LỜI MỞ ĐẦU
Trong công cuộc đổi mới và mở cửa nền kinh tế của Đảng và nhà nước
ta những năm vừa qua đã đem lại cho nền kinh tế nói chung và các doanh
nghiệp dược nói riêng cơ hội to lớn để phát triển mạnh mẽ. Công ty TNHH
Thăng Long đã có những bước phát triển vượt bậc không những về chủng
loại, chất lượng sản phẩm mà cả về năng lực kinh doanh nhập khẩu đáp ứng
nhu cầu của nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập nền kinh tế quốc tế,
công ty đã đóng góp một phần không nhỏ của mình trong xu thế hội nhập đó.
Nền kinh tế Việt Nam có điểm xuất phát thấp, chiến tranh kéo dài đã để lại
cho nhân dân Việt Nam biết bao bệnh tật cộng với sự đói nghèo đã ảnh hưởng
trực tiếp đến sức khoẻ nhân dân. Trước tình hình đó, một yêu cầu cấp thiết đặt
ra cho các doanh nghiệp dược là phải làm thế nào để có nguồn thuốc chất
lượng tốt, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Với công nghệ y dược của Việt
Nam hiện nay chỉ mới đáp ứng được phần nào yêu cầu đó, điều này làm cho
hoạt động nhập khẩu thành phẩm tân dược có chất lượng cao càng trở nên
quan trọng bởi bên cạnh việc chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân thì nhập khẩu
thuốc còn là cầu nối thông suốt nền kinh tế tiên tiến trong và ngoài nước với
nhau, chính hoạt động này cũng sẽ đóng góp vào sự phát triển ổn định của
nền kinh tế và hơn ai hết nó sẽ giúp cho mỗi con người trong cộng đồng có
được sức khoẻ, trí tuệ để tham gia hoạt động trong mọi lĩnh vực khác nhau.
Tuy nhiên, điều kiện mở cửa của kinh tế thị trường đặt ra cho công ty
những thách thức rất lớn đặc biệt là trong kinh doanh quốc tế. Cùng với sự
cạnh tranh khốc liệt là những khó khăn thách thức mới đã ảnh hưởng trực tiếp
đến quá trình nhập khẩu thành phẩm tân dược của Công ty TNHH Thăng
Long. Đó cũng là một trong những vấn đề mấu chốt có thể trở thành nhân tố
quan trọng đem lại thành công cho công ty trong cơ chế thị trường hiện nay,
cần nâng cao hiệu quả của hoạt động nhập khẩu. Trên cơ sở vận dụng lý
thuyết được học ở trường và sự tìm hiểu thực trạng hoạt động nhập khẩu của
công ty em xin tiến hành thực hiện đề tài “Hoàn thiện quy trình nhập khẩu
nguyên liệu và thành phẩm tân dược tại Công ty TNHH Thăng Long”
Trên cơ sở đánh giá thực trạng những điểm hoàn thiện và chưa hoàn
vào kinh doanh dược phẩm và dụng cụ y tế thông thường.
Đến năm 1994 tình hình tổ chức và quản lý của công ty đã đi vào hoạt
động rất hiệu quả, cùng với việc chớp lấy thời cơ phát triển mạnh mẽ của kinh
tế trong nước công ty đã xin cấp giấy phép bổ sung ngành nghề kinh doanh để
mở rộng hoạt động của mình với nội dung sau:
• Bổ sung ngành nghề kinh doanh: được Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp
ngày 12/5/1994 theo giấy phép này thì công ty có các chức năng sau: Kinh
doanh tư liệu sản xuất, buôn bán hàng tiêu dùng, kinh doanh sách sạn, mở các
dịch vụ sản xuất bao bì từ nhựa và cao su.
• Bổ sung vốn điều lệ từ 300 triệu đồng lên 1 tỷ đồng, đổi tên từ công
ty TNHH Dược phẩm Thăng Long thành Công ty TNHH Thăng Long, tên
giao dịch là Draphaco và chuyển trụ sở từ 69 Tràng Thi về phòng 4 nhà 5
trung tâm triển lãm Giảng Võ Hà Nội.
Cũng trong thời gian này để đáp ứng nhu cầu của thị trường đang phát
triển mạnh công ty đã mở rộng thêm một số cửa hàng bán buôn dược phẩm:
cửa hàng 49 Quốc Tử Giám, 41 Văn Miếu, số 7 Ngọc Khánh. Ngoài ra công
ty còn tổ chức kinh doanh về việc cho thuê kiốt bán hàng và thành lập các nhà
phân phối một số, tỉnh, thành phố trọng điểm như: Hải Phòng, Quảng Ninh,
Nghệ An và thành phố Hồ Chí Minh.
Đến năm 1996 công ty nhận thấy đời sống của dân cư ngày càng được
nâng cao, nhu cầu vè hàng hóa tiêu dùng để tăng cường sức khỏe là một thị
trường tiềm năng có nhu cầu rất lớn. Chính điều này đã tạo cho công ty kinh
doanh mặt hàng tiêu dùng mới đó là: sâm Triều Tiên và đã thu được những
thành công rất lớn trên thị trường. Cũng thời điểm này công ty đã tăng vốn
điều lệ từ 1 tỷ đồng lên 300 triệu. Từ năm 1996 đến 1999 công ty liên tiếp mở
thêm các cửa hàng kinh doanh sâm tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và một số
tỉnh khác.
Năm 1999 do thay đổi luật thuế doanh thu sang thuế giá trị gia tăng và
chính phủ có bãi bỏ một số giấy phép kinh doanh con và ban hành chính sách
kinh doanh thông thoáng hơn đã tạo điều kiện thuận lợi các công ty hoạt động
Các cửa
hàng
bán lẻ
• Chịu trách nhiệm về tổ chức nhân sự: bổ nhiệm bãi, miễn nhiệm, cắt
chức các chức danh quản lý trong công ty theo đúng luật hoạt động của công
ty.
• Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và kế hoạch đầu tư của công
ty và chịu trách nhiệm chung về tình hình kinh doanh đó, giám đốc chỉ đạo
trực tiếp phó giám đốc, và các trưởng phòng: kế toán, kinh doanh, thị trường,
hành chính.
• Ban hành quy chế quản lý nội bộ công ty
• Ký kết các hợp đồng nhân danh công ty, tuyển lao động
Phòng kinh doanh: Đây là phòng chức năng quan trọng nhất của công
ty nó có các nhiệm vụ chính cụ thể sau:
• Chịu trách nhiệm về hoạt động và phát triển kinh doanh của công ty
• Kết hợp với phòng thị trường để tìm hiểu nhu cầu thị trường từ đó lập
kế hoạch kinh doanh, báo cáo giám đốc.
• Thực hiện nhập khẩu mua bán hàng hóa
• Phối hợp với phòng kế toán để sử dụng vốn một cách hiệu quả nhất,
và theo dõi kế toán quản trị để điều khiển kinh doanh cho hợp lý.
Phòng kế toán: Là cơ quan tham mưu và tổ chức thực hiện các nghiệp
vụ về kế toán, tài chính cho giám đốc, kiểm soát và chịu trách nhiệm về toàn
bộ các hoạt động của công ty về lĩnh vực tài chính của doanh nghiệp. Các
chức năng chính của phòng kế toán.
• Chịu trách nhiệm về hạch toán kế toán kịp đầy đủ, kịp thời và chính
xác.
• Phân tích tình hình hoạt động tài chính báo cáo giám đốc, phối hợp
với phòng kinh doanh và các phòng ban khác để đảm bảo cho việc kinh doanh
hợp lý và hiệu quả.
• Thực hiện duy trì chế độ tài chính của toàn công ty
Tổng nguyên giá
TSCĐ
Trong đó:
• Máy móc thiết bị
• Phương tiện vận tải
• Thiết bị chuyên dùng
• Tài sản cố định khác
565.464.000 768.945.000 1.242.564.000
73.211.000 85.665.000 97.886.000
215.227.000 215.227.000 433.287.000
241.340.000 405.497.000 642.942.000
35.686.000 62.556.000 68.449.000
2 Giá trị khấu hao 186.603.120 271.187.070 407.869.110
3 Giá trị còn lại 378.860.880 497.757.930 834.694.890
Nguồn: Phòng Kế toán của Công ty
Tài sản cố định là cơ sở vật chất kỹ thuật đảm bảo cho sản xuất kinh
doanh, nó chính là máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, các thiết bị chuyên
dùng đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hoạt động một
cách hiệu quả hơn. Trong năm 2004 nguyên giá tài sản cố định là
768.945.000 tăng 36% so với năm 2003, năm 2005 là 1.242.564.000 tăng
61,6% so với năm 2004.
Nguyên nhân chính là từ năm 2003 đến năm 2005 công ty có mua một
số thiết bị máy móc phục vụ cho việc đóng gói sản phẩm, và mua một xe tải
phục vụ cho vận chuyển hàng hóa. Đây là việc làm rất cần thiết để đảm bảo
cho công ty chủ động hơn trong việc kinh doanh. Tuy nhiên nó cũng ảnh
hưởng đến một phần vốn kinh doanh của công ty.
Khấu hao tài sản cố định được tính là chi phí kinh doanh, nó ảnh hưởng
đến lợi nhuận trong ngắn hạn và dài hạn. Năm 2003 khấu hao tài sản cố định
chiếm 12,72% chi phí, năm 2004 chiếm 18,16% chi phí, năm 2005 chiếm
24,25% chi phí kinh doanh. Có thể nói năm 2005 khấu hao tài sản cố định nó
4 Tài sản lưu động 4.127.986.55
0
4.568.995.70
0
4.321.588.620
5 Các khoản phải thu 2.175.662.00
0
1.938.557.60
0
2.244.575.680
6 Các khoản phải trả:
• Nợ ngắn hạn
• Nợ dài hạn
5.450.009.43
0
5.359.661.230 5.579.099.191
5.450.009.43
0
5.359.661.230 5.579.099.191
- - -
Tổng tài sản: 1.232.500.00
0
1.645.650.00
0
1.821.760.000
Nguồn: Phòng Kế toán của Công ty
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn năm 2003 là 32,13%, năm 2004 là 30,645%,
năm 2005 là 28,86%. Nó phản ánh rằng cứ 100 đồng vốn trong một năm thì
thu được bao nhiêu lợi nhuận. Ta thấy rằng lợi nhuận kinh doanh năm nay
đều cao hơn năm trước nhưng 100 đồng vốn bỏ ra khi kinh doanh năm 2003
lượng nhập khẩu.
+ Giấy phép theo đơn hàng: Là loại giấy phép kèm theo đó doanh
nghiệp phải lập đơn có số lượng cụ thể đẻ cục cấp giấy phép nhập theo đơn
hàng. Theo loại này doanh nghiệp bị hạn chế về số lượng nhưng không đề cập
đến vấn đề thời gian.
- Đối với các sản phẩm sâm: Đây là loại hàng mới trên thị trường Việt
Nam nên nó có các đặc điểm sau:
+Tính cạnh tranh của sản phẩm này trên thị trường trong nước không
cao.
+ Có rất ít doanh nghiệp trong nước kinh doanh sản phẩm này
+ Sự hiểu biết của nhân dân về sản phẩm này chưa cao.
+ Là một sản phẩm mới nên các sản phẩm sâm bị tranh chấp về quy
định nó là hàng tiêu dùng hay dược phẩm.
2. Thị trường nhập khẩu (các nước bán)
Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta đã đạt những thành tựu
đáng kể, thu nhập bình quân tính theo đầu người tăng đời sống nhân dân đi
vào ổn định. Tuy nhiên nhu cầu tiêu dùng của nhân dân về các sản phẩm dược
phẩm còn chưa cao, thị trường tiêu thụ trong nước bị bó hẹp. Điều này làm
cho doanh nghiệp phải hướng thị trường nhập khẩu vào các thị trường truyền
thống, thị trường nhập khẩu chính của công ty hiện nay là Nam Triều Tiên,
Đông Âu…
Trong cơ chế thị trường hiện nay, đòi hỏi các doanh nghiệp vừa và
nhỏ, năng động trong vấn đề tìm ra hình thức kinh doanh phù hợp cũng như
phải biết mở rộng thị trường và tìm nguồn hàng cung cấp. Là một công ty
trách nhiệm hữu hạn, công ty thương mại thăng long đã biết thích nghi với cơ
chế đó, ngày càng quan hệ thương mại với nhiều hãng trên thế giới. Kết quả
đó biểu thị ở bảng sau:
Bảng tổng hợp kim ngạch nhập khẩu
Đơn vị tính: Nghìn đồng
TT Nhà cung cấp 2001 2002 2003 2004 2005
TT Nhà cung cấp 2001 2002 2003 2004 2005
1 Roche (Pháp) 1128000 1048000 1152800 1268080 1366277
2 UPSA (Pháp) 5694000 652000 782400 821520 1100220
3 Rousel-morishta
(Nhật)
3175200 3280000 2624000 3148800 4121211
4 Vipharco (Pháp) 103800
5 Caba-geigi (Thụy Sỹ) 1275600 2121550 2970170 861980 850712
6 H.dong (Hàn Quốc) 1757220 2635830 2984580 4115266
7 Samsung (HQ) 1588000 1905600 2096160 2513444
8 Deeparma (Án Độ) 1885000 2073500 2177175 2687231
9 Pagin (Hàn Quốc) 546386 4749891 9237370
10 Kolon (Hàn Quốc) 667344 567242 835266
11 Greencroos (HQ) 556120 611732 934721
12 Rotex (Đức) 286550 429810 499222
13 Siniphar (HQ) 278000 521334
14 Yuhan (HQ) 312550 545611
15 Fregenius (Đức) 356450 422345
Tổng số: 6252000 12331770 16200690 20627970 29750280
Nguồn: Phòng thị trường Công ty
Cũng từ đầu năm 2001 công ty quan hệ mua bán với hãng Roche,
UPSA, Vipharco (của Pháp) là chủ yếu. Do trong thời gian này công ty kinh
doanh mặt hàng dược phẩm là chủ yếu, phạm vi buôn bán còn hạn hẹp nên
công ty chỉ nhập thông qua nhập ủy thác một số mặt hàng thuốc của hãng
trên. Trong quá trình hoạt động với khả năng huy động vốn của một công ty
ngày một mở rộng các mặt hàng kinh doanh đồng thời mở rộng quan hệ ngoại
thương với nhiều hãng hơn, nhờ vậy đến năm 2005 tổng kim ngạch nhập
khẩu của công ty nên tới 29750280 nghìn đồng của 15 hãng là chủ yếu.
Thông qua bảng trên chúng ta đã phần nào thấy được tình hình kinh doanh có
hiệu quả của công ty, để hiểu hơn vấn đề đó chúng ta có thể xem qua bảng
Để đáp ứng được sự biến động linh hoạt của thị trường công ty đã
thành lập phòng nghiên cứu thị trường nhằm định hướng chiến lược sản phẩm
của công ty trong năm kế hoạch (ví dụ như: Thu nhập, tình hình phát triển sức
khỏe của nhân dân, các chính sách của Nhà nước trong những năm tới…) để
xây dựng nhóm sản phẩm mà doanh nghiệp sẽ tập trung khai thác. Từ những
căn cứ trên mà doanh nghiệp nghiên cứu thị trường thế giới để chọn các sản
phẩm cụ thể: sản phẩm này có tác dụng như thế nào? sản phẩm ở vùng giá
nào? và đi đến chọn sản phẩm cuối cùng để nhập khẩu, và căn cứ vào các giao
dịch để chọn hãng sẽ cung cấp sản phẩm.
Các nhân tố tác động đến sản phẩm
- Đối với dược phẩm: các sản phẩm có tuổi thọ nhất định, tuổi thọ ở
đây không phải là thời hạn sử dụng mà là thời gian sản phẩm được xác định là
có tác dụng, chưa có sản phẩm nào thay thế tốt hơn.
Nhà nước luôn luôn định hướng chăm sóc về sức khỏe nhân dân cho
nên Nhà nước giao cho cơ quan chủ quản định hướng chi tiết các nhóm sản
phẩm sẽ đáp ứng như: Danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc hạn chế
nhập khẩu và danh mục cấm nhập khẩu.
2. Nghiên cứu về giá sản phẩm nhập khẩu
Khi nghiên cứu về giá hàng hóa công ty phải chú ý các vấn đề sau:
Khi tiến hành nghiên cứu về giá hàng nhập khẩu công ty đã chú ý đến
các quy luật của kinh tế, giá cả sản phẩm phải phù hợp với giá của thị trường,
quy luật giá cả và giá trị, và các quy luật khác.
Giá của sản phẩm mới thay sản phẩm cũ thì không thể lớn hơn giá sản
phẩm cũ. Điều này cũng phù hợp với tự nhiên vì nếu sản phẩm mới mà có giá
lớn hơn sản phẩm cũ thì nhu cầu tiêu dùng của sản phẩm cũ sẽ không quay
sang sản phẩm mới.
Sản phẩm này sau khi nhập vào thị trường sẽ đáp ứng được bao nhiêu
% thị trường với điều kiện tổng giá trị của nó không được vượt quá tổng giá
trị sử dụng trong năm.
3. Nghiên cứu lựa chọn đối tác cung cấp