chuyên môn, lâm sàng của
mình mà không phụ thuộc vào cơ quan hay cá nhân khác” (ĐTB= 3,62 xếp
thứ 6) và “Được quyết định các khía cạnh tài chính liên quan đến công việc
của tôi” (ĐTB= 3,47 xếp thứ 7) thể hiện ở mức độ thấp hơn.
3.2.1.4. Giá trị về sự phục vụ
Biểu đồ 3.4. GT về sự phục vụ
Nhận xét:
“Được chia sẻ tài năng và chuyên môn của tôi với các tổ chức, cơ sở
chuyên môn của tôi với các tổ chức, cơ sở chuyên môn về y học dự phòng và
y tế công cộng” (ĐTB= 3,96 xếp thứ 2).
“Được có cơ hội làm các công việc tình nguyện, từ thiện cho cộng đồng
nơi tôi sinh sống và / hoặc làm việc” (ĐTB= 3,90 xếp thứ 3).
“Được trực tiếp quan tâm chăm sóc đến cuộc sống bệnh của bệnh nhân
chứ không chỉ bệnh tật của họ” (ĐTB= 3,77 xếp thứ 4).
“Được thỏa sức sáng tạo các ý tưởng” (ĐTB= 3,60 xếp thứ 5).
“Có khả năng tham gia bảo việc hỗ trợ hình thành hoặc thay đổi chính
sách y tế” (ĐTB= 3,53 xếp thứ 6).
Những giá trị mà SV chưa hướng tới trong nhóm giá trị này là: “Được
làm việc với các tổ chức quản lý lãnh đạo cộng đồng, địa phương ở nơi tôi
làm việc” (ĐTB= 3,38), “Được có vị trí trong tổ chức chính quyền của địa
phương/ cộng đồng ở nơi tôi làm việc” (ĐTB= 2,95), “Được làm việc với các
tổ chức quản lý, đoàn thể ở địa phương nơi tôi làm việc” (ĐTB= 2,88) đều ở
mức lưỡng lự.
25