1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Diện mạo thể chất có vai trò rất quan trọng trong xã hội của chúng ta. Quan
điểm của bản thân mỗi cá nhân và những người xung quanh đều cần thiết cho việc
tự đánh giá. Đáng quan tâm nhất trong hình ảnh của mỗi cá thể chính là diện mạo
thể chất khuôn mặt. Như một hệ quả, những dị dạng răng-mặt và sọ-mặt có tác động
mạnh mẽ trên cả phương diện tâm lý và xã hội. Chính việc chỉnh sửa những dị dạng
này có thể có tác động đáng kể cân bằng việc tự đánh giá và tính nhân cách [1].
Sai khớp cắn là tình trạng bất hài hòa trong tương quan hai hàm và các răng
mọc trên đó [2]. Mặc dù không phải là một bệnh thực sự nhưng sai khớp cắn luôn
liên quan tới các dị dạng thể chất và những rối loạn phát triển [3]. Sai khớp cắn loại
III do bất hài hòa tương quan hai hàm theo chiều trước-sau, ở đó xương hàm dưới
nhô trước hơn trong tương quan với nền sọ [4]. Ở Châu Á nói chung [5], [6], [7] và
Việt Nam nói riêng [8], hình thái bất hài hòa này có tỷ lệ mắc khá cao. Trong một số
trường hợp, bằng sự hỗ trợ của chỉnh nha, răng-xương ổ răng và tổ chức phần mềm
che phủ có thể bù trừ tương đối sự bất hài hòa ít trong tương quan xương hai hàm.
Song ở phần lớn các trường hợp, sự bất hài hòa này vượt quá giới hạn điều chỉnh
của các yếu tố trên và bệnh nhân cần được can thiệp phẫu thuật. Chính việc cải
thiện thẩm mỹ khuôn mặt được cho là yếu tố thúc đẩy mạnh mẽ để bệnh nhân quyết
định trải qua phẫu thuật mở xương [9].
Kể từ sau khi được mô tả lần đầu tiên năm 1859 bởi Von Langenback tới nay
[10], phẫu thuật mở xương đã trải qua quá trình hình thành và phát triển với những
tiến bộ hơn về kỹ thuật, rộng rãi hơn về phạm vi can thiệp nhằm mục tiêu đem lại
một diện mạo sọ-mặt thẩm mỹ hơn và cải thiện chức năng của hàm.
Can thiệp phẫu thuật điều trị sai khớp cắn loại III được phối hợp với nắn
chỉnh răng và dựa trên nguyên tắc sửa chữa xương hàm có bất thường [11].
Xương hàm trên thiểu sản được đặt ra trước hơn thông qua phẫu thuật mở xương
Le Fort. Trong khi, một số phẫu thuật mở xương như BSSO, VRO… giúp đặt lại
xương hàm dưới quá triển ra phía sau. Việc đặt lại vị trí của xương hàm đã đưa
2
đến những thay đổi các tương quan sọ-mặt-răng của bệnh nhân-những thay đổi
Theo Angle [13] , sai khớp cắn loại III là hiện tượng múi gần ngoài của răng
hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên nằm ở phía xa so với rãnh giữa ngoài của răng
hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới.
Theo Downs [14], sai khớp cắn loại III xương xảy ra khi có sự bất hài hòa
giữa vị trí của hai xương hàm theo chiều trước-sau với giá trị của góc ANB<0
0
.
Bệnh nguyên của dị dạng này rất phức tạp và vẫn chưa hoàn toàn sáng tỏ.
Đây là biểu hiện của sự tương tác giữa gen và môi trường trong sự phát triển của
vùng sọ-mặt [15].
Theo Ellis and McNamara [16], sai khớp cắn loại III xương có thể được chia
thành 3 nhóm:
Nhóm A: XHT thiểu sản.
Nhóm B: XHD quá triển.
Nhóm C: Phối hợp XHT thiểu sản và XHD quá triển.
1.1.2. Đặc điểm hình thái sọ-mặt
4
1.1.2.1. Nhóm A: XHT thiểu sản
Thiểu sản XHT là một tình trạng điển hình thường quan sát thấy ở bệnh nhân
khe hở môi-vòm miệng. Can thiệp phẫu thuật sớm như việc sửa chữa môi-vòm
miệng thì đầu làm nhiễu sự tăng trưởng hàm trên, gây ra dị dạng xương hàm và sai
khớp cắn thứ phát. Thiểu sản XHT toàn bộ trở nên rõ ràng hơn với hiện tượng thiểu
sản cấu trúc cạnh mũi, vùng dưới ổ mắt và gò má. Mặt nghiêng lõm, góc mũi môi tù
quá mức, trụ mũi hướng ngang hơn, góc cổ-cằm tăng, vùng dưới cằm bị lõm (biến
mất), mức độ hở răng cửa hàm trên ở tư thế nghỉ giảm, môi trên mỏng và giảm
chiều dài, cắn chéo răng sau và chen chúc vùng răng cửa… là những đặc trưng ở
bệnh nhân nhóm này [17]. Phân tích trên phim cephalometric thấy xương hàm trên
ngắn hơn và ở vị trí lùi sau hơn trong tương quan với nền sọ [18].
1.1.2.2. Nhóm B: XHD quá triển:
Ở những bệnh nhân mà xương hàm trên ở đúng vị trí (trong tương quan với
6
sự tự tin, qua đó có thể gây ra những đáp ứng xã hội không mong muốn hoặc lối
sống bị hạn chế. Các đối tượng có sai khớp cắn, đặc biệt với những trường hợp cần
chỉnh sửa bằng phẫu thuật, có chất lượng cuộc sống liên quan tới sức khoẻ thấp hơn
và lo lắng nhiều hơn [21].
1.1.3.1. Thẩm mỹ
Diện mạo là mối quan tâm lớn của rất nhiều người tìm kiếm phẫu thuật chỉnh
hình x ương mặt-hàm. Xã hội ngày nay dường như đánh giá cao các đặc trưng thẩm
mỹ trên nhiều khía cạnh của cuộc sống. Khuôn mặt là khu vực có tính quyết định
tới khả năng cuốn hút trên phương diện thể chất của mỗi cá thể, không chỉ là
phương tiện nhận diện chủ yếu mà còn mang ý nghĩa như nguồn gốc phong phú của
việc kết nối không bằng lời [1], [22].
Nhiều nghiên cứu [16], [19] cho thấy sự tồn tại đa kiểu hình sai khớp cắn
loại III dựa trên đặc điểm giải phẫu. Trong đó, kiểu hình phổ biến nhất của sai khớp
cắn loại III có sự kết hợp của: hàm trên lùi, các răng cửa hàm trên ngả tiền đình,
răng cửa hàm dưới ngả lưỡi, hàm dưới nhô, tầng dưới mặt dài, mặt nghiêng lõm,
đảo ngược tương quan môi [16]. Bệnh nhân sai khớp cắn loại III, bên cạnh sự bất
hài hòa theo chiều trước sau, còn phối hợp với các tình trạng bất hài hòa theo chiều
ngang, chiều dọc gây nên sự bất cân xứng mặt: dystopia ổ mắt, lệch đỉnh mũi, lệch
cằm, nghiêng mặt phẳng cắn hàm trên, bất cân xứng cung gò má. Sự phối hợp này
cao hơn và phức tạp hơn so với bất cứ loại sai khớp cắn nào khác [23].
1.1.3.2. Chức năng
Sai khớp cắn nặng có thể làm thay đổi tương quan giữa khớp cắn và khớp
thái dương hàm, có thể ảnh hưởng tới hình thái và chức năng của khớp TDH [24]
Nhiều bệnh nhân phẫu thuật chỉnh hình xương, trước điều trị, cho thấy việc
thực hiện chức năng nhai và các đặc điểm khớp cắn khác biệt so với ở người có
khớp cắn bình thường, bao gồm số lượng và cường độ tiếp xúc cắn giảm, không có
hướng dẫn răng nanh đồng thời thường xuyên có cản trở cắn … Nghiên cứu điện cơ
7
đồ trên những đối tượng có hình thái răng mặt khác nhau đã làm rõ hơn mối tương
8
o Phía trên vị trí mọc răng của khoảng xương ổ răng do thiếu khớp cắn.
1.2.1.3. Bất hài hòa theo chiều ngang
o Hiện diện dị dạng xương mặt theo chiều ngang ở mức độ vượt quá 2 lần độ
lệch chuẩn từ các chuẩn được công bố.
o Tất cả các bất hài hòa ở hai bên giữa múi trong của răng hàm lớn hàm trên với
hố của răng hàm lớn hàm dưới ở mức độ ≥4mm, hoặc bất hài hòa ở một bên ở
mức độ ≥3mm, mang lại độ nghiêng trục bình thường của các răng sau.
1.2.1.4. Bất cân xứng mặt
o Các bất cân xứng bên hoặc theo chiều ngang, theo chiều trước sau ở mức độ
≥3mm có bất cân xứng kèm theo.
1.2.1.5. Các chỉ định khác
Ngoài những tình trạng được nên ở phía trên, phẫu thuật chỉnh hình xương
mặt hàm có thể được chỉ định trong những trường hợp có những dấu hiệu rối loạn
chức năng đặc trưng đã được ghi nhận. Những tình trạng này liên quan tới rối loạn
chức năng đường thở như hiện tượng tắc nghẽn khi ngủ, các rối loạn khớp thái
dương hàm, các rối loạn tâm lý và các cản trở phát âm.
1.2.2. Phương pháp phẫu thuật mở xương điều trị sai khớp cắn loại III
Việc lựa chọn kỹ thuật và vị trí mở xương thích hợp trong phẫu thuật
chỉnh hình xương mặt hàm được dựa trên mức độ của dị dạng răng mặt, mức độ
di chuyển xương hàm mong muốn và những thay đổi mô mềm dự kiến sau can
thiệp phẫu thuật [29].
1.2.2.1. Với xương hàm trên:
Phẫu thuật mở xương Le Fort I:
Phẫu thuật mở xương hàm trên lần đầu tiên được thực hiện vào năm 1859
bởi Von Langenback, nhưng phương pháp làm gãy xương hàm trên Le Fort I (theo
đường gãy được mô tả của Le Fort, 1901) để đặt lại xương hàm trên theo cả 3 chiều
trong không gian phải cho tới những năm 1970 mới trở nên phổ biến. Do tỷ lệ bệnh
nhân sai khớp cắn loại III có thiểu sản hàm trên (đơn thuần hoặc phối hợp) chiếm đa
số nên kỹ thuật này ngày càng được chỉ định rộng rãi [10].
1.2.2.2. Với xương hàm dưới:
Phẫu thuật mở xương ở cành lên:
BSSO chắc chắn là một trong số những phương pháp mở xương phổ biến
nhất được thực hiện ngày nay để chỉnh sửa dị dạng hàm dưới. Kỹ thuật được bắt
đầu bởi Trauner and Obwegeser [30], thay đổi bởi Dal Pont [31], Hunsuck [32] and
Epker [33]. Mặt phẳng chẻ tự nhiên giữa bản vỏ xương cành lên phía lưỡi và má
được sử dụng để kiến tạo một đường chẻ theo chiều đứng tách rời mảnh gần (có lồi
cầu) khỏi mảnh xa (có răng-xương ổ răng). Điều này cho phép đặt lại các phần theo
hướng ra trước, ra sau hoặc xoay. Đây là một qui trình thẩm mỹ cao do được thực
hiện trong miệng (không có sẹo ngoài da) cũng như có tiếp xúc xương rộng hơn
giữa các đoạn mở xương đảm bảo liền thương tốt.
Các phương pháp mở xương cành lên khác đã được mô tả, phụ thuộc vào
thiết kế đường cắt xương như hình L đảo ngược, dưới mỏm vẹt theo chiều đứng…
với ưu và nhược điểm riêng của từng kỹ thuật.
Các kỹ thuật mở xương khác:
Các phẫu thuật mở xương hàm dưới đã được mô tả ở tất cả các phần khác
nhau: thân xương, đoạn phía trước, cằm … Điều này cho phép di động và đặt lại các
mảnh xương tới hầu hết các vị trí được mong muốn.
11
Hình 1.2. Phẫu thuật mở xương đặt xương hàm dưới ra sau (BSSO)
1.3. Kết quả phẫu thuật
1.3.1. Sự ổn định
Tái phát là bất cứ những thay đổi không mong muốn ở xương hay răng
sau phẫu thuật, gây ra bởi các kỹ thuật phẫu thuật không chính xác hoặc không
đầy đủ [34].
Tái phát có thể được biểu thị bằng sự thay đổi các giá trị trung bình sau phẫu
thuật hoặc thông qua tỷ lệ các đối tượng có sự tái phát đáng kể trên lâm sàng
(những thay đổi từ 2 mm trở lên) [35].
Trật tự ổn định dựa vào giải phẫu ban đầu và các quy trình phẫu thuật khác
nhau đã được đưa ra [35].
Trên thực tế, dị dạng hàm trên theo chiều trước sau thường phối hợp với dị
dạng theo chiều đứng ở hai bên (thiểu sản toàn bộ hàm trên hoặc tăng kích thước
dọc hàm trên) hoặc một bên (canting) và dị dạng theo chiều ngang nên trong phẫu
thuật mở xương hàm trên, bên cạnh di chuyển theo chiều trước sau, những di
chuyển theo chiều đứng (lên trên hoặc xuống dưới) hay theo chiều ngang (mở rộng)
cũng được chỉ định. Và vấn đề ổn định phụ thuộc nhiều vào những di chuyển theo
chiều đứng và chiều ngang này [35].
Đặt hàm trên lên trên:
13
Đây là quy trình chỉnh hình xương mặt hàm ổn định nhất và có khả năng dự
đoán trước, với hơn 90% khả năng thay đổi dưới 2mm ở các điểm mốc và hầu như
không có khả năng thay đổi trên 4mm trong một năm đầu tiên sau phẫu thuật. [35].
Đặt xương hàm trên xuống dưới:
Di chuyển xương hàm trên xuống dưới nằm trong nhóm phẫu thuật mở
xương không ổn định, được định nghĩa là 40-50% khả năng thay đổi 2-4mm sau
phẫu thuật và khả năng lớn thay đổi trên 4mm. Nếu xương hàm trên được di chuyển
ra trước và xuống dưới đồng thời, thành phần theo chiều đứng dễ tái phát mặc dù
thành phần theo chiều trước-sau có khả năng được duy trì tốt [35].
Mở rộng hàm trên:
Cùng với đặt hàm dưới ra sau và di chuyển hàm trên xuống dưới, mở rộng
hàm trên là một trong số những kỹ thuật mở xương kém ổn định nhất [35]. Kỹ thuật
này có thể được thực hiện độc lập hoặc phối hợp với Le Fort I nhằm đạt được khớp
cắn phía sau tốt ở các trường hợp có các bất hài hòa theo chiều ngang kèm theo. Tái
phát trong trường hợp này quan sát thấy ở vùng răng hàm lớn thứ hai, mức độ lớn
hơn nếu có phẫu thuật mở xương hàm dưới phối hợp [47].
Không giống như hàm dưới, phẫu thuật mở xương hàm trên thường có sự kết
hợp của nhiều kỹ thuật khác nhau nên mức độ ổn định thường rất khác nhau trong
các nghiên cứu. Tuy nhiên kết quả được công bố cho thấy mức độ tái phát ở đối
tượng không có KHM-VM thường ở mức dưới 10%. Ở các đối tượng có dị tật này,
mức độ tái phát có thể tăng gấp đôi [46], [47].
được sử dụng, mức độ di chuyển phẫu thuật… nên rất khó để dự đoán [50]. Những
yếu tố như kỹ thuật phẫu thuật, tiến trình tuổi bình thường, hướng tăng trưởng ban
đầu và quá trình remodeling góp phần vào sự thay đổi hình thái mô mềm theo 3
chiều trong thời gian dài sau can thiệp.
Cấu trúc mũi-môi-cằm đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cấu thành
thẩm mỹ đặc biệt trên mặt nghiêng, đồng thời chịu ảnh hưởng sâu sắc từ phẫu thuật mở
xương. Đánh giá đáp ứng mô mềm sau phẫu thuật cũng tập trung vào các vị trí này.
15
Những thay đổi này được biểu thị thông qua tỷ lệ (hoặc tỷ lệ phần trăm) mức
độ di chuyển của mô mềm theo sau di chuyển của mô cứng.
1.3.2.1. Đẩy xương hàm trên ra trước
Phẫu thuật mở xương liên quan tới hàm trên luôn đưa tới những thay đổi
quan trọng ở tổ chức mô mềm bên trên, đặc biệt là môi trên và mũi, theo hướng làm
rộng nền mũi, làm ngắn môi trên và đảo ngược viền môi trên. Những tác động này
gây ra từ việc sử dụng đường rạch niêm mạc, chuyển dịch màng xương nhiều,
không khâu đính cơ hay hiện tượng phù nề sau phẫu thuật [51].
Nhiều nghiên cứu đã tiến hành nhằm tìm hiểu tương quan giữa di chuyển mô
mềm và di chuyển xương, đặc biệt theo chiều trước-sau [52], [53], [54] cho kết quả
biến thiên lớn (0,1 đến 0,9).
1.3.2.2. Đặt xương hàm dưới ra sau
Sự đáp ứng phần mềm môi dưới, nếp môi-cằm và tổ chức vùng cằm đối với
những thay đổi của cấu trúc xương bên dưới xấp xỉ 1:1 đôi khi, còn thấy một số tác
động tới môi trên. Ảnh hưởng chủ yếu của việc đặt lại xương hàm dưới ra sau trên
mô mềm mặt nghiêng bao gồm: làm tăng độ lồi của mặt, làm phẳng và làm dài môi
trên đồng thời làm tăng góc mũi-môi và làm sâu nếp môi-cằm [55], [56].
1.3.2.3. Phẫu thuật hai hàm
Đáp ứng của mô mềm trong phẫu thuật hai hàm tương tự như trong phẫu
thuật độc lập từng hàm [57]. Như thế, tỷ lệ di chuyển mô mềm so với mô cứng hàm
trên thấp hơn so với ở hàm dưới trên cả chiều trước sau và chiều dọc [58], [59].
1.3.3. Các biến chứng
giá trị ở nơi họ sống và trong mối quan hệ với các mục tiêu, sự mong đợi, các tiêu
chuẩn và sự lo lắng [20]. Quan điểm này bao phủ các tiêu điểm trong kích thước
sức khỏe vượt ra khỏi các chỉ điểm sức khỏe truyền thống, như tỷ lệ tử vong và tỷ lệ
sinh, để bao gồm các đánh giá về tác động kém tích cực của bệnh tật tới hoạt động
và ứng xử hàng ngày.
Lý do chủ yếu của việc điều trị các vấn đề răng mặt là nhằm cải thiện chất
lượng cuộc sống [61], nhưng trong quá khứ, điều này không được bao gồm trong
các nghiên cứu như một chỉ số đánh giá hiệu quả. Theo đánh giá của Cunningham
et al. [62] sự quan tâm tới chất lượng cuộc sống liên quan tới sức khỏe đang tăng
lên do khả năng mở rộng phạm vi của các phương pháp đánh giá hiệu quả được sử
17
dụng trong các nghiên cứu lâm sàng. Phương pháp lấy bệnh nhân làm trung tâm
để đánh giá hiệu quả liệu pháp điều trị là sự bổ sung quan trọng để nghiên cứu các
đáp ứng về hình thái và sinh lý với điều trị chung bởi thành công của điều trị phải
được xác định trong chừng mực quan điểm của bệnh nhân đã đạt được. Việc đánh
giá HRQOL được thực hiện bởi chính bệnh nhân đã cung cấp một cái nhìn toàn
cảnh về tác động hiện tượng bất hài hòa răng mặt và hiệu quả phẫu thuật tới chất
lượng cuộc sống của bệnh nhân, qua đó cung cấp thêm những thông tin quan trọng
cho các nhà lâm sàng [63].
Trong quá khứ, nghiên cứu HRQOL miệng được thực hiện chủ yếu trong
việc đánh giá trải nghiệm của bệnh nhân lớn tuổi mắc bệnh quanh răng, hoặc mang
hàm giả [64]. HRQOL ở trẻ em và thanh thiếu niên nhận được sự quan tâm đáng kể
sau đó [65] và mới nhất là các báo cáo về QOL đặc trưng bệnh tật ở bệnh nhân trải
qua điều trị nắn chỉnh răng, phẫu thuật chỉnh hình xương hàm mặt [62], [66].
HRQOL thấp và các vấn đề về tâm lý là những tình trạng thường thấy ở các
trường hợp sai khớp cắn, đặc biệt ở bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật [67]. Tuy
nhiên, mức độ hài lòng sau phẫu thuật thay đổi rất rộng, phụ thuộc nhiều vào mức
độ nặng của dị dạng ban đầu cũng như tâm lý trước điều trị [66].
18
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đánh giá một số đặc điểm hình thái học răng mặt, chức năng và
một số kết quả ban đầu (ổn định xương và khớp cắn, đáp ứng mô mềm và chất
lượng cuộc sống…) của bệnh nhân sai khớp cắn loại III trải qua phẫu thuật mở
xương ở các thời điểm: ngay trước phẫu thuật T
0
(trong vòng 1 tuần trước phẫu
thuật), ngay sau phẫu thuật T
1
(trong vòng 3 ngày sau phẫu thuật), 6 tháng sau
phẫu thuật T
2
, sau phẫu thuật 12 tháng T
3
.
Việc họa phim được thực hiện trên máy tính nhờ phần mềm phân tích
phim cephalometric chuyên dụng Vceph (OSSTEM Implant, Korea). Sau đó xác
định giá trị các góc và khoảng cách đã lựa chọn nhằm mô tả tương quan giữa các
cấu trúc sọ-mặt-răng và mô mềm mặt nghiêng, các di chuyển mô cứng-mô mềm
trong và sau phẫu thuật.
Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân được đánh giá qua bộ câu hỏi phỏng
vấn trực tiếp.
Ở mỗi thời điểm đánh giá, các giá trị này được so sánh với nhau, với chuẩn
hay các nghiên cứu trước đó nhằm đánh giá hình thái học ở bệnh nhân sai khớp cắn
loại III có chỉ định phẫu thuật và kết quả điều trị phẫu thuật ban đầu.
Phương pháp phân tích phim cephalometric đánh giá chỉ số sọ mặt:
o Phương pháp phân tích cephalometric sử dụng trong nghiên cứu này dựa trên
phương pháp phân tích cephalometric dành cho phẫu thuật chỉnh hình xương
mặt hàm của Burtone et al. (1978) [68] và Burstone and Legan [69].
o Các điểm mốc:
STT Điểm mốc Đặc điểm
(Stms)
Điểm thấp nhất trên màng môi trên.
6 Stomion inferius
(Stmi)
Điểm trên nhất trên màng môi dưới.
7 Labrale inferius (Li) Điểm trên đường viền da-niêm mạc môi dưới.
8 Pogonion st (Pog’) Điểm trước nhất trên mô mềm cằm.
9 Gnathion st (Gn’) Điểm giữa Pogonion mô mềm và Menton mô mềm.
10 Menton st (Me’) Điểm thấp nhất đường viền mô mềm cằm.
11 Cervical (C) Điểm trong nhất giữa vùng dưới cằm và cổ.
o Các kích thước sọ-mặt-răng:
STT Kích thước Đặc điểm
21
Kích thước xương
1 N-A-Pog (º) Góc được tạo bởi đường Na-A và đường A-Pog. Góc theo chiều kim đống
hồgiá trị (+), góc ngược chiều kim đồng hồgiá trị (-).
2 A-NV Khoảng cách theo chiều trước-sau từ điểm A/điểm B tới đường vuông
góc với FH đi qua N. Giá trị (+)phía trước, giá trị (-)phía sau.
3 B-NV
4 B-Pog (mm) Khoảng cách từ điểm B tới đường vuông góc với mặt phẳng hàm dưới đi
qua Pog
5 MP angle Góc được tạo bởi mặt phẳng hàm dưới và FH.
6 N-ANS/ANS-Me Tỷ lệ khoảng cách từ N tới ANS và từ ANS tới Me.
Kích thước răng
1 A-B/OP Khoảng cách theo chiều trước-sau giữa các điểm giao nhau của các
đường vuông góc tới mặt phẳng cắn từ điểm A và điểm B, có giá trị (-).
2 OP-FH angle Góc được tạo bởi mặt phẳng cắn và FH.
3 U1-PP angle Góc được tạo bởi mặt phẳng khẩu cái và trục dọc của răng cửa hàm trên.
L1-MP angle Góc được tạo bởi mặt phẳng hàm dưới và trục dọc của răng cửa hàm
dưới.
Theo đó, hàm trên được đánh giá là thiểu sản nếu giá trị góc SNA<78,73º;
hàm dưới được xem là quá triển nếu giá trị góc SNB>81,75º.
Kích thước x SD Kích thước x SD
Xương Mô mềm
N-A-Pog 6,0 3,6 G-Sn-Pog’ 2,0 2,6
A-NV 1,4 2,9 Sn-Gn’-C 9,2 2,9
B-NV -4,1 4,7 Sn-GV 118,0 5,7
B-Pog 5,9 1,4 Pog’-GV 95,6 6,3
MP anle 26,0 5,3 Cm-Sn-Ls 2,0 2,6
N-ANS/ANS-Me 0,81 0,06 G-Sn/Sn-Me’ 9,2 2,9
Răng Stms-U1 1,8 1,7
A-B/OP 2,0 2,6 Interlabial gap 95,6 6,3
OP-FH 9,2 2,9 Sn-Stms/Stmi-
Me’
2,0 2,6
U1-PP 118,0 5,7
L1-MP 95,6 6,3
o Phân loại đánh giá (dành cho mô mềm):
Tốt: Mặt hài hòa (các chỉ số nằm trong khoảng giới hạn 1 lần độ lệch
chuẩn).
Trung bình: Cải thiện mức độ bất hài hòa mặt (các chỉ số nằm ngoài
khoảng giới hàn 1 đến 2 lần độ lệch chuẩn).
Kém: Không cải thiện hoặc thậm chí làm nặng thêm tình trạng bất hài
hòa mặt (các chỉ số nằm ngoài khoảng 2 lần độ lệch chuẩn).
Phương pháp phân tích phim cephalometric đánh giá tái phát xương:
o Sự di chuyển bằng phẫu thuật của xương hàm được mô tả thông qua di chuyển
của các điểm mốc trên xương theo chiều trước sau và đứng dọc. Trục ngang
(trục x) là đường thẳng đi qua điểm S, nằm phía dưới và tạo với đường thẳng S-
23
Na góc 7º. Trục dọc (trục y) là đường thẳng đi qua điểm S và vuông góc với trục
= y
12 tháng sau phẫu thuật
– y
ngay sau phẫu thuật
(mm)
• Theo tỷ lệ %:
%
tái phát
= ∆
6 tháng sau phẫu thuật
/x
ngay sau phẫu thuật
%
tái phát
= ∆
6 tháng sau phẫu thuật
/y
ngay sau phẫu thuật
%
tái phát
= ∆
12 tháng sau phẫu thuật
/x
ngay sau phẫu thuật
%
tái phát
= ∆
mô mềm
/∆
mô cứng
Phương pháp đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân phẫu thuật chỉnh hình
xương mặt hàm:
Đây là phiên bản tiếng Việt của Bộ câu hỏi chất lượng cuộc sống của bệnh
nhân phẫu thuật chỉnh hình xương mặt hàm được Cunningham et al. phát triển [62]
và có giá trị [66].
o Bộ câu hỏi này gồm 22 tiêu chí được đánh giá theo thang điểm 4 và được mã
hóa như sau: từ 1 nghĩa là “điều đó gây ít buồn phiền cho bạn” tới 4 nghĩa là
24
“điều đó gây nhiều buồn phiền cho bạn”, các giá trị 2 và 3 là các mức độ ở
giữa, 0 nghĩa là “tình trạng đó không ảnh hưởng tới bạn hoặc không gây
buồn phiền cho bạn”. 22 tiêu chí này được chia thành 4 nhóm chủ đề chính
bao gồm: Khía cạnh xã hội của dị dạng (câu hỏi 15-22), Tính thẩm mỹ răng
mặt (câu hỏi 1,7,10,11,14), Chức năng miệng (câu hỏi 2-6) và Nhận thức về
dị dạng mặt (câu hỏi 8-9,12-13).
o Cách tính điểm: Điểm của bộ câu hỏi được tính bằng cách tính tổng điểm của
mỗi tiêu chí trong các nhóm chủ đề. Như thế, tổng điểm sẽ dao động trong
khoảng 0-88 điểm; trong đó, khía cạnh xã hội của dị dạng 0-32 điểm, tính
thẩm mỹ răng mặt 0-20 điểm, chức năng miệng 0-20 điểm và nhận thức về dị
dạng mặt 0-16 điểm.
o Đánh giá: Điểm số càng cao chỉ ra chất lượng cuộc sống của cá thể đó càng
thấp và ngược lại, điểm thấp hơn thì cá thể có chất lượng cuộc sống tốt hơn
o Phân loại đánh giá:
• Tốt: Chất lượng cuộc sống được cải thiện toàn diện, đáng kể. Bệnh
nhân hài lòng với kết quả điều trị
• Trung bình: Chất lượng cuộc sống được cải thiện đáng kể ở hầu hết
các tiêu chí. Bệnh nhân hài lòng với đa số kết quả điều trị, không yêu
cầu sửa chữa lại.
• Cắn trùm: Là mức độ che phủ các răng trước hàm dưới bởi các răng
trước hàm trên.
Phân loại đánh giá:
Răng trước:
Tốt: >1mm
Trung bình: 0-1mm
Kém: <0mm
Răng sau: