đánh giá kết quả bước đầu phẫu thuật bóc vỏ phổi theo từng giai đoạn bệnh của viêm mủ màng phổi - Pdf 23

GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
1. Đặt vấn đề
Viêm mủ màng phổi (VMMP) là một bệnh lý do viêm nhiễm
tạo mủ trong khoang màng phổi (KMP). Bệnh có thể diễn biến cấp
tính hoặc mạn tính. VMMP thường do các loại vi khuẩn (VK) gây
bệnh trực tiếp tại KMP hoặc thứ phát sau nhiễm trùng phổi phế quản
[1], [4], [5], [6], [42].
Theo Hiệp hội Lồng ngực Hoa Kỳ (The American Thoracic
Society - ATS) VMMP tiến triển theo 3 giai đoạn: Giai đoạn I là
viêm mủ xuất tiết (exudative empyema). Giai đoạn II là quá trình
lắng đọng fibrin hình thành các vách và mủ (fibrinopurulent
empyema). Giai đoạn III là lắng đọng fibrin và collagen (organizing
phase) hay còn gọi là giai đoạn ổ cặn màng phổi (OCMP) [23].
Trên thế giới, từ năm 1990 đến nay, việc điều trị VMMP đã có
nhiều tiến bộ, đặc biệt là việc ứng dụng kỹ thuật nội soi đối với
VMMP ở giai đoạn I, II và chỉ mổ mở ở giai đoạn III [28], [31], [33].
Ở Việt Nam, VMMP vẫn còn là một bệnh hay gặp. Theo
Hoàng Đình Cầu (1984), tỷ lệ VMMP và OCMP được điều trị phẫu
thuật chiếm 20% số BN mổ tại khoa Ngoại – Bệnh viện Lao và Bệnh
phổi trung ương [2]. Đàm Hiếu Bình (2005), nghiên cứu 50 trường
hợp VMMP thấy: phẫu thuật bóc vỏ phổi chiếm 64%, phẫu thuật
Heller 20%, phẫu thuật lồng ngực nội soi hỗ trợ (VATS) là 20% [1].
Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về đặc điểm
lâm sàng, cận lâm sàng, chỉ định phẫu thuật và đánh giá kết quả điều
trị ngoại khoa theo từng giai đoạn bệnh của VMMP [11], [15], [18].
Từ thực tế trên, chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm hai mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của VMMP theo các
giai đoạn.
2. Đánh giá kết quả bước đầu phẫu thuật bóc vỏ phổi theo từng
giai đoạn bệnh của VMMP.
1

97 tiếng Anh, 1 tiếng Pháp.
2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Định nghĩa viêm mủ màng phổi.
Theo định nghĩa cổ điển, VMMP là sự xuất hiện mủ trong
KMP. Dịch trong KMP có thể là một lớp mủ, hoặc chỉ là một lớp
dịch đục, nhưng bao giờ cũng chứa xác những bạch cầu đa nhân –
thành phần cơ bản của mủ [6], [11], [23], [66], [111]. Năm 1973,
Wiliam đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán VMMP dựa vào kết quả phân
tích dịch màng phổi (MP): tỷ trọng dịch MP > 1,018, số lượng bạch
cầu > 500 tế bào/mm
3
hoặc trị số Protein lớn hơn 2,5mg/100ml [112].
1.2. Giải phẫu, sinh lý màng phổi.
Màng phổi là một lớp thanh mạc gồm có 2 lá: lá tạng bao bọc
mặt ngoài của phổi, lá thành lót mặt trong của thành ngực, hai lá gặp
nhau ở rốn phổi, khép kín tạo nên KMP (một khoang ảo). Trong
KMP có một lớp dịch rất mỏng (10-20µm) làm cho lá thành và lá
tạng dễ dàng trượt lên nhau trong quá trình hô hấp [66], [108].
1.3. Yếu tố thuận lợi, đường tiếp cận gây viêm mủ màng phổi.
1.3.1. Các yếu tố có tính chất nội khoa.
Bị bệnh lao; viêm phổi; suy dinh dưỡng; các bệnh cấp tính;
nghiện rượu, tiểu đường; lây nhiễm HIV/AIDS; mất khả năng bảo vệ
đường thở (rối loạn ý thức hôn mê ); chọc hút hoặc không vô trùng.
1.3.2. Các yếu tố có tính chất ngoại khoa.
Chấn thương, vết thương ngực; sau mổ ngực, v.v
1.3.3. Đường tiếp cận khoang màng phổi của vi khuẩn.
- Đường tiếp cận trực tiếp; đường máu; đường bạch huyết.
1.4. Căn nguyên vi sinh gây viêm mủ màng phổi
 Vi khuẩn hiếu khí, kỵ khí.

MP có những lớp mủ lẫn với thanh tơ, làm các lá này trở nên cứng.
- Giai đoạn III (tổ chức hoá MP – OCMP; kéo dài trên 6
tuần): qua nhiều ngày bị VMMP, lớp thanh tơ trên bề mặt của MP đã
tổ chức hoá và xơ cứng, hình thành kén mủ có vỏ bọc chắc. Trong
KMP có một khoang trống gọi là ổ cặn.
1.6. Chẩn đoán viêm mủ màng phổi.
1.6.1. Một số đặc điểm lâm sàng của viêm mủ màng phổi.
- Triệu chứng lâm sàng của VMMP cũng như trong các bệnh
cảnh lồng ngực khác. Các triệu chứng nổi trội thường gặp như: sốt,
4
ho, khó thở, đau ngực, hội chứng ba giảm ở vị trí có dịch mủ [50].
- Lâm sàng của VMMP theo giai đoạn bệnh [23], [47], [66]:
+ VMMP giai đoạn I: tràn dịch màng phổi (TDMP) tự do, với
hội chứng ba giảm là chủ yếu. Đôi khi BN vào viện với biểu hiện đau
ngực, ho khan, có thể có sốt cao, hội chứng nhiễm trùng nhiễm độc.
+ VMMP giai đoạn II: giai đoạn II hình thành các bọc mủ khu
trú trong KMP, lâm sàng không biểu hiện rõ hội chứng ba giảm ở đáy
phổi. BN thường vào viện sau 2-4 tuần kể từ khi có triệu chứng khởi
phát, các triệu chứng như đau ngực, sốt, khó thở không còn rầm rộ.
+ VMMP giai đoạn III: giai đoạn III là giai đoạn có dịch mủ
đặc trong KMP dẫn tới tình trạng co kéo hạn chế nở phổi. BN vào
viện với bệnh cảnh thông khí hạn chế mạn tính, khám có thể thấy một
số dấu hiện biến chứng của co kéo MP như hẹp hai xương bả vai, đôi
khi có biến dạng lồng ngực. Một số BN vào viện với bệnh cảnh rò
thành ngực hoặc biến chứng của rò phế quản.
1.6.2. Một số đặc điểm cận lâm sàng của viêm mủ màng phổi.
 Hình ảnh X quang phổi : ở BN bị VMMP giai đoạn I, II,
trên phim X quang có thể thấy hình ảnh TDMP tự do hoặc khu trú.
Với BN bị VMMP giai đoạn III có hình ảnh ổ cặn, [66], [87].
 Hình ảnh siêu âm : BN bị VMMP giai đoạn I, II có thể gặp

 VMMP giai đoạn III:
- Lâm sàng biểu hiện biến chứng dày dính co kéo MP. Dẫn
lưu KMP có dịch đục, mủ (xét nghiệm dịch MP có > 500 bạch
cầu/ml). CLVT có hình ảnh OCMP; có thể có hình ảnh vôi hóa MP;
1.6.5. Chẩn đoán nguyên nhân gây viêm mủ màng phổi.
Xác định căn nguyên gây VMMP phải dựa vào tiền sử bệnh,
lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh, phân tích dịch MP, kết quả giải phẫu
bệnh, đánh giá kết quả điều trị.
1.7. Phương pháp điều trị viêm mủ màng phổi.
1.7.1. Điều trị nội khoa.
- Điều trị KS toàn thân.
- Điều trị KS tại chỗ KMP.
- Chọc hút dịch MP : ngày nay chọc hút dịch MP đơn thuần
để điều trị ít được khuyến cáo.
6
- Bơm các men tiêu sợi huyết vào KMP: ở giai đoạn 2, một số
tác giả khuyên nên dùng thêm các phân hóa tố tiêu sợi huyết
(Urokinase hoặc Streptokinase) [28], [45], [82], [113].
1.7.2. Điều trị bằng phẫu thuật.
 Dẫn lưu kín dịch MP : dẫn lưu kín dịch MP được áp dụng
trong điều trị VMMP giai đoạn sớm (giai đoạn I theo ATS) với tỷ lệ
thành công từ 25-75% [21], [36], [42], [84].
 Dẫn lưu mở KMP: dẫn lưu mở KMP được chỉ định với
mục đích dẫn lưu lâu dài dịch từ KMP ra ngoài [63], [74], [75], [76].
- Phương thức đơn giản: cắt từ 1-3 xương sườn phía trên phần
thấp ổ mủ của KMP và tạo một đường dẫn lưu mở ra ngoài.
- Tạo van dẫn lưu mở: van dẫn lưu được tạo ra bởi 2 đầu da và
cơ được bố trí sao cho nó tạo ra rãnh giữa da cơ và khoang ngực.
 PTNS bóc vỏ phổi : hầu hềt các can thiệp nội soi lồng ngực
được sử dụng khi dẫn lưu MP 72 giờ thất bại, phổi không nở. Khi

2
2
)2/1(
)1(
d
pp
Zn

=

α
Trong đó : ● p là tỷ lệ BN bị VMMP giai đoạn III trên tổng số BN bị
VMMP. Theo các nghiên cứu trước đây là 37% [55].
● α là độ tin cậy, với α = 5%; thì Z
(1- α/2)
= 1,96.
● d là sai số ước lượng = 0,07
Như vậy cỡ mẫu tối thiểu là n = 178, lấy tròn là 180 BN.
2.2.2. Các chỉ số nghiên cứu.
- Tiền sử bệnh; bệnh kèm theo (COPD, tim mạch, tiểu đường)
- Khám lâm sàng: triệu chứng toàn thân, cơ năng, thực thể;
- Xét nghiệm máu và đờm; chẩn đoán hình ảnh; đo chức năng
hô hấp; xét nghiệm dịch màng phổi: trước mổ và trong mổ.
2.2.3. Điều trị nội khoa và điều trị bằng phẫu thuật:
- Điều trị nội khoa: KS trước mổ, điều trị lao, chọc hút dịch
- Điều trị bằng phẫu thuật: gây mê hồi sức; đặc điểm ổ mủ;
đặc điểm tổn thương phổi trong mổ; kỹ thuật mổ; tình trạng nở phổi
sau mổ; thời gian phẫu thuật, số dẫn lưu, số lượng máu truyền.
8
2.2.4. Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật:

• Đường phẫu thuật : mở ngực rộng qua đường sau bên hoặc
đường bên, tùy theo đánh giá trên phim CLVT để đi vào OCMP.
• Kỹ thuật : hút rửa sạch khoang cặn bằng dung dịch huyết
thanh mặn ấm; rạch bao xơ để đi vào khoảng giữa bao xơ và lá tạng,
9
bóc vỏ xơ. Giải phóng lá thành đặc biệt là mặt hoành. Cầm máu thật
kỹ, kết hợp bóp bóng kiểm tra các chỗ xì khí để khâu lại hoặc đốt
điện. Rửa sạch KMP bằng huyết thanh mặn ấm, đặt 2 dẫn lưu, dẫn
lưu ngực phải hút ngay sau đóng ngực (áp lực -20 đến -25cmH
2
O).
2.6. Phương pháp xử lý số liệu.
- Sử dụng phần mềm EPI-INFO 6.04 để nhập và xử lý số liệu
bằng phần mềm Stata 11.0. Tính toán các tỷ lệ, các số trung bình,
trung vị, sử dụng test χ
2
để so sánh các tỷ lệ, test t-student để so sánh
các số trung bình, trung vị khi đánh giá kết quả điều trị.
SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU
10
Kết luận
VIÊM MỦ MÀNG PHỔI
Kết quả chụp CLVT lồng ngực
VMMP
giai đoạn I, II
VMMP
Giai đoạn III
Lâm sàng
Cận lâm sàng
So sánh

n % n % n n
Dưới 3 tuần 29 25,22 12 16,90 41 22,04
<0,05
3 đến 6 tuần 57 49,57 20 28,17 77 41,40
Trên 6 tuần 29 25,22 39 54,93 68 36,56
X ± SD (tuần) 4,1 ± 2,8 8,5 ± 2,6 6,3 ± 2,3 <0,05
Thời gian phát hiện bệnh ở nhóm BN giai đoạn I, II (4,1 tuần)
sớm hơn BN giai đoạn III (8,5 tuần), khác biệt có ý nghĩa thống kê.
3.2.2. Đặc điểm lâm sàng theo từng giai đoạn bệnh VMMP.
Bảng 3.10. Phân bố các triệu chứng ho, khó thở, sốt.
Giai đoạn
Triệu chứng
Giai đoạn
I,II (n=115)
Giai đoạn
III (n=71)
Chung
(n=186)
P
N % n % n %
Sốt
Sốt cao 29 25,22 2 2,82 31 16,67
<0,05
Nhẹ và vừa 53 46,09 11 15,49 64 34,41
Không sốt 33 28,70 38 53,52 71 38,17
Ho
Ho khan 23 20,00 6 8,45 29 15,59
<0,05
Ho khạc đờm 47 40,87 40 56,34 87 46,77
Ho ra máu 2 1,74 5 7,04 7 3,76

Ra mồ hôi đêm 55 47,83 21 29,58 76 40,86 <0,05
Thực
thể
Ran phổi 61 53,04 2 2,82 63 33,87 <0,05
Hội chứng 3 giảm 96 83,48 61 85,92 157 84,41 >0,05
Rò thành ngực 0 0,00 3 4,23 3 1,61 -
Hẹp khoang LS 5 4,35 42 59,15 47 25,27 <0,05
Lệch 2 xương vai 0 0,00 37 52,11 37 19,89 -
Những BN ở giai đoạn I, II có các triệu chứng lâm sàng khá
rầm rộ gồm đau ngực (79,1%), cao hơn số BN ở giai đoạn III có ý
nghĩa thống kê. BN ở giai đoạn III có triệu chứng chủ yếu là mệt mỏi
(77,5%), hẹp khoang liên sườn 59,2%.
3.3. Điều trị phẫu thuật
i. Chỉ định phẫu thuật.
Bảng 3.19. Chỉ định phẫu thuật.
Giai đoạn
Phẫu thuật
Giai đoạn I,II
(n=115)
Giai đoạn III
(n=71)
Chung
(n=186)
n % n % n %
PTNS 79 68,70 0 0,00 79 42,47
PTNS/mở nhỏ 36 31,30 0 0,00 36 19,35
Mổ mở 0 0,00 71 100,00 71 38,17
100% BN ở giai đoạn III chỉ định mổ mở, trong khi đó 68,7%
BN ở giai đoạn I, II được chỉ định PTNS hoàn toàn.
12

13
Thời gian
hậu phẫu (giờ)
115 8,7±2,3 71 17,8±6,3 186 12,9±5,1 <0,01
Qua bảng 3.24, thấy thời gian nằm hậu phẫu ở nhóm BN giai
đoạn I, II là 8,7 giờ, ngắn hơn so với nhóm BN giai đoạn III (17,8
giờ), sự khác biêt có ý nghĩa thống kê với p<0,01. Số BN và số lượng
máu truyền ở nhóm giai đoạn III cũng nhiều hơn nhóm giai đoạn I,
II, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
3.3.3. Tiến triển của BN sau phẫu thuật.
Bảng 3.30. Mức độ đau ngực sau mổ (theo thang VAS).
Phẫu thuật
Đau ngực
PTNS
(n=115)
Mổ mở
(n=71)
Chung
(n=186)
P
n % n % n %
Độ 0 8 6,96 0 0,00 8 4,30
-
Độ 1 37 32,17 15 21,13 52 27,96
Độ 2 49 42,61 21 29,58 70 37,63
Độ 3 16 13,91 15 21,13 31 16,67
Độ 4 5 4,35 20 28,17 25 13,44 <0,05
Mức độ đau ngực của BN theo thang điểm VAS cho thấy, ở
nhóm BN được PTNS có mức độ đau thấp hơn nhóm BN được mổ
mở, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).

Trên 14 ngày 2 1,74 23 32,39 25 13,44
Thời gian
trung bình
6,1 ± 4,5
Min: 5 Max: 30
13,2 ± 9,7
Min:7 Max:60
11,2 ± 10,1
Min:5 Max:60
<0,05
Tỷ lệ BN ra viện dưới 1 tuần ở nhóm PTNS là 66,09%, ở nhóm
mổ mở là 2,8%. Thời gian nằm viện trung bình của nhóm PTNS (6,1
ngày) thấp hơn so với nhóm mổ mở (13,2 ngày), sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê.
Bảng 3.37. Đánh giá kết quả chung trước khi ra viện.
Phẫu thuật
Kết quả
PTNS (n=115)Mổ mở (n=71)Chung (n=186) P
n % n % n %
Thành công 112 97,39 65 91,55 177 95,16
Không thành công 2 1,74 6 8,45 8 4,30
Tỷ lệ điều trị thành công ở nhóm BN PTNS (97,4%), cao hơn
nhóm BN mổ mở (91,6%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
3.4. Đánh giá kết quả tái khám (sau 1-3 tháng).
Tỷ lệ tái khám sau 1-3 tháng là 96/186 BN (51,6%) nhóm
PTNS được 58/115 BN (50,4%), nhóm mổ mở được 38/71 (53,3%).
Bảng 3.41. Mức độ nở phổi trên X quang sau khám 1-3
tháng.
15
Qua bảng 3.39, thấy tỷ lệ phổi nở hoàn hoàn sau tái khám từ

Không nở 0 0,0 3/71 4,23
Tổng 115 100,0 71 100,0
Tái khám
1-3 tháng
Nở hoàn toàn 55/58 94,83 23/38 60,53
<0,05
Nở không hoàn toàn 3/58 5,17 15/38 39,47
Không nở 0 0,0 0 0,0
Tổng 58 100,00 38 100,00
16
VMMP thấy thời gian phát hiện bệnh trung bình là 14,5 ngày [113].
4.1.2. Triệu chứng lâm sàng.
 Triệu chứng cơ năng:
Triệu chứng cơ năng của VMMP giống như viêm phổi với các
triệu chứng nổi bật là: sốt, ho, khó thở. Trong nhiều công trình
nghiên cứu các tỷ lệ này dao động có thể gặp ở 80%-95% BN. Trong
nghiên cứu của chúng tôi, hầu hết các BN đều có sốt cao, nhiệt độ
dao động từ 39-40
0
C. Những BN chỉ có sốt nhẹ hoặc không sốt
thường có thời gian khởi phát bệnh lâu dài, bệnh tiến triển lâu ngày,
triệu chứng sốt ở BN giai đoạn I, II (71,3%), cao hơn BN giai đoạn
III (46,48%). Các triệu chứng ho, khó thở ở nhóm VMMP giai đoạn
I, II lần lượt là 62,6%, 65,2% thấp hơn so với nhóm VMMP giai đoạn
III (71,93% và 93%). Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với nhận
xét một số tác giả trong nước như Đàm Hiếu Bình (2005) và Đinh
Văn Lượng (2009) [1], [12].
Chan D.T (2007), cũng có nhận xét là các dấu hiệu lâm sàng
của VMMP hay gặp như: sốt (65%), đau ngực (37%), ho (21%), khó
thở (19%), sút cân (5%) và mệt mỏi (5%) [32].

đoạn III (OCMP) để lấy đi tất cả các lớp xơ để phổi có thể nở được.
Mổ mở bóc vỏ phổi là phẫu thuật cơ bản ở lồng ngực đòi hỏi đường
mổ phải rộng và vì vậy không nên thực hiện ở các BN suy nhược.
Điều đáng quan tâm là mổ mở áp dụng ở 100% BN bị VMMP
giai đoạn III, không có trường hợp nào phải tiến hành phẫu thuật
Heller. Những trường hợp OCMP quá lớn chúng tôi đều thực hiện kỹ
thuật bóc vỏ phổi theo phương pháp Delomer thành công. Kết quả
này có sự khác biệt so với các tác giả trong nước trước đây như
Hoàng Thị Hiền (1993), nghiên cứu từ năm 1988-1992 có 14 BN
(4,8%) phải phẫu thuật Heller chỉ do căn nguyên lao [8]. Đàm Hiếu
Bình (2005) nghiên cứu 50 trường hợp VMMP thì có tới 20% phải
phẫu thuật Heller [1].
4.2.2. Thời gian phẫu thuật và số lượng máu truyền.
Thời gian phẫu thuật là khoảng thời gian từ khi tiến hành rạch
da để mở ngực hoặc đặt trocar tới khi đặt xong dẫn lưu và đóng ngực.
Nếu thời gian phẫu thuật kéo dài kéo dài, khả năng nhiễm trùng tăng,
18
và là gánh nặng cho gây mê hồi sức, cũng như quá trình phục hồi sau
này của người bệnh.
Bệnh viện Phổi Trung ương đã thực hiện quy trình PTNS điều
trị VMMP từ đầu năm 2009. Bước đầu đạt được kết quả khả quan với
có khoảng 2/3 số BN có thời gian PTNS dưới 90 phút, thời gian
PTNS trung bình là 97,2%; trong khi đó mổ mở thì thời gian mổ
trung bình là 132,2 phút, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê. Kết
quả của chúng tôi cũng phù hợp với kết quả của nhiều tác giả trong
và ngoài nước: Daniel T.L (2007), nghiên cứu trên 77 BN VMMP
thấy: PTNS trên 41 BN với thời gian phẫu thuật trung bình là 150
phút, mổ mở trên 36 BN với thời gian mổ trung bình là 280 phút
[32]. Betty C. Tong (2009), PTNS bóc vỏ phổi trên 326 BN bị
VMMP thấy thời gian phẫu thuật trung bình là 97 phút, mổ mở bóc

mổ mở có 35/71 BN (49,3%) có đau ngực từ độ 3 trở lên. Các nghiên
cứu trong nước thì chưa có tác giả nào đề cập đến đánh giá mức độ
đau ngực sau mổ. Các nghiên cứu nước ngoài cũng thấy rõ ưu điểm
của PTNS với mức độ gây đau ngực ít. Daniel T. L Chan (2007),
nghiên cứu trên 77 BN bị VMMP (41 BN được PTNS và 36 BN mổ
mở), thấy mức dộ đau ngực ở nhóm PTNS thấp hơn nhóm mổ mở, sự
khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p = 0,041 [32].
4.2.4. Thời gian rút dẫn lưu MP và thời gian BN nằm viện sau
mổ:
Sau mổ, chúng tôi điều trị nội khoa tích cực, nâng đỡ cơ thể,
chăm sóc dẫn lưu MP. Khi dịch dẫn lưu hồng nhạt, dưới 100 ml/24h,
không còn rò khí, X quang thấy phổi nở thì rút dẫn lưu. Sau khi rút
dẫn lưu, nếu không có biến chứng, BN sẽ xuất viện sau một vài ngày.
Ở 186 BN thấy thời gian dẫn lưu trung bình là 8,9 ngày (nhóm
PTNS là 5,4 ngày, nhóm mổ mở là 11,3 ngày). Đa số BN được rút
dẫn lưu trong vòng 1-2 tuần. Thời gian nằm viện sau mổ trung bình ở
nhóm PTNS là 6,1 ngày, ở nhóm mổ mở là 13,2 ngày, sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê. Đây cũng là tiêu chí rất quan trọng để đánh giá vai
trò của PTNS.
20
Theo một số nghiên cứu như Gregory P. Lemense và CS
(1995), Daniel T.L. Chan và CS (2007), thấy thời gian nằm viện
thường kéo dài hơn nếu căn nguyên VMMP là do lao [32], [62].
Trong nghiên cứu này của chúng tôi có tới hơn 44,62% BN có căn
nguyên do lao, tuy vậy thời gian điều trị sau phẫu thuật ở nhóm
PTNS vẫn thấp hơn so với nhóm mổ mở, và tương đương với các
nghiên cứu khác: Betty C. Tong (2009), nghiên cứu trên 420 BN bị
VMMP (94BN được PTNS và 326 BN mổ mở) thấy thời gian rút dẫn
lưu và thời gian nằm viện sau mổ lần lượt là 7 ngày và 15 ngày
(nhóm PTNS); 9,7 ngày và 21 ngày (nhóm mổ mở) [105].

tôi, thấy tỷ lệ thành công là tương đối cao so với các tác giả trong và
ngoài nước (với 97,4% ở nhóm PTNS và 91,6% ở nhóm mổ mở).
Theo chúng tôi, sở dỹ đạt được kết quả tốt như trên là do:
• Thực hiện đúng quy trình điều trị VMMP theo các khuyến
cáo chuẩn.
• Với đặc thù của VMMP, cần có sự hỗ trợ tối đa của các
phương pháp điều trị nội khoa cũng như điều trị hồi sức và phục hồi
chức năng sau mổ.
• Việc ứng dụng PTNS trong can thiệp VMMP giai đoạn
sớm đã thay thế cho phác đồ điều trị trước đây bằng bơm rửa ổ mủ
cho tới khi VMMP chuyển sang giai đoạn ổ cặn thì mới mổ mở bóc
vỏ phổi. Thực hiện như phác đồ cũ sẽ gây tốn kém trong điều trị cũng
như để lại di chứng, biến chứng cũng như tỷ lệ tử vong cao.
4.3. Đánh giá kết quả khám lại.
Tỷ lệ khám lại sau khi ra viện 1-3 tháng của chúng tôi là
96/186 BN (51,6%); trong đó nhóm PTNS là 58/115 BN (50,4%),
nhóm mổ mở 38/71 BN (53,3%). Qua tái khám, thấy có sự cải thiện
rất rõ về các triệu chứng đau, khó thở. Điểm đáng chú ý là cải thiện
rõ rệt chức năng hô hấp trước và sau mổ của BN.
Qua tái khám thấy tình trạng sức khỏe của BN được cải thiện
rõ ràng trên khám lâm sàng. Ngay sau mổ phổi nở không hoàn toàn ở
nhóm PTNS 22,6%, nhóm mổ mở là 40,85%. Sau 1 tháng với điều trị
phục hồi chức năng chỉ còn 3/58 BN chiếm 5,17% (nhóm PTNS) và
15/38 BN chiếm 39,47. Như vậy, vai trò phục hồi chức năng sau mổ
22
bóc vỏ phổi là rất quan trọng.
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 186 BN bị VMMP người lớn được điều trị
bằng phẫu thuật tại Bệnh viện Phổi trung ương từ tháng 2/2009 đến
tháng 12/2011, chúng tôi đưa ra một số nhận xét như sau:

2.1. Khi bệnh nhân ra viện:
- 77,4% BN ở nhóm PTNS và 54,3% BN ở nhóm mổ mở, sau
mổ phổi nở hoàn toàn (p<0,05). Thời gian rút ống dẫn lưu trung bình
ở nhóm PTNS ngắn hơn nhóm mổ mở (5,4 ngày so với 11,3 ngày,
p<0,05). Kết quả X quang sau mổ 24h, thấy 100% BN nhóm PTNS
và 95,77% BN nhóm mổ mở phổi nở tốt (p<0,05).
- Biến chứng ở nhóm PTNS (rò khí, còn ổ mủ tồn dư chiếm
0,9%), thấp hơn nhóm mổ mở (rò khí, chảy máu, nhiễm trùng vết mổ
đều chiếm 2,8%; còn ổ mủ chiếm 4,2%), không có BN tử vong.
- Thời gian sử dụng KS sau mổ ở nhóm PTNS là 5,7 ngày, ở
nhóm mổ mở là 9,8 ngày (p<0,05). Thời gian nằm viện sau mổ của
BN nhóm mổ mở là 13,2 ngày, BN nhóm PTNS là 6,1 ngày (p<0,05).
- Điều trị thành công: nhóm PTNS là 97,4%, mổ mở là 91,6%.
2.2. Kết quả khám lại:
- Sau 1-3 tháng, có 50,4% BN nhóm PTNS và 53,4% BN
nhóm mổ mở được tái khám. Kết quả tái khám thấy chỉ số chức năng
hô hấp ở cả hai nhóm phẫu thuật được cải thiện gần như bình thường.
95,6% BN ở nhóm PTNS và 84,4% BN ở nhóm mổ mở không còn
đau ngực. Tỷ lệ phổi nở hoàn hoàn ở nhóm PTNS là 80%, cao hơn so
với nhóm mổ mở là 68,8%.
- Có 45/186 (24,2%) BN, trong đó có 27/115 BN ở nhóm
PTNS và 18/71 BN ở nhóm mổ mở được tái khám sau 4-6 tháng.
Qua tái khám, thấy các chỉ số chức năng hô hấp ở cả hai nhóm cải
thiện gần như bình thường. 96,3% BN nhóm PTNS và 88,9% BN ở
nhóm mổ mở không còn đau ngực. Có 88,9% BN ở nhóm PTNS và
83,3% BN nhóm mổ mở phổi nở hoàn toàn.
KIẾN NGHỊ
24
- Cần phát hiện và chẩn đoán sớm VMMP trong khoảng 1
tháng từ khi BN có triệu chứng lâm sàng. Nếu được chẩn đoán kịp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status