nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm ở lứa tuổi từ 19 đến 29 điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần - Pdf 23

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn trầm cảm (RLTC) là một bệnh lý cảm xúc biểu hiện đặc trưng
bởi khí sắc trầm, giảm hoặc mất sự quan tâm, thích thú, giảm năng lượng dẫn
tới tăng mệt mỏi và giảm hoạt động, các biểu hiện này tồn tại trong thời gian
dài, ít nhất trên hai tuần[1], [2], [3].
Ngày nay, trầm cảm là một trong những rối loạn tâm thần phổ biến và
có xu hướng ngày một tăng ở nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước đang
phát triển. Trầm cảm là một vấn đề cần được quan tâm, đặc biệt trong công
tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu. Theo thông báo của Tổ chức Y tế Thế giới
(WHO), ước tính có khoảng trên 200 triệu người bị rối loạn trầm cảm điển
hình, nghĩa là khoảng5% dân số toàn cầu mắc bệnh này, ở Việt Nam tỷ lệ này
là 2,8%. Trầm cảm là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tự sát,
45 – 70% những người tự sát mắc bệnh trầm cảm và 15% số đó đã tử vong do
thực hiện được hành vi tự sát [4], [5].
Trầm cảm có thể gặp ở mọi dân tộc, mọi vùng dân cư và mọi lứa
tuổi, tần suất trầm cảm thay đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nghề nghiệp,
giới tính, trình độ, mức sống, văn hoá, xã hội và lứa tuổi [6]. Ngày nay,tỷ lệ
trầm cảm ở lứa tuổi trẻ có xu hướng ngày càng tăng. Kết quả nghiên cứu trầm
cảm ở học sinh trung học phổ thông Hà nội năm 2002 của Nguyễn Bá Đạt
trên 566 học sinh THPT thì có 8,8% học sinh bị trầm cảm [7]. Nghiên cứu của
Tô Thanh Phương (2005) tỷ lệ rối loạn trầm cảm ở độ tuổi từ 16 – 25 cao nhất
(38,84%), độ tuổi từ 36 – 45 tỷ lệ trầm cảm thấp nhất (13,64%) [8] .
Kết quả nghiên cứu của Coben (1993): trẻ từ 11 – 20 tuổi tỷ lệ trầm
cảm là 1,6%. Kết quả nghiên cứu của Pine (1998): Trẻ 17 – 26 tuổi tỷ lệ rối
loạn trầm cảm là 5,0%. Kết quả nghiên cứu của Kessler và Walter (1998): cho
thấy độ tuổi từ 15 đến 24: tỷ lệ có rối loạn trầm cảm là 5,8% trong 1 tháng,
12,4% trong 1 năm và 15,3% mắc cả đời [9]
Đặc biệt, giai đoạn từ 19 đến 29 tuổi là lứa tuổi có hoạt động sinh lý, tâm
1
2

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ RỐI LOẠN TRẦM CẢM:
1.1.Khái niệm và lịch sử bệnh:
1.1.1. Khái niệm:
Trước đây, các nhà tâm thần học mô tả trầm cảm như là một giai đoạn bệnh điển
hình, với tình trạng u sầu (melancholia), biểu hiện ức chế nặng nề các mặt
hoạt động tâm thần. Chủ yếu là các quá trình: 1 Cảm xúc ức chế biểu hiện
bằng khí sắc giảm, buồn rầu; 2/ Các quá trình tư duy bị ức chế, dòng tư duy
chậm lại; 3/ hoạt động bị ức chế thể hiện tình trạng chậm chạp cả lời nói và
hành vi, nhiều khi nặng đến mức sững sờ, bất động [1].
Hiện nay, theo mô tả trong bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD-1-0),
trầm cảm là một hội chứng bệnh lý, biểu hiện đặc trưng bởi khí sắc trầm, mất
mọi quan tâm thích thú, giảm năng lượng dễ mệt mỏi, phổ biến là tăng mệt
mỏi rõ rệt nhiều khi chỉ sau một cố gắng nhỏ. Kèm theo là các triệu chứng
phổ biến khác như: giảm sút tập trung chú ý, giảm sút lòng tự trọng và lòng tự
tin; có ý tưởng bị tội và không xứng đáng; bi quan về tương lai; có ý tưởng và
hành vi tự huỷ hoặc tự sát, rối loạn giấc ngủ; giảm cảm giác ngon miệng.
Ngoài ra còn có các triệu chứng loạn thần. Các biểu hiện trên tồn tại trong
một khoảng thời gian tối thiểu hai tuần liên tục [12].
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu về trầm cảm:
Sầu uất (Melancholia) là thuật ngữ được dùng đầu tiên trong học thuyết
thể dịch của Hyppocrate (460 – 377 trước công nguyên).Năm 1686 Bonet mô
tả một dạng bệnh tâm thần với tên gọi: Hưng cảm – sầu uất “Maniaco –
Melancolicus”; năm 1854 Falret lần đầu tiên mô tả hai trạng thái rối loạn trên
cùng một người bệnh trong một bệnh cảnh chung, được gọi là loạn thần tuần
hoàn; năm 1882 nhà Tâm thần học người Đức Karl Kahlbaum dùng thuật ngữ
3
4
“Cyclothymia” (bệnh khí sắc chu kỳ) để mô tả hưng cảm và trầm cảm là các
giai đoạn cảm xúc của cùng một bệnh; năm 1899 nhà Tâm thần học người
Đức Kraepelin mô tả thao cuồng và sầu uất là hai hình thái đối lập nhau trong

người tự sát tăng từ 8.300 người (năm 1975) lên 10400 người (năm 1980) và
12041 người (năm 1994). Theo M.L.Bourgeois (1998), trong số người tự sát,
rối loạn tâm thần chiếm 90% (trong đó trầm cảm chiếm 46%) [19]. Tự sát
nguyên nhân do trầm cảm không giảm, mà còn có xu hướng tăng cao hơn
nhiều bệnh lý khác.
1.2.2. Ở Việt Nam:
Ở Việt nam, hơn một thập kỷ gần đây vấn đề sức khoẻ tâm thần nói
chung và trầm cảm nói riêng được đề cập đến nhiều hơn, đã có nhiều công
trình nghiên cứu về trầm cảm ở các khía cạnh khác nhau.
Theo Ngô Ngọc Tản và Cao Tiến Đức (2001), rối loạn trầm cảm chiếm
3,4% khi điều tra các bệnh tâm thần ở một phường thuộc khu vực thành thị. Lã
Thị Bưởi điều tra các bệnh tâm thần ở một phường của một thành phố lớn cho
thấy rối loạn trầm cảm chiếm 4,1%. Nguyễn Văn Xiêm và cộng sự thấy rối loạn
trầm cảm chiếm 8,35% dân số khi điều tra ở một xã vùng nông thôn [20].
Theo Trần Văn Cường và cộng sự (2002), trầm cảm điển hình chiếm
2,8% khi điều tra dịch tễ học lâm sàng một số bệnh tâm thần thường gặp ở các
vùng kinh tế - xã hội khác nhau.
Theo Tô Thanh Phương (2005) tỷ lệ rối loạn trầm cảm ở độ tuổi từ 16 – 25
cao nhất (38,84%), độ tuổi từ 36 – 45 tỷ lệ trầm cảm thấp nhất (13,64%) [8].
1.3. Bệnh nguyên, bệnh sinh của trầm cảm:
1.3.1.Bệnh nguyên:
Kielholf.P. 1973 chia nguyên nhân gây trầm cảm làm 3 nhóm:
5
6
1.3.1.1. Do căn nguyên tâm lý:
Brice Pitte (1982) cho rằng trầm cảm là một đáp ứng cảm xúc tự nhiên
và bình thường của con người trước những mất mát to lớn, tuyệt vọng, lo âu
trước những mối nguy hiểm đe doạ Trầm cảm được xem là bệnh lý khi
mức độ nặng của trầm cảm hoặc sự kéo dài các biểu hiện của trầm cảm không
tương xứng với các tác nhân kích thích gây ra [21].

này là giai đoạn đầu thường gây kích thích, sảng khoái, hưng phấn nhưng sau
đó thường rơi vào trạng thái trầm cảm, mệt mỏi, uể oải, giảm sút và ức chế
các hoạt động tâm thần (giai đoạn ức chế).
Đặc biệt, thanh niên từ 19 đến 29 tuổi là lứa tuổi rất nhạy cảm, dễ bị lôi
kéo. Trong xã hội hiện nay, tình trạng thanh niên sử dụng các chất gây nghiện
và các chất tác động tâm thần có xu hướng ngày càng tăng. Theo báo cáo của
Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về tình hình sử dụng ma tuý ở Việt nam
năm 2011: gần 70% người nghiện ma túy ở độ tuổi dưới 30 tuổi (năm 1995 tỷ
lệ này chỉ khoảng 42%). Hơn 95% người nghiện ma túy ở Việt Nam là nam
giới. Tuy nhiên, tỷ lệ người nghiện là nữ giới cũng đang có xu hướng tăng
trong những năm qua[24]. Do vậy, sử dụng ma tuý và các chất tác động tâm
thần cũng là một trong những căn nguyên quan trọng gây nên trầm cảm ở
thanh niên từ 19 đến 29 tuổi.
1.3.1.3. Do nội sinh:
Khi đã loại trừ tất cả các nguyên nhân trên. Do rối loạn hoạt động của các
chất dẫn truyền thần kinh trong não như: Serotonin, Noradrenalin thường là
dẫn đến trầm cảm nặng, có thể có ý tưởng và hành vi tự sát, kèm theo các rối
loạn loạn thần như hoang tưởng bị tội, ảo thanh sai khiến tự sát v.v Loại trầm
cảm này điều trị rất khó khăn và thường dễ tái phát.
7
8
Cho đến nay trầm cảm nội sinh vẫn dựa vào giả thuyết đa yếu tố như là:
Các giả thuyết về di truyền, giả thuyết về các amin sinh học, thuyết về thần kinh
nội tiết và thuyết về hệ thần kinh trung ương.
1.3.2. Bệnh sinh:
Trầm cảm có cơ chế bệnh sinh khá phức tạp, có nhiều giả thuyết khác
nhau về căn nguyên, cơ chế bệnh sinh, hình thái bệnh học, tiến triển bệnh,
điều trị …. Tuy hiện chưa có một giả thuyết nào hoàn toàn thoả mãn được các
nhà nghiên cứu, nhưng các học giả đã thống nhất: trầm cảm là một hình thái
đáp ứng phức hợp tâm sinh – xã hội làm thay đổi rất nhiều không chỉ là

1.3.2.2. Các thuyết về nội tiết:
Hoạt động của hệ viền có vai trò trung gian liên quan đến các trạng thái
cảm xúc điều khiển giải phóng các hormon tuyến yên, một chất quan trọng
trong hệ thống các trục: dưới đồi – tuyến yên – tuyến thượng thận (HPA); trục
dưới đồi – tuyến yên – tuyến giáp (HPT); trục dưới đồi – tuyến yên – tuyến
sinh dục (HPGH)[31].
 Trục dưới đồi-tuyến yên-tuyến giáp:
- Vùng dưới đồi tiết ra TRH, chất này kích thích tuyến yên tiết ra TSH. Ở 1/3
số bệnh nhân trầm cảm nồng độ TSH và thyroid trong máu giảm.
- Bệnh nhân trầm cảm điển hình thấy đáp ứng của TRH giảm 15 – 56%.
 Trục dưới đồi – Tuyến yên – Thượng thận:
- Vùng dưới đồi tiết ra corticotropin-releasing hormon (CRH), chất này kích
thích tuyến yên tiết ra ACTH và ACTH kích thích tuyến thượng thận tiết ra
cortisol.C.B.Nemerroff (1992) thấy tăng tiết hormone tuyến thượng thận ở
bệnh nhân trầm cảm.
Trong trầm cảm, trục Dưới đồi – Tuyến yên – Thượng thận hoạt động
quá mức dẫn đến rối loạn hệ thần kinh thực vật (gây rối loạn ngủ, ăn, đau cơ
9
10
thể …). Ở người bị trầm cảm, nồng độ corticoid trong máu cao và nghiêm
pháp DST (Dexamethazon Suppression Test) cho thấy hoạt động quá mức của
vùng dưới đồi, tuyến yên.
Việc sử dụng nhiều corticoid có thể gây nên trầm cảm vì corticoid gây
giảm hoạt tính các thụ thể dẫn truyền serotonin (Roy,1987) và noradrenalin
(Price 1986).
 Trục dưới đồi – Tuyến yên – Tuyến sinh dục:
- Vùng dưới đồi kích thích tuyến yên bài tiết FSH và LH, FSH và LH
kích thích các cơ quan sinh sản tiết ra các nội tiết tố tại chỗ riêng của chúng
như: Tinh hoàn sản sinh ra testosteron; buồng trứng sản sinh ra progesteron.
- Bệnh nhân trầm cảm thường có rối loạn về sinh dục. Các rối loạn

Theo Sadock các rối loạn chức năng nhận thức là cốt lõi của trầm cảm.
Các thay đổi về cơ thể, cảm xúc và liên quan khác của trầm cảm đều là hậu
quả của rối loạn nhận thức.
Các tác giả đưa ra bộ ba triệu chứng về nhận thức của trầm cảm:
- Sự tự nhận, đánh giá về mình một cách tiêu cực: là người có nhiều
thiếu sót, khuyết điểm, không có năng lực, không ai ưa thích
- khuynh hướng xem xét thế giới xung quanh với màu sắc tràm cảm,
âm tính: là một thế giới đầy tiêu cực, luôn chờ đợi một điều không may mắn
sẽ xảy ra, một sự trừng phạt khó tránh khỏi
- Sự cam chịu, sẵn sàng để sống một cuộc sống vất vả, khó khăn, chịu
đựng mọi thua thiệt, bị tước đoạt và thất bại.[32].
 Các sự kiện sang chấn trong cuộc sống:
Khi quan sát lâm sàng, một số tác giả nhận thấy các sự kiện bất lợi
trong cuộc sống thường có vai trò làm khởi phát giai đoạn trầm cảm đầu tiên
11
12
hơn là các giai đoạn tiếp theo. Có một giả thuyết giải thích cho hiện tượng
này, đó là những sự kiện sang chấn xuất hiện trong giai đoạn trầm cảm đầu
tiên thường gây nên những biến đổi kéo dài yếu tố sinh học ở não. Những
biến đổi kéo dài này có thể tạo ra những thay đổi chức năng của nhiều chất
dẫn truyền thần kinh và hệ thống tín hiệu bên trong tế bào thần kinh như mất
tế bào thần kinh và giảm đáng kể sự tiếp xúc của synapse. Kết quả là một
người có nguy cơ tái phát trầm cảm sau giai đoạn đầu tiên đó cho dù không có
tác nhân bên ngoài.
Nhiều thầy thuốc tin rằng các sang chấn tâm lý đóng vai trò quan trọng
trong khởi phát giai đoạn trầm cảm, Các yếu tố gây stress và những biến cố
trong cuộc sống nếu kéo dài, tích luỹ lại gây ra sự quá tải về tâm lý tác động
vào nhân cách dễ bị tổn thương là nguyên nhân gây nên trầm cảm .
 Thuyết hành vi - nhận thức[33].
Peter Lewinsohn cho rằng trầm cảm xuất hiện là do có những hoạt

phải phản ứng với chính bản thân sự việc.
1.4. Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán rối loạn trầm cảm
1.4.1. Đặc điểm lâm sàng:
1.4.1.1.Theo kinh điển:[6] Trầm cảm điển hình là một quá trình ức chế
toàn bộ các hoạt động tâm thần thể hiện qua cảm xúc, tư duy và hành vi biểu
hiện bằng các triệu chứng sau:
+ Cảm xúc bị ức chế: khí sắc trầm, buồn rầu, ủ rũ, mất thích thú cũ,
nhìn xung quanh thấy ảm đạm.
+ Tư duy bị ức chế: suy nghĩ chậm chạp, liên tưởng khó khăn, tự cho
mình là hèn kém, bi quan về tương lai, mất tin tưởng vào bản thân. Trong
trường hợp nặng có hoang tưởng bị tội hay tự buộc tội, ảo thanh nghe tiếng
13
14
nói tố cáo tội lỗi của mình hay báo trước về những hình phạt sẽ xảy đến với
mình làm cho bệnh nhân xuất hiện ý tưởng hoặc hành vi tự sát.
+ Vận động bị ức chế: bệnh nhân ít hoạt động, ít nói, ăn uống kém,
thường hay ngồi hoặc nằm lâu ở một tư thế, trường hợp nặng có thể có bất động.
1.4.1.2.Theo Bảng Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD 10) của Tổ
chức Y tế Thế giới: [12].
Rối loạn trầm cảm là một giai đoạn rối loạn khí săc kéo dài ít nhất là 2
tuaanfvaf chia giai đoạn trầm cảm thành các mức độ khác nhau như: TC nhẹ,
TC vừa, TC nặng, thêm vào đó là kèm theo triệu chứng loạn thần hay các
triệu chứng cơ thể. Tiêu chuẩn chẩn đoán giai đoạn trầm cảm dựa vào 3triệu
chứng đặc trưng và 7 triệu chứng phổ biến.
* 3 triệu chứng đặc trưng bao gồm: khí sắc trầm, mất mọi quan tâm và
thích thú, giảm năng lượng dẫn đến tăng mệt mỏi và giảm hoạt động.
* 7 triệu chứng phổ biến bao gồm:
- Giảm sút sự tập trung, chú ý.
- Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin.
- Xuất hiện những ý tưởng bị tội và không xứng đáng.

triệu chứng này phải kéo dài trong thời gian ít nhất 2 tuần.
 Trầm cảm mức độ nhẹ:
Chẩn đoán mức độ này khi bệnh nhân có ít nhất 2 trong số các triệu
chứng đặc trưng và ít nhất 2 trong số các triệu chứng phổ biến và không có
triệu chứng nào trong số những triệu chứng này ở mức độ nặng. Các triệu
chứng này làm bệnh nhân gặp khó khăn trong các hoạt động xã hội, công việc
thường ngày nhưng vẫn có thể tiếp tục được. Trong trầm cảm mức độ nhẹ
bệnh nhân có thể có hoặc không có những triệu chứng cơ thể.
15
16
 Trầm cảm mức độ vừa:
Khi bệnh nhân có ít nhất 2 trong số 3 triệu chứng đặc trưng và ít nhất 3
trong số các triệu chứng phổ biến. Các triệu chứng này gây khó khăn đáng kể
trong việc tiếp tục các chức năng nghề nghiệp, xã hội hoặc các sinh hoạt trong
gia đình. Bệnh nhân có thể có hoặc không có các triệu chứng cơ thể.
 Trầm cảm mức độ nặng:
Khi bệnh nhân có cả 3 triệu chứng đặc trưng và ít nhất 4 trong số các
triệu chứng phổ biến, vài triệu chứng trong số này phải ở mức độ nặng. Tuy
nhiên, nếu như bệnh nhân có kích động hoặc chậm chạp tâm thần vận động rõ
rệt thì khó có thể mô tả các triệu chứng khác một cách chi tiết. Do đó, trầm
cảm nặng vẫn được chẩn đoán trong trường hợp này. Nếu các triệu chứng
trầm cảm xuất hiện nặng nề và khởi phát nhanh thì thời gian dùng để chẩn
đoán có thể < 2 tuần. Trong giai đoạn trầm cảm nặng bệnh nhân không thể
tiếp tục sinh hoạt và làm việc được.
Trong trầm cảm mức độ nặng được phân thành hai loại là trầm cảm
mức độ nặng không có các triệu chứng loạn thần và trầm cảm mức độ nặng có
các triệu chứng loạn thần. Các triệu chứng loạn thần có thể là hoang tưởng
liên quan đến những ý nghĩ về sự nghèo đói, tội lỗi hoặc những thảm họa sắp
xảy ra mà bệnh nhân là người gây ra nó. Ảo giác có thể là ảo thanh với lời lẽ
kết tội, phỉ báng bệnh nhân hoặc ảo giác khứu giác với mùi thịt thối rữa.

 Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn trầm cảm nặng không có
các triệu chứng loạn thần .
+ Giai đoạn hiện tại phải có đầy đủ các tiêu chuẩn của của một giai đoạn
trầm cảm nặng không có các triệu chứng loạn thần .
+ Phải có ít nhất một giai đoạn rối loạn cảm xúc hưng cảm nhẹ, hưng cảm
hoặc hỗn hợp trong thời gian trước đây.
- Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn trầm cảm nặng có các triệu
chứng loạn thần .
Giai đoạn hiện tại phải có đầy đủ các tiêu chuẩn cho một giai đoạn trầm
cảm nặng có các triệu chứng loạn thần.
17
18
+ Phải có ít nhất một giai đoạn rối loạn cảm xúc hưng cảm nhẹ, hưng
cảm hoặc hỗn hợp trong quá khứ.
II. . TRẦM CẢM Ở LỨA TUỔI TỪ 19 – 29:
2.1. Quan niệm về lứa tuổi :
Việc phân chia già trẻ theo tuổi không phản ảnh chính xác quá trình sinh
học. Vì vậy mà việc phân chia theo độ tuổi chỉ có giá trị tương đối [34].
 Theo Trường phái Hippocrate:
- Tuổi thơ ấu: Trước tuổi 14
- Tuổi trưởng thành: 15 – 42 tuổi
- Tuổi già: 43 – 63 tuổi
 Theo WHO:
- Tuổi vị thành niên: 10 – 19 tuổi
- Tuổi thanh niên: 19 – 24 tuổi
Tuy nhiên, trên thế giới các nước khác nhau cũng quy định độ tuổi
thanh niên khác nhau. Có nước quy định từ 15 – 30 tuổi, có nước
quy định tuổi thanh niên đến 29 tuổi (Trung Quốc) hoặc 35
(Bangladesh).
- Tuổi trưởng thành: Mỗi thời kỳ khác nhau, mỗi dân tộc khác nhau có độ

hoạt đều giảm sau 40 tuổi.
Đặc điểm phát triển của hệ thần kinh giai đoạn từ 19 đến 29 tuổi: Trọng
lượng não đạt đến mức tối đa, số lượng nơron thần kinh lên tới mức cao (14 –
16 tỉ). Quá trình myelin hoá cao độ tạo nên chất lượng nơron thần kinh hoàn
hảo. Số lượng synap của các tế bào thần kinh đảm bảo cho sự liên lạc rộng
khắp, chi tiết, tinh tế và linh hoạt giữa các kênh làm cho hoạt động của não bộ
trở nên nhanh nhạy, chính xác hơn so với các lứa tuổi khác. Vào độ tuổi này,
những ai là sinh viên có thể tích luỹ được 2/3 lượng tri thức của cuộc đời
19
20
trong thời kì học đại học (nhận định của giáo sư sinh học Lê Quang Long –
ĐHSP Hà Nội). [40].
Đặc điểm hệ xương và cơ bắp: Hệ xương và cơ bắp phát triển một
cách ổn định, đồng đều, tạo vóc dáng ở người trưởng thành. Đồng thời sức
nhanh, sức bền, sự dẻo dai, linh hoạt đều phát triển mạnh nhờ sự phát triển
ổn định của các tuyến nội tiết cũng như sự tăng trưởng các hormôn giới
tính. Tuy nhiên, sự phát triển ở hai giới là không giống nhau. Ở nữ có sự
phát triển thể chất sớm hơn nam 1, 2 năm: sự không giống nhau giữa nam
và nữ thể hiện ở đặc điểm cơ thể như: Tổ chức cơ bắp chân tay của nữ kém
hơn nam; xương và khớp chi nhỏ hơn nam; tổ chức cơ bắp ở chân tay của
nữ kém hơn nam; phổi của nam lớn gấp rưỡi nữ; mỗi phút tim của nam đập
trung bình 72 lần/phút, nữ là 80 lần/phút. Nam trung bình có 4,5 lít máu,
nữ là 3,6 lít máu. 40% cơ thể nam do cơ bắp tạo nên, nữ là 35%.
2.3. Đặc điểm phát triển tâm lý xã hội giai đoạn từ 19 – 29 tuổi [[10],
[36], 37], [39], [40], [41].
Trong sự phát triển tiếp diễn suốt cuộc đời. Con người phải trải qua các
giai đoạn, thời kì với những đặc điểm tâm sinh lí khác nhau. Khác với quá
trình phát triển ở tuổi vị thành niên, quá trình phát triển ở thời kỳ từ 19 đến 29
tuổi, là thời kì đầu trưởng thành (hay còn gọi là thời trưởng thành trẻ tuổi) có
những thay đổi rất phức tạp trong nhận thức, tư duy, thái độ… Sự thay đổi đó

mặt các quan hệ xã hội được mở rộng. Trong các quan hệ đó đòi hỏi mỗi cá
nhân phải có các cách ứng xử phù hợp. Những thay đổi quan hệ trong xã hội,
sự thách thức khách quan của cuộc sống làm xuất hiện những nhu cầu về hiểu
biết thế giới, hiểu biết xã hội và các chuẩn mực quan hệ người - người, hiểu
mình và tự khẳng định mình trong xã hội
21
22
 Nghiên cứu khả năng đánh giá con người của lứa tuổi 19 – 29, nhiều nhà tâm
lý học nhận thấy rằng có nét khác biệt rõ rệt so với tuổi vị thành niên. Ở tuổi
vị thành niên thường nêu lên những đặc điểm mang tính nhất thời liên quan
đến những hoàn cảnh cụ thể trong các mối quan hệ với bố mẹ hoặc thầy cô
giáo. Đối với lứa tuổi này, thường chú ý nhiều hơn đến những phẩm chất
nhân cách có tính bền vững như các đặc điểm trí tuệ, năng lực, tình cảm, ý
chí, thái độ đối với lao động, quan hệ với những người khác trong xã hội…
Từ chỗ nhìn nhận được những phẩm chất mang tính khái quát của người khác
dần dần con người tự phát hiện ra thế giới nội tâm của bản thân mình.
 Nét tâm lý đặc trưng xuất hiện trong giai đoạn chuyển từ lứa tuổi vị thành
niên sang tuổi trưởng thành là một trong những yếu tố tâm lý góp phần tạo
nên những mối quan hệ bất bình ổn giữa cha mẹ và con cái, làm cho tần số
giao tiếp giữa cha mẹ và con cái giảm xuống và thay vào đó là nhu cầu giao
tiếp với bạn đồng lứa tăng lên. Xu hướng vươn tới các giá trị của người lớn,
so sánh mình với người lớn, mong muốn được tự lập, tự chủ trong giải quyết
các vấn đề của riêng bản thân.
2.3.1.Đặc điểm về hoạt động nhận thức:
Là hoạt động trí tuệ thực sự, động cơ học tập của lứa tuổi từ 19 - 29 chủ
yếu là động cơ bên trong tức là động cơ mong muốn lĩnh hội tri thức, thường
có xu hướng ít thỏa mãn với vốn hiểu biết hiện có để đi tìm kiếm, đào sâu
thêm thật nhiều kiến thức. Là việc xác định những mục tiêu, nhiệm vụ mà
mình cần hướng tới. Mục tiêu đó có thể là những điều có ý nghĩa to lớn đến
cuộc sống, giúp tạo ra hứng thú và quyết tâm thực hiện mục tiêu đã đặt ra đó.

hoảng xảy ra mà được giải quyết một cách hiệu quả sẽ góp phần tích cực vào
sự phát triển nhân cách của con người, có ảnh hưởng to lớn đến thái độ và sự
phát triển của mỗi cá nhân sau này. Những người không vượt quađược khủng
23
24
hoảng sẽ ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển nhân cách, dễ bị tổn thương,
yếu đuối, dễ bị stress.
Giai đoạn từ 19 – 29 tuổi, sự tự ý thức, tự đánh giá, tự trọng phát triển
mạnh mẽ. Đây là những nền tảng quan trọng cho việc tự giáo dục, tự hoàn
thiện bản thân. Tuy nhiên nếu không được định hướng và giáo dục đúng thì
sự phát triển của các phẩm chất trên cũng có thể dễ tự ti mặt cảm về hoàn
cảnh, về sự khiếm khuyết của cơ thể hoặc những hạn chế về năng lực của
bản thân.
2.3.3.Đặc điểm về sự phát triển định hướng giá trị:
Cũng là một trong những nét tâm lý nổi trội của giai đoạn từ 19 – 29
tuổi. Ở giai đoạn này, mỗi cá nhân đã có thể hoạch định cho mình những mục
đích, mục tiêu, những công việc, kế hoạch cần thực hiện trong tương lai. Tuy
nhiên, cuộc sống rất phức tạp, nhiều sự kiện diễn ra không đúng theo dự định,
kế hoạch. Điều đó dễ dẫn đến nỗi thất vọng, khủng hoảng.
2.3.4. Đặc điểm về sự phát triển của đời sống cảm xúc và tình cảm lứa tuổi 19 -
29:
Ở giai đoạn này, sự phát triển đời sống tình cảm diễn ra theo hướng độc
lập và tự chủ. Tình cảm đặc trưng ở lứa tuổi này là tình yêu nam nữ. Đây là
một sự phát triển tâm sinh lý bình thường và tự nhiên của con người. Mặt khác
những cảm xúc, tình cảm của độ tuổi từ 19 đến 29 thường rất mãnh liệt và lãng
mạn. Nên khi bị ngăn cấm bởi gia đình, xã hội hoặc bị người yêu khước từ hay
là bỏ rơi dễ dẫn đến bị dồn nén, ức chế và dẫn đến bị trầm cảm.
2.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý ở lứa tuổi từ 19 – 29 [10 [37],
[38], [41]. [42],
2.4.1. Yếu tố gia đình:

xảy ra những mâu thuẫn và xung đột như sự coi thường, la mắng của thầy cô
25

Trích đoạn Sút cân:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status