Tiểu luận thẩm định giá trị thương hiệu kinh đô của công ty cổ phần kinh đô - Pdf 23

Thẩm định giá thương hiệu Kinh Đô
MỤC LỤC:
[Type text] Trang 1
Thẩm định giá thương hiệu Kinh Đô
1 Giới thiệu:
I Lý do chọn đề tài:
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng khá cao, đời sống người
dân đang dần được cải thiện, do đó nhu cầu bánh kẹo cũng tăng theo. Theo báo cáo của BMI
về ngành thực phẩm và đồ uống, tốc độ tăng trưởng doanh số của ngành bánh kẹo trong giai
đoạn 2010-2014 của Việt Nam ước tính đạt 8-10% (Vietnam Food and Drink report, BMI,
Q3-2010). Việt Nam đang trở thành một thị trường tiêu thụ bánh kẹo tiềm năng, tạo sức hấp
dẫn cho cả các nhà sản xuất trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Theo đánh giá của AC
Nielsen tháng 8/2010, có tới 56% dân số Việt Nam ở độ tuổi dưới 30 có xu hướng tiêu dùng
bánh kẹo nhiều hơn thế hệ cha ông của họ. Đây là cơ hội cũng như thách thức của các công
ty bánh kẹo Việt Nam trong việc cạnh tranh giành lấy thị phần. Muốn đứng vững trong
ngành, bên cạnh việc chú trọng đến chất lượng sản phẩm, các công ty bánh kẹo Việt Nam
còn phải xây dựng một thương hiệu mạnh đáng tin cậy. Vì thế, việc định giá thương hiệu của
công ty trong ngành này là điều hết sức cần thiết để phục vụ mục đích quản trị thương hiệu,
nhằm tăng khả năng cạnh tranh trong thị trường. Trong đó, công ty cổ phần Kinh Đô với thị
phần lớn nhất của ngành bánh kẹo Việt Nam, bức thiết phải có những chiến lược quản trị
thương hiệu của mình, để giữ vững vị trí “anh cả” trong ngành. Với những lý do đó, nhóm
quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “Thẩm định giá trị thương hiệu Kinh Đô của công ty cổ
phần Kinh Đô” với mục đích quản trị thương hiệu.
II Mục tiêu nghiên cứu:
a Mục tiêu tổng quát:
Thông qua quá trình thẩm định giá thương hiệu Kinh Đô, cung cấp một mức giá tham
khảo của thương hiệu Kinh Đô cho công ty cổ phần Kinh Đô để quản trị thưng hiệu tốt hơn.
b Mục tiêu cụ thể:
Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị thương hiệu Kinh Đô
Thẩm định giá trị thương hiệu Kinh Đô
III Câu hỏi nghiên cứu:

định hướng marketing, bên cạnh đó còn áp dụng cho mục đích kế toán.
Cách tiếp cận theo quan điểm kế toán
Thương hiệu là một tài sản vô hình. Tài sản vô hình là tài sản phi tài chính có thể nhận
biết không liên quan tới hình thái vật chất và là một tài sản có thể nhận biết nếu phát sinh từ
một hợp đồng hoặc các quyền hợp đồng là hợp pháp (Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số
04).
Thương hiệu là tài sản cố định vô hình. Tài sản cố định vô hình là tài sản không có
hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng, kinh
doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận
tài sản cố định vô hình (Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04).
Cách tiếp cận theo quan điểm kinh tế
Tài sản thương hiệu là tài sản vô hình mà bao gồm cả tài sản vô hình có thể nhận biết
đượcnvà tài sản vô hình không thể nhận biết được.
Khái niệm thương hiệu theo qquan điểm kinh tế bao gồm một phần khái niệm thương
hiệu theo quan điểm kế toán, ngoài ra khái niệm thương hiệu theo quan điểm này còn tính
đến các tài sản vô hình không nhận biết được.
b Khái niệm giá trị thương hiệu
[Type text] Trang 4
Thẩm định giá thương hiệu Kinh Đô
Giá trị thương hiệu đang dần lộ rõ sức mạnh của mình trong nền kinh tế thị trường và
các nhà quản trị doanh nghiệp lớn chú ý hơn đến việc tô điểm thương hiệu.
Giá trị thương hiệu là dựa vào kết quả đánh giá tài sản thương hiệu nhằm đưa ra một
giá trị kinh tế tài chính( tiền tệ) của thương hiệu. Tức là: giá trị thương hiệu là một số tiền
(giá trị) ước tính cụ thể về thương hiệu, để ước tính thì ta có thể dùng mô hình, phương pháp
cụ thể. Trong khi đó, tài sản thương hiệu là chỉ liệt kê các thành phần của tài sản thương hiệu
và dựa vào hành vi ý kiến chủ quan của người tiêu dùng để đánh giá “sức khỏe” thương hiệu
đó.
Có thể nói giá trị thương hiệu là một bộ phận trong tài sản vô hình của doanh nghiệp
và trong nhiều trường hợp tài sản vô hình này còn lớn hơn cả tài sản hữu hình như đất đai,
nhà xưởng, máy móc, hàng hóa và tiền mặt…của doanh nghiệp.

Thẩm định giá cho mục đích giao dịch
Có hai loại giao dịch có thể yêu cầu thẩm định giá thương hiệu:
-Những giao dịch bên trong: bao gồm chứng khoán và kế hoạch thuế
-Những giao dịch bên ngoài: giao dịch bên ngoài có xu hướng mua lại các công ty với
thương hiệu. Trong những trường hợp này, thẩm định tài sản thương mại là cần thiết để xác
định giá trị kinh tế của tài sản mua lại và để chứng minh giá trị của các cuộc thương lượng về
điều khoản giao dịch.
c Cơ sở giá trị thẩm định giá trị thương hiệu
Giá trị thị trường làm cơ sở cho thẩm định giá
Theo Ủy ban tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế: Giá trị thị trường là số tiền ước tính
của tài sản có thể được trao đổi vào ngày thẩm định giá, giữa một bên sẵn sàng bán và một
bên sẵn sàng mua trong một giao dịch khách quan, sau quá trình tiếp thị thích hợp, tại đó các
bên tham gia đều hành động một cách hiểu biết, thận trọng và không chịu bất cứ áp lực nào.
Theo hiệp hội các nhà thẩm định giá Hoa Kỳ: Giá trị thị trường là mức giá có khả
năng xảy ra nhất của tài sản sẽ được mua bán trên thị trường cạnh tranh và mở dưới những
điều kiện giao dịch công bằng vào thời điểm thẩm định giá giữa người mua sẵn sàng mua và
người bán sẵn sàng bán, các bên hành động một cách thận trọng, am tường và thừa nhận giá
cả không bị ảnh hưởng của những yếu tố tác động thái quá cũng như không bị ép buộc.
[Type text] Trang 6
Thẩm định giá thương hiệu Kinh Đô
Tại Việt Nam: Theo quyết định số 24/2005/QĐ-BTC ngày 18/04/2005 của Bộ Tài
Chính ban hành Tiêu chuẩn số 01 (TĐGVN 01) định nghĩa giá trị thị trường làm tiêu chuẩn
thẩm định giá như sau: Giá trị thị trường của một tài sản là mức giá ước tính sẽ được mua
bán trên thị trường vào thời điểm thẩm định giá và được xác định giữa một bên là người mua
sẵn sàng mua và một bên là người bán sẵn sàng bán, trong một giao dịch mang tính khách
quan và độc lập, trong điều kiện thương mại bình thường.
Giá trị phi thị trường làm cơ sở cho thẩm định giá
Giá trị phi thị trường được định nghĩa như sau: Giá trị phi thị trường là mức giá ước
tính được xác định theo những căn cứ khác với giá trị thị trường hoặc có thể được mua bán,
trao đổi theo các mức giá không phản ánh giá trị thị trường như: giá trị tài sản đang trong quá

trị của nó (giá trị không bất biến mà thay đổi theo thời gian). Giá trị của thương hiệu cũng
được hình thành trong quá trình thay đổi liên tục phản ánh hàng loạt các mối quan hệ nhân
quả giữa các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị.
e Quy trình thẩm định giá trị thương hiệu
Quy trình thẩm định giá trị thương hiệu bao gồm: những cách thức, hành vi, kỹ thuật
thực hiện các bước trong một phương pháp thẩm định giá. Quy trình thẩm định giá trị thương
hiệu được khái quát thông qua 6 bước:
Bước 1: Xác định vấn đề
-Xác định mục tiêu thẩm định giá trị thương hiệu
-Xác định cơ sở thẩm định giá trị thương hiệu: giá trị thị trường hay giá phi thị trường.
-Xác định tài liệu cần thiết cho việc thẩm định giá trị thương hiệu
-Xác định thời điểm thẩm định giá
Đây là bước đầu tiên và cũng là bước quan trọng để tiến hành thẩm định giá trị thương
hiệu và trong bước này chúng ta cần xác định đúng mục đích thẩm định giá trị thương hiệu
và các giấy tờ có liên quan tới thương hiệu cần thẩm định giá.
Bước 2: Lập kế hoạch thẩm định giá
Việc lập kế hoạch thẩm định giá trị thương hiệu càng chi tiết thì càng thuận lợi trong
quá trình thẩm định giá. Tuy nhiên, thời gian tiến hành thẩm định giá trị thương hiệu nào đó
sẽ do loại hình kinh doanh hay quy mô của doanh nghiệp cần thẩm định giá quyết định.
[Type text] Trang 8
Thẩm định giá thương hiệu Kinh Đô
Bước 3: Tìm hiểu thương hiệu cần thẩm định giá và thu thập tài liệu
Thông tin từ nội bộ doanh nghiệp: tư liệu về tình hình sản xuất kinh doanh, tổng hợp
tất cả các báo cáo tài chính, hệ thống đơn vị sản xuất và đại lý, đặc điểm của đội ngũ quản lý
điều hành, cán bộ, nhân viên. Các tài liệu liên quan như phương án sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp trong 5 năm tới, chi tiết về kế hoạch đầu tư, chi phí marketing, chi phí quảng
cáo, tiếp thị, chi phí bán hàng, chi phí hình thành và quảng cáo thương hiệu trong thời gian
vừa qua.
Thông tin bên ngoài doanh nghiệp: đặc biệt là thông tin về thị trường sản phẩm của
thương hiệu, môi trường kinh doanh, ngành kinh doanh, các đối thủ cạnh tranh, chủ trương

xét tất cả loại chi phí và các khoản đầu tư cần thiết để thương hiệu mới cùng tính hữu ích với
thương hiệu cần thẩm định giá. Phương pháp này không bao gồm ước tính các khoản không
phù hợp và lỗi thời hiện diện trong thương hiệu cần thẩm định giá.
-Phương pháp dựa trên chi phí quá khứ: Phương pháp này xem xét tất cả loại chi phí
và các khoản đầu tư trong quá khứ đã phát sinh để phát triển thương hiệu.
Các bước tiến hành trong cách tiếp cận dựa vào chi phí
Bước 1: Ước tính chi phí để tạo ra thương hiệu mới.
Tùy vào mục đích của việc thẩm định giá mà thẩm định viên lựa chọn phương pháp
thẩm định giá theo chi phí tái tạo, chi phí thay thế hay chi phí quá khứ. Tuy nhiên, nội dung
chi phí xây dựng thương hiệu trong cách tiếp cận chi phí bao gồm các khoản mục lớn sau:
-Chi phú nguyên vật chất liên quan đến việc xây dựng thương hiệu
-Chi phí nhân công
-Chi phí quản lý chung
-Lợi nhuận của doanh nghiệp phát triển thương hiệu
-Chi phí cơ hội
Bước 2: Xác định khấu hao và ước tính giá trị khấu hao lũy kế phù hợp
Việc xác định khấu hao và ước tính giá trị khấu hao của thương hiệu thẩm định giá
cần phải căn cứ vào chuẩn mực kế toán liên quan đến tài sản cố định vô hình. Theo chuẩn
mực kế toán về TSCĐVH thì trong bước này cần xác định 3 vấn đề chính:
[Type text] Trang 10
Thẩm định giá thương hiệu Kinh Đô
-Ước tính thời gian sử dụng hữu ích của thương hiệu cần thẩm định giá
-Xác định các loại hao mòn trong phân tích cách tiếp cận chi phí của thương hiệu cần
thẩm định giá
-Phương pháp ước tính khấu hao thương hiệu
Bước 3: Áp dụng công thức để tính ra giá trị thương hiệu
Giá trị thương hiệu cần thẩm định giá = Chi phí xây dựng thương hiệu – giá trị hao
mòn lũy kế.
Ưu và nhược điểm của cách tiếp cận dựa vào chi phí
-Ưu điểm: sử dụng tính toán khá rõ rang, dễ hiểu và thích hợp để thẩm định các

Bước 2: Xác định tỷ lệ tiền bản quyền hợp lý
Bước 3: Ước tính dòng tiền bản quyền
Bước 4: Ước tính dòng tiền bản quyền sau thuế
Bước 5: Ước tính tốc độ tăng trưởng thương hiệu mãi mãi, vòng đời hữu dụng và suất chiết
khấu.
Bước 6: Chiết khấu dòng tiền bản quyền sau thuế về giá trị hiện tại.
Ưu và nhược điểm
Ưu điểm:
+ Giao thoa giữa hai phương pháp so sánh và thu nhập
+ Có chứng cứ được rút ra từ thị trường nên có độ tin cậy cao
+ Ứng dụng cho trường hợp nhượng quyền
Nhược điểm:
+ Khó khăn trong việc xác định tỷ lệ tiền bản quyền
+ Những điều khoản trong hợp đồng cấp phép mang tính bí mật, dẫn đến những khó
khăn trong việc đưa ra một tỷ lệ tốt.
c Cách tiếp cận dựa vào thu nhập
[Type text] Trang 12
Thẩm định giá thương hiệu Kinh Đô
Phương pháp vốn hóa trực tiếp
Theo phương pháp này, mức thu nhập do thương hiệu mang lại được chia cho một tỷ
lệ vốn hóa hay nhân với một hệ số nhân thu nhập để chuyển thành giá trị thương hiệu.
Các bước tiến hành:
Bước 1: Ước tính doanh thu trung bình một năm do thương hiệu mang lại có tính đến tất cả
các yếu tố liên quan tác động tới thu nhập.
Bước 2: Ước tính chi phí liên quan đến việc khai thác thương hiệu để tạo ra thu nhập.
Bước 3: Ước tính tỷ suất vốn hóa.
Bước 4: Xác định giá trị thị trường của thương hiệu theo công thức:V= I/R
Ưu và nhược điểm:
Ưu điểm: đơn giản, dễ sử dụng vì có thể suy ra từ chứng cứ thị trường
Nhược điểm: khó khăn trong việc xác định dòng tiền do thương hiệu mang lại.

-Cách tiếp cận lợi nhuận hoạt động biên
Trong kĩ thuật phân tích này, ta sẽ thay thế lợi nhuận hoạt động biên của doanh nghiệp
có thương hiệu với lợi nhuận hoạt động biên của doanh nghiệp không có thương hiệu trong
cùng lĩnh vực.
Ngụ ý của giả thiết này cho biết rằng là sức mạnh của thương hiệu là ở việc định giá
sản phẩm và doanh nghiệp có thương hiệu sẽ có thể định giá cao hơn cho các sản phẩm đồng
dạng được sản xuất bởi doanh nghiệp không có thương hiệu.
-Cách tiếp cận dựa vào lợi nhuận trên vốn
Giả định ở đây là sức mạnh của thương hiệu làm tăng tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư.
Các thay đổi kết cục trong dòng thu nhập hoạt động và tăng trưởng sẽ làm giảm giá trị của
doanh nghiệp, và sự thay đổi trong giá trị là giá trị của thương hiệu. Chúng ta giả định là chi
phí vốn giống nhau cho doanh nghiệp không có thương hiệu và doanh nghiệp có thương
hiệu.
-Cách tiếp cận dựa vào thu nhập vượt trội
[Type text] Trang 14
Thẩm định giá thương hiệu Kinh Đô
Phương pháp này cho phép chúng ta lập chi phí vốn ở các mức đầu tư lên giá trị của
doanh nghiệp có thương hiệu và doanh nghiệp không có thương hiệu. Lý giải hợp lý là doanh
nghiệp có thương hiệu sẽ có ít rủi ro hơn doanh nghiệp có thương hiệu, vay nợ được nhiều
hơn và chi phí vốn thấp hơn.
 Mô hình suất sinh lợi phụ trội
Khi mà doanh nghiệp không có thương hiệu không tồn tại, có thể có cách tiếp cận
thay thế khác mà ta có thể sử dụng để định giá tên thương hiệu.
Nếu ta giả định rằng lợi nhuận vượt trội là hoàn toàn đóng góp bởi do tên thương hiệu
thì giá trị của thương hiệu có thể được tính toán như là sự khác biệt giữa giá trị của doanh
nghiệp và giá trị sổ sách của doanh nghiệp.
Cách tiếp cận này đưa ra giá trị tương tự như trong cách tiếp cân bằng cách so sánh
với doanh nghiệp cùng ngành không có thương hiệu mạnh, nếu như các doanh nghiệp không
có tên thương hiệu không kiếm được lợi nhuận vượt trội.


phân khúc riêng lẻ. Tổng giá trị của các phân khúc riêng lẻ này, hợp thành giá trị tổng hợp
của thương hiệu.
Tiến hành phân khúc theo các yếu tố sau:
-Phân khúc theo ranh giới địa lý
-Phân khúc theo dòng sản phẩm
-Phân khúc theo đối tượng khách hàng
Bước 2: Phân tích tài chính
Chúng ta cần xác định và dự báo doanh thu, cũng như lợi nhuận kiếm được từ tài sản
vô hình của thương hiệu cho những phân khúc đã được xác định tổng doanh thu của doanh
nghiệp trừ đi chi phí sản xuất, chi phí hoạt động, thuế và các loại chi phí khác.
Bước 3: Phân tích cầu
Tiếp đến, chúng ta phải định lượng vai trò mà thương hiệu đóng góp trên thị trường
mà nó hoạt động. Từ đó, ta xác định được tỷ lệ % của giá trị tài sản vô hình gắn liền với
thương hiệu, thường được gọi là chỉ số “ vai trò của thương hiệu”. Chỉ số này được tính bằng
cách xác định những xu hướng nhu cầu khác nhau về sản phẩm có gắn thương hiệu, sau đó
xác định mức độ mà mỗi xu hướng chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi thương hiệu. Nói cách khác,
[Type text] Trang 16
Thẩm định giá thương hiệu Kinh Đô
chỉ số này đại diện cho % tài sản vô hình được tạo ra bởi thương hiệu hay thương hiệu đóng
góp bao nhiêu % trong lợi nhuận kiếm được từ tài sản vô hình.
Bước 4: Xác định “sức mạnh thương hiệu” và “lãi suất chiết khấu”
-Giai đoạn 1: Ước tính sức mạnh thương hiệu
Theo InterBrand thì sức mạnh của thương hiệu dựa vào 7 yếu tố như sau:
Yếu tố Điểm tối đa
Tính dẫn đầu 25
Tính ổn định 15
Thị trường 10
Địa lý 25
Xu hướng thương hiệu 10
Hoạt động hỗ trợ 10

+ Phương pháp này hữu ích trong quản trị doanh nghiệp, giúp nhà quản trị có cái nhìn
tổng quan hơn về thương hiệu, cũng như nhận diện các thương hiệu cạnh tranh trực tiếp trên
thị trường.
Nhược điểm
+ Phương pháp dựa nhiều vào tính chủ quan, chịu ảnh hưởng của nhiều tham số, độ
chính xác phụ thuộc vào trình độ của người thực hiện.
+ Tại Việt Nam hiện nay chưa có hệ số chiết khấu cho thương hiệu của từng ngành.
+ Chưa được pháp luật Việt Nam công nhận
+ Không dự báo được cung cầu thị trường trong tương lai.
[Type text] Trang 18
Thẩm định giá thương hiệu Kinh Đô

Mô hình định giá thương hiệu của Brand Finance
Mô hình này dựa vào phương pháp phân tích tài chính và tâm lý người tiêu dùng.
Trong cách tách dòng thu nhập do thương hiệu tạo ra, mô hình này sử dụng phân tích điều tra
từ phía người tiêu dùng để tìm ra chỉ số vai trò thương hiệu. Tuy nhiên, mô hình Brand
Finance khác mô hình InterBrand ở chỗ hình thành nên chỉ số tính toán sức mạnh thương
hiệu để ước tính suất chiết khấu thương hiệu.
Sơ đồ các bước tiến hành theo phương pháp Brand Finance:
Bước 1: Phân tích thị trường
Phân tích thị trường bắt đầu bằng việc xác định và tổng hợp các điều kiện chuẩn của
phân khúc thị trường và xác định những phân khúc thị trường thích hợp.
Bước 2: Dự báo tài chính để ước tính giá trị kinh tế gia tăng của doanh nghiệp có thương
hiệu.
Dự báo tài chính được sử dụng để ước tính giá trị kinh tế gia tăng của doanh nghiệp có
thương hiệu trong giai đoạn từ 3 đến 5 năm. Ở bước này sử dụng số liệu tài chính trong quá
khứ để ước tính giá trị kinh tế gia tăng của doanh nghiệp có thương hiệu hay giá trị kinh tế
gia tăng do tất cả tài sản vô hình của doanh nghiệp trong đó có thương hiệu tạo ra.
Bước 3: Phân tích chỉ số vai trò thương hiệu và ước tính giá trị kinh tế gia tăng của dòng thu
nhập chỉ do thương hiệu tạo ra.

- CTCP Kinh Đô tiền thân là Công ty TNHH Xây dựng và Chế biến thực phẩm Kinh Đô,
được thành lập năm 1993. Những ngày đầu thành lập, Công ty chỉ là một xưởng sản xuất nhỏ
diện tích khoảng 100m2 với 70 công nhân và vốn đầu tư 1,4 tỉ đồng, chuyên sản xuất và kinh
doanh bánh snack - một sản phẩm mới đối với người tiêu dùng trong nước.
- Năm 1994, công ty tăng vốn điều lệ lên 14 tỷ đồng và nhập dây chuyền sản xuất snack trị
giá 750.000 USD từ Nhật. Thành công của bánh snack Kinh Đô với giá rẻ, mùi vị đặc trưng
phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng trong nước đã trở thành bước đệm quan trọng cho
sự phát triển không ngừng của Công ty Kinh Đô sau này.
- Năm 1999, công ty tăng vốn điều lệ lên 40 tỷ đồng, thành lập TTTM Savico - Kinh Đô tại
Quận 1, đánh dấu một bước phát triển mới của Kinh Đô sang các lĩnh vực kinh doanh khác
ngoài bánh kẹo. Công ty khai trương hệ thống Bakery đầu tiên, mở đầu cho một chuỗi hệ
[Type text] Trang 21
Thẩm định giá thương hiệu Kinh Đô
thống của hàng bánh kẹo Kinh Đô từ Bắc vào Nam sau này.
- Năm 2000, công ty tăng vốn điều lệ lên 51 tỷ đồng, mở rộng diện tích nhà xưởng lên hơn
40.000m2.
- Tháng 9/2002, CTCP Kinh Đô được thành lập với vốn điều lệ 150 tỷ đồng, trong đó Công
ty TNHH Xây dựng và Chế biến thực phẩm Kinh Đô góp 50 tỷ đồng.
Sau 12 năm hoạt động và phát triển, quy mô vốn và quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh
không ngừng tăng trưởng đến năm 2005 trở thành doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo hàng đầu
ở Việt Nam với vốn điều lệ 250 tỷ đồng và niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
- Ngày 12/12/2005, 25 triệu cổ phiếu KDC của công ty chính thức giao dịch lần đầu tại
Trung tâm GDCK TP. Hồ Chí Minh.
Năm 2006, Hệ thống Kinh Đô khởi công xây dựng hai nhà máy mới: Kinh Đô Bình Dương
và Tribeco Bình Dương với tổng vốn đầu tư 660 tỷ đồng trên diện tích xây dựng 13ha tại
KCN Việt Nam - Singapore.
Năm 2007, Công ty Tribeco Sài Gòn và công ty cổ phần CBTP Kinh Đô Miền Bắc đã khởi
công xây dựng nhà máy tại tỉnh Hưng Yên.
Kinh Đô đầu tư vào công ty CBTP Giải Pháp Sài Thành SSC và chính thức tham gia vào lĩnh
vực đào tạo nhân sự cấp cao.

doanh của mình từ phục vụ phân khúc thị trường bình dân sang các loại bánh kẹo cao cấp và
hướng tới xuất khẩu ra thị trường thế giới.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của BBC tập trung vào 5 nhóm sản phẩm chính bao
gồm: bánh, kẹo, nha, socola, và nhóm sản phẩm dinh dưỡng.
Trong các nhóm sản phẩm này, dòng sản phẩm bánh mang lại doanh thu lớn nhất
trong cơ cấu doanh thu của BBC, với hơn 40% (trong đó, riêng bánh trung thu đóng góp
khoảng 10% doanh thu). Nhóm sản phẩm kẹo chiếm khoảng 35%, và sản phẩm dinh dưỡng
chiếm khoảng 10% trong cơ cấu doanh thu của toàn công ty. Các sản phẩm của BBC đã
khẳng định được vị trí và thương hiệu trên thị trường nội địa bao gồm: các sản phẩm bánh
biscuits & cookies như bánh Goodies, và bánh Cookies Socola Chip; các sản phẩm bánh
bông lan như Hura, và Hura Deli; các sản phẩm kẹo như kẹo Juice, và kẹo cao cấp Exkool,
và sản phẩm socola như Choco Bella và mới đây nhất là Chocopie Lotte và Lotte Pie. Trong
các sản phẩm này, bánh biscuits & cookies đóng góp khoảng 25% tỉ trọng doanh thu của
BBC, bánh Hura đang chiếm khoảng 20% tỷ trọng doanh thu.
Công ty bánh kẹo Hải Hà
[Type text] Trang 23
Thẩm định giá thương hiệu Kinh Đô
HHC được thành lập năm 1960, với tiền thân là xưởng sản xuất nước mắm và magi.
Cho đến nay, HHC đã trở thành một trong những doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo lớn nhất
VIệt Nam với sản lượng trung bình hàng năm trên 15.000 tấn.
Thị trường chủ yếu với các sản phẩm của công ty là ở miền Bắc, còn ở các khu vc khá
c sản lượng chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ.
Về cơ cấu sản phẩm, kẹo các loại vẫn là dòng sản phẩm chủ lực của HHC trong nhiều
năm, với doanh thu chiếm khoảng 76% trong cơ cấu doanh thu của cả Công ty.
Ngoài ra, bánh kem xốp, bánh quy & cracker cũng là những sản phẩm truyền thống
của HHC, với tỷ trọng đóng góp vào trong cơ cấu doanh thu trung bình các năm là khoảng
22%.
Các sản phẩm khẳng định thương hiệu HHC trên thị trường bao gồm: kẹo CHEW
HAIHA, kẹo Jelly CHIP HAIHA, kẹo cây HAIHAPOP, bánh xốp cuộn MINIWAF, bánh
mềm cao cấp phủ sôcôla với các nhãn hiệu: Long-pie, Long-cake, Hi-pie, và Lolie

ChocoPie, Custas, FreshPie, Goute’, Snack O’star, Snack Toonies… hiện đang được sản xuất
và kinh doanh trên thị trường Việt Nam.
Cty TNHH LOTTE VIỆT NAM là công ty có 100% vốn nước ngoài được hình thành
và phát triển tại thị trường Việt Nam vào năm 1998. Đây là chi nhánh của tập đoàn Lotte Hàn
Quốc. Sản phẩm chính của công ty Lotte chủ yếu là kẹo gum như: Xylitol, Bub-up, Fusen no
mi, bánh gấu nhân sô-cô-la Koala's March.
Ngoài ra còn có các công ty khác như liên doanh Vinaco-Kotobuki, công ty URC
(Philippines)… đang dần phát triển tạo thị trường Việt Nam.
f Kế hoạch phát triển trong tương lai
Trong các năm sắp tới, Kinh Đô tập trung vào việc đẩy mạnh hơn nữa mức tăng
trưởng của các ngành, đồng thời vận hành theo cách mới với sự hỗ trợ của hệ thống phần
mềm quản trị SAP. Với việc này, Kinh Đô tự tin rằng việc tăng hơn nữa lợi nhuận là hoàn
toàn khả thi.
Kinh Đô đã thiết kế và đang triển khai việc tổ chức vận hành dựa trên mô hình SBU
trên cơ sở thiết kế hệ thống các quy trình phối hợp hàng ngang S & OP và quy trình tung ra
thị trường (go-to-market) cùng các quy trình hỗ trợ. Từ đó, hệ thống quản trị kiểm soát và
quản lý rủi ro ngày càng được vận hành tốt hơn.
Bên cạnh đó, Kinh Đô sẽ tung ra những sản phẩm mới có giá trị cao trên cơ sở nghiên
cứu xu thế thị trường cho 3 - 5 năm tới. Với trọng tâm là khách hàng cho mọi hoạt động của
[Type text] Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status