BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ KIM CÚC
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
RỐI LOẠN TRẦM CẢM Ở TUỔI
TỪ 19 ĐẾN 29
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN BÁC SỸ CHUYÊN KHOA II
HÀ NỘI - 2013
1
S Y T H NI
BNH VIN TM THN H NI
CNG NGHIấN CU KHOA HC CP C S
NGHIÊN CứU ĐặC ĐIểM LÂM SàNG
RốI LOạN TRầM CảM ở LứA TuổI Từ 19 ĐếN 29
ĐIềU TRị NộI TRú TạI BệNH VIệN TÂM THầN
NĂM 2013
Ch nhim ti: BS.CKI. Nguyn Th Kim Cỳc
Th ký ti : BS. Nguyn Th Hi
H NI 2013
2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn trầm cảm (RLTC) là một bệnh lý cảm xúc biểu hiện đặc trưng
bởi khí sắc trầm, giảm hoặc mất sự quan tâm, thích thú, giảm năng lượng dẫn
tới tăng mệt mỏi và giảm hoạt động, các biểu hiện này tồn tại trong thời gian
ít nhất hơn hai tuần [42], [19], [22].
Ngày nay, trầm cảm là một trong những rối loạn tâm thần phổ biến và
có xu hướng ngày một tăng ở nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước đang
phát triển. Trầm cảm là một vấn đề cần được quan tâm, đặc biệt trong công
tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu. Theo thông báo của Tổ chức Y tế Thế giới
được chẩn đoán rối loạn trầm cảm là 109 bệnh nhân (chiếm tỷ lệ 13%). Trong
đó, chẩn đoán giai đoạn trầm cảm có 67 bệnh nhân, rối loạn cảm xúc lưỡng cực
giai đoạn trầm cảm có 11 bệnh nhân, trầm cảm tái diễn có 15 bệnh nhân và trầm
cảm trong rối loạn sự thích ứng có 5 bệnh nhân [20].
Ở Việt nam, rối loạn trầm cảm ở lứa tuổi từ 19 đến 29 còn chưa thực sự
được quan tâm, chưa có các công trình nghiên cứu đầy đủ về rối loạn trầm
cảm ở độ tuổi này.
Với mong muốn nhận thức được toàn bộ bệnh cảnh lâm sàng, hình thái
tiển triển của bệnh lý này một cách hệ thống, để giúp cho việc phát hiện sớm
và can thiệp kịp thời các rối loạn trầm cảm ở độ tuổi này. Do vậy, chúng tôi
chọn đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm ở lứa tuổi
từ 19 đến 29 điều trị nội trú tại Bệnh viện tâm thần” nhằm mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm ở lứa tuổi từ 19 đến 29 điều trị
nội trú tại Bệnh viện tâm thần.
2. Nhận xét một số yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm ở lứa
tuổi từ 19 đến 29 điều trị nội trú tại Bệnh viện tâm thần.
4
Chương1
TỔNG QUAN
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ RỐI LOẠN TRẦM CẢM
1.1. Khái niệm và lịch sử bệnh
1.1.1. Khái niệm
Trước đây, các nhà tâm thần học mô tả trầm cảm như là một giai đoạn
bệnh điển hình, với tình trạng u sầu (melancholia), biểu hiện ức chế
nặng nề các mặt hoạt động tâm thần. Chủ yếu là các quá trình: 1 Cảm
xúc ức chế biểu hiện bằng khí sắc giảm, buồn rầu; 2/ Các quá trình tư
duy bị ức chế, dòng tư duy chậm lại; 3/ hoạt động bị ức chế thể hiện
tình trạng chậm chạp cả lời nói và hành vi, nhiều khi nặng đến mức
sững sờ, bất động [42].
Hiện nay, theo mô tả trong bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10
+ F06.32: Trầm cảm thực tổn.
+ F31.2, F31.3, F31.4: Giai đoạn trầm cảm trong rối loạn cảm xúc
lưỡng cực.
+ F32: Giai đoạn trầm cảm
+ F33: Trầm cảm tái diễn
+ F41.2: Rối loạn hỗn hợp lo âu – trầm cảm
+ F43.20 và F43.21: Trầm cảm trong rối loạn sự thích ứng
+ F20.4: Trầm cảm sau phân liệt.
1.2. Vài nét về dịch tễ học và tình hình nghiên cứu rối loạn trầm cảm
1.2.1. Trên thế giới
Rối loạn trầm cảm là một bệnh lý khá phổ biến. Theo J.Angst (1992),
L.Judd (1994) và một số tác giả khác, rối loạn trầm cảm chiếm tỷ lệ 4 - 6,5%
dân số [27]. Ở Pháp có khoảng 10% dân số mắc RLTC, tỷ lệ mắc bệnh chung
6
tại một thời điểm là 2- 3% dân số và ở nhiều nước là từ 3 - 5%. Nghiên cứu
của M.M. Weissman và của nhiều tác giả khác cho thấy tỷ lệ mắc trong đời
của rối loạn trầm cảm từ 1,5% - 19,0% dân số và tỷ lệ mắc hàng năm từ 0,8 -
5,8% [32], [52], [55].
Tỷ lệ tự sát ngày càng tăng có liên quan đến trầm cảm [31] . Ở Pháp số
người tự sát tăng từ 8.300 người (năm 1975) lên 10400 người (năm 1980) và
12041 người (năm 1994). Theo M.L.Bourgeois (1998), trong số người tự sát,
rối loạn tâm thần chiếm 90% (trong đó trầm cảm chiếm 46%) [50]. Tự sát
nguyên nhân do trầm cảm không giảm, mà còn có xu hướng tăng cao hơn
nhiều bệnh lý khác.
1.2.2. Ở Việt Nam
Ở Việt nam, hơn một thập kỷ gần đây vấn đề sức khoẻ tâm thần nói
chung và trầm cảm nói riêng được đề cập đến nhiều hơn, đã có nhiều công
trình nghiên cứu về trầm cảm ở các khía cạnh khác nhau.
Theo Ngô Ngọc Tản và Cao Tiến Đức (2001), rối loạn trầm cảm chiếm
3,4% khi điều tra các bệnh tâm thần ở một phường thuộc khu vực thành thị. Lã
Việc chẩn đoán đúng mức độ ảnh hưởng của những sang chấn tâm lý này sẽ
rất có ích trong điều trị trầm cảm.
Giai đoạn từ 19 tuổi đến 29 tuổi, là giai đoạn cuộc sống có nhiều áp lực
như: học tập căng thẳng, công việc khó khăn, không có việc làm, tình trạng
thất nghiệp, đời sống thiếu thốn. Đồng thời, đặc điểm tâm lý ở giai đoạn này
có nhiều biến động không ổn định. Đó là những yếu tố đóng vai trò quan
trọng trong rối loạn trầm cảm ở thanh niên độ tuổi này [11].
8
1.3.1.2. Do các nguyên nhân là bệnh lý thực tổn, các rối loạn thoái triển
hoặc do sử dụng các chất gây nghiện và thuốc ức chế tâm thần
Bệnh lý thực tổn não được thừa nhận là đóng vai trò quan trọng và phổ
biến trong lâm sàng tâm thần học người cao tuổi. Nhưng là nguyên nhân ít
gặp trong lâm sàng rối loạn trầm cảm ở tuổi thanh niên.
Robert C. Baldwin (1993) nêu ra 50% các bệnh nhân đột quỵ cấp có
các biểu hiện trầm cảm rõ rệt trên lâm sàng. Tỷ lệ trầm cảm ở bệnh nhân
Alzheimer là 15 – 40% [48].
Các chất gây nghiện hoặc các chất tác động tâm thần:Như Heroin,
Amphetamin (thuốc lắc), rượu, thuốc lá v.v Đặc điểm chung của các chất
này là giai đoạn đầu thường gây kích thích, sảng khoái, hưng phấn nhưng sau
đó thường rơi vào trạng thái trầm cảm, mệt mỏi, uể oải, giảm sút và ức chế
các hoạt động tâm thần (giai đoạn ức chế).
Đặc biệt, lứa tuổi từ 19 đến 29, là lứa tuổi rất nhạy cảm, dễ bị lôi kéo.
Trong xã hội hiện nay, tình trạng lứa tuổi này sử dụng các chất gây nghiện và
các chất tác động tâm thần có xu hướng ngày càng tăng. Theo báo cáo của Bộ
Lao động Thương binh và Xã hội về tình hình sử dụng ma tuý ở Việt nam
năm 2011: gần 70% người nghiện ma túy ở độ tuổi dưới 30 tuổi (năm 1995 tỷ
lệ này chỉ khoảng 42%). Hơn 95% người nghiện ma túy ở Việt Nam là nam
giới. Tuy nhiên, tỷ lệ người nghiện là nữ giới cũng đang có xu hướng tăng
trong những năm qua[5]. Do vậy, sử dụng ma tuý và các chất tác động tâm
thần cũng là một trong những căn nguyên quan trọng gây nên trầm cảm ở lứa
Homovanillic acid [HVA], 3-methoxy-4-hydroxyphenylglycol [MHPG] trong
máu, nước tiểu, dịch não tủy ở những bệnh nhân rối loạn khí sắc [38], [40],
[44], [54].
10
- Norepinephrin:
Sự tương quan được chỉ ra bởi các nghiên cứu sự điều chỉnh của thụ
cảm β - adrenergic và những đáp ứng lâm sàng của thuốc CTC cho thấy vai
trò trực tiếp của hệ thống noradrenergic trong trầm cảm. Trong trầm cảm, mật
độ thụ thể β - adrenergic giảm sút đáng kể so với người bình thường. Bằng
chứng khác cũng thấy có sự liên quan đến receptor trước synape β
2
-
adrenergic trong trầm cảm, khi hoạt hoá thụ thể này sẽ làm giảm bớt lượng
norepinephrine được giải phóng. Receptor trước synape β
2
- adrenergic được
xác định nằm trên các neuron thần kinh serotonergic và điều hoà lượng
serotonin. Hiệu quả lâm sàng các thuốc CTC tác dụng lên noradrenergic như
Sertraline làm tăng cường vai trò của norepinephrine trong sinh lý bệnh các
triệu chứng của trầm cảm [40], [54].
- Serotonin: Người ta nhận thấy trong rối loạn trầm cảm, nồng độ Serotonin
tại khe synap thần kinh ở vỏ não giảm sút so với người bình thường (có
trường hợp chỉ còn bằng 30% so với người bình thường). Bên cạnh đó, nồng
độ các sản phẩm chuyển hóa của Serotonin trong máu, trong dịch não tủy
cũng giảm thấp. Giảm Serotonin có thể làm suy nhược cơ thể nặng thêm và
một số bệnh nhân có ý tưởng thôi thúc tự sát, có sự giảm tập trung các chất
chuyển hóa Serotonin ở dịch não tủy và giảm tập trung ở vị trí hấp thụ
Serotonin trên tiểu cầu. Tác dụng ức chế chọn lọc tái hấp thu Serotonin
(SSRIs) như Fluoxetine sẽ làm tăng nồng độ Serotonin ở khe synap và có tác
dụng trong điều trị trầm cảm. Hơn nữa SSRIs và các thuốc CTC khác giải
sự liên quan đến tăng cortisol máu làm ảnh hưởng khả năng nhận thức do
stress mạn tính [8], [40].
12
1.3.2.2. Các thuyết về những bất thường thần kinh nội tiết
Hoạt động của hệ limbic có vai trò trung gian liên quan đến các trạng
thái cảm xúc điều khiển giải phóng các hormone tuyến yên - một tuyến quan
trọng trong hệ thống nội tiết các hệ trục: "Dưới đồi - tuyến yên - tuyến giáp"
(HPT), "dưới đồi - tuyến yên - thượng thận" (HPA) và "dưới đồi - tuyến yên -
tuyến sinh dục" (HPGH). Hormone tăng trưởng (GH) khi bị rối loạn sẽ dẫn
đến thay đổi về nội tiết và có liên quan đến RLCX. Sự bài tiết GH tăng về
đêm và giảm trong ngày, GH giảm đáp ứng với Clonidine và Apomorphine
xảy ra ở các bệnh nhân trầm cảm. Sự tăng hoạt động của hệ trục HPA được
nhận thấy ở ít nhất 50% bệnh nhân trầm cảm: khi mất điều hòa hệ thống HPA
làm tăng cortisol trong máu dẫn tới làm giảm serotonin. Test giảm
Dexamethasone không đặc hiệu cho bệnh trầm cảm. Rối loạn hoạt động của
trục HPT cũng được nhận thấy ở bệnh nhân trầm cảm: TRH của vùng dưới
đồi kích thích tuyến yên giải phóng TSH - có vai trò điều hòa sản xuất
hormone tuyến giáp T3, T4. Khi TSH tăng cao dẫn tới rối loạn cảm xúc lưỡng
cực. Khoảng 4% bệnh nhân rối loạn cảm xúc có tăng nồng độ TSH, hơn nữa
có khoảng 25 - 70% bệnh nhân giảm đáp ứng TSH đối với TRH [6], [17].
Một số nghiên cứu nhận thấy rối loạn trầm cảm hay gặp ở phụ nữ, các
giai đoạn trầm cảm thường xuất hiện liên quan với các thời kỳ dậy thì, có thai,
sau sinh đẻ, chu kỳ kinh nguyệt [17].
1.3.2.3. Các giả thuyết về di truyền
Các yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của rối
loạn trầm cảm. Các nghiên cứu về gia đình và các cặp sinh đôi ủng hộ giả
thuyết này[51]. Những người họ hàng mức độ 1 của bệnh nhân trầm cảm có
nguy cơ bị trầm cảm cao hơn người bình thường từ 2-3 lần.
- David nhận thấy bố mẹ, anh chị em ruột và con cái của những bệnh
nhân bị trầm cảm nặng có nguy cơ bị rối loạn này lên đến 10 - 15% so với nguy
đựng mọi thua thiệt, bị tước đoạt và thất bại.[2].
Các sự kiện sang chấn trong cuộc sống:
Các sang chấn tâm lý thường là nguyên nhân hoặc yếu tố khêu gợi
trạng thái trầm cảm nhẹ như trầm cảm phản ứng, cũng có thể stress là nguyên
nhân và là yếu tố làm nặng thêm các trường hợp trầm cảm nặng. Paykel
(1978) và Brown cùng cộng sự (1973) thấy nguy cơ phát bệnh trầm cảm tăng
6 lần trong 6 tháng kể từ khi trải qua những biến cố bất lợi liên quan đến cuộc
sống của cá nhân và gia đình như: mất mát do chết chóc, đổ vỡ trong tình yêu
hoặc tổn thất lớn về kinh tế, mất việc, sự xúc phạm nặng nề, bệnh cơ thể
nặng, mạn tính [26]. Tình trạng hôn nhân tan vỡ, thất nghiệp kéo dài và tự sát
là cũng phổ biến. Các báo cáo từ nhiều quốc gia cho thấy có 8- 20% những
người rối loạn cảm xúc nghiện rượu kết thúc cuộc sống của họ bằng tự sát
(Ritson 1977) [36]. Có khi có những hành vi vi phạm pháp luật từ nhẹ như
gây rối trật tự xã hội đến hành vi giết người [36].
Thuyết hành vi - nhận thức[2].
Peter Lewinsohn cho rằng trầm cảm xuất hiện là do có những hoạt
động tích cực (positive reinforcements) trong cuộc sống hàng ngày tác động
vào,sự tác động này có thể xảy ra theo hai cách:
- Môi trường thiếu các hoạt động tích cực
- Do một người không thể tiếp cận được với những hoạt động tích cực (ví
dụ như ở trong môi trường cách ly do đó các kỹ năng xã hội nghèo nàn).
Martin Seligman đã phát triển học thuyết “không được giúp đỡ tập
nhiễm” (learned helplessness) từ những thí nghiệm trên động vật. Từ đó, ông
cho rằng trầm cảm xuất hiện là do sự mất kiểm soát (có thể thật sự hoặc do
tưởng tượng) đối với những sự kiện tiêu cực hàng ngày trong cuộc sống.
15
Aaron Beck đã phát triển học thuyết nhận thức hành vi (cognitive
behavioural theory) về trầm cảm. Ông cho rằng trầm cảm được hình thành là
do bệnh nhân diễn giải sai lệch những sự kiện trong cuộc sống. Điểm cốt
lõi của học thuyết này bao gồm bộ ba nhận thức trong trầm cảm, đó là:
thường hay ngồi hoặc nằm lâu ở một tư thế, trường hợp nặng có thể có bất động.
1.4.1.2. Theo Bảng Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD 10) của Tổ
chức Y tế Thế giới [20].
Rối loạn trầm cảm là một giai đoạn rối loạn khí sắc kéo dài ít nhất là 2
tuần. Giai đoạn trầm cảm được chia thành các mức độ khác nhau như: GĐTC
nhẹ, GĐTC vừa, GĐTC nặng và kèm theo các triệu chứng loạn thần hay các
triệu chứng cơ thể. Tiêu chuẩn chẩn đoán giai đoạn trầm cảm dựa vào 3 triệu
chứng đặc trưng và 7 triệu chứng phổ biến.
* 3 triệu chứng đặc trưng bao gồm: khí sắc trầm, mất mọi quan tâm và
thích thú, giảm năng lượng dẫn đến tăng mệt mỏi và giảm hoạt động.
* 7 triệu chứng phổ biến bao gồm:
- Giảm sút sự tập trung, chú ý.
17
- Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin.
- Xuất hiện những ý tưởng bị tội và không xứng đáng.
- Nhìn vào tương lai ảm đạm, bi quan.
- Ý tưởng và hành vi tự hủy hoại cơ thể hoặc tự sát.
- Rối loạn giấc ngủ: Bệnh nhân thường mất ngủ vào cuối giấc.
- Ăn ít ngon miệng.
Ngoài ra bệnh nhân còn có biểu hiện của mất hoặc giảm khả năng tình
dục, các triệu chứng của lo âu, rối loạn thần kinh thực vật. Trong những
trường hợp trầm cảm nặng bệnh nhân có thể xuất hiện hoang tưởng tự buộc
tội, hoang tưởng về những tai họa sắp xảy ra hoặc ảo thanh với những lời kết
tội, phỉ báng, ảo khứu với mùi thịt thối rữa.
1.4.2. Chẩn đoán trầm cảm (Theo ICD 10)
1.4.2.1. Chẩn đoán giai đoạn trầm cảm
* Chẩn đoán giai đoạn trầm cảm: dựa vào những triệu chứng sau
3 triệu chứng đặc trưng:
+ Khí sắc trầm
+ Mất mọi quan tâm và thích thú
nhiên, nếu như bệnh nhân có kích động hoặc chậm chạp tâm thần vận động rõ
rệt thì khó có thể mô tả các triệu chứng khác một cách chi tiết. Do đó, trầm
cảm nặng vẫn được chẩn đoán trong trường hợp này. Nếu các triệu chứng
trầm cảm xuất hiện nặng nề và khởi phát nhanh thì thời gian dùng để chẩn
đoán có thể < 2 tuần. Trong giai đoạn trầm cảm nặng bệnh nhân không thể
tiếp tục sinh hoạt và làm việc được.
Trong trầm cảm mức độ nặng được phân thành hai loại là trầm cảm
mức độ nặng không có các triệu chứng loạn thần và trầm cảm mức độ nặng có
các triệu chứng loạn thần. Các triệu chứng loạn thần có thể là hoang tưởng
19
liên quan đến những ý nghĩ về sự nghèo đói, tội lỗi hoặc những thảm họa sắp
xảy ra mà bệnh nhân là người gây ra nó. Ảo giác có thể là ảo thanh với lời lẽ
kết tội, phỉ báng bệnh nhân hoặc ảo giác khứu giác với mùi thịt thối rữa.
1.4.2.2. Chẩn đoán trầm cảm tái diễn
Biểu hiện đặc trưng bởi sự lặp đi lặp lại những giai đoạn trầm cảm đã
được biệt định như giai đoạn trầm cảm nhẹ, giai đoạn trầm cảm vừa hoặc giai
đoạn trầm cảm nặng. không có rối loạn khí sắc đáng kể. Bao gồm các nhóm
nhỏ sau[20]:
Rối loạn trầm cảm tái diễn, hiện tại giai đoạn nhẹ
Có đủ tiêu chuẩn cho một rối loạn trầm cảm tái diễn và giai đoạn hiện
nay phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn cho giai đoạn trầm cảm nhẹ.
Rối loạn trầm cảm tái diễn, hiện tại giai đoạn vừa
Có đủ tiêu chuẩn cho một rối loạn trầm cảm tái diễn và giai đoạn hiện
nay phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn cho giai đoạn trầm cảm vừa.
Rối loạn trầm cảm tái diễn, hiện tại giai đoạn nặng không có các triệu
chứng loạn thần.
Có đủ tiêu chuẩn cho một rối loạn trầm cảm tái diễn và giai đoạn hiện
nay phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn cho giai đoạn trầm cảm nặng không kèm theo
các triệu chứng loạn thần.
Rối loạn trầm cảm tái diễn, hiện tại giai đoạn nặng có các triệu chứng
- Tuổi thơ ấu: Trước tuổi 14
- Tuổi trưởng thành: 15 – 42 tuổi
- Tuổi già: 43 – 63 tuổi
21
Theo WHO:
- Tuổi vị thành niên: 10 – 19 tuổi
- Tuổi thanh niên: 19 – 24 tuổi
Tuy nhiên, trên thế giới, các nước khác nhau cũng quy định độ tuổi
thanh niên khác nhau. Có nước quy định từ 15 – 30 tuổi, có nước quy định
tuổi thanh niên “trần” là 29 tuổi (Trung Quốc) hoặc 35 (Bangladesh).
- Tuổi trưởng thành: Mỗi thời kỳ khác nhau, mỗi dân tộc khác nhau có
độ tuổi trưởng thành khác nhau. Ngày nay, do trình độ khoa học kỹ thuật ngày
càng phát triển, đời sống con người được nâng cao, tuổi thọ con người được
kéo dài hơn. Yêu cầu lao động đòi hỏi kỹ thuật công nghệ cao, thời gian học
tập kéo dài, độ tuổi trưởng thành của con người chậm hơn. [29]. Theo các nhà
tâm lý học, thời kỳ đầu tuổi trưởng thành bắt đầu từ khoảng tuổi 20 và kéo dài
đến khoảng 40 tuổi. Trong thời kỳ phát triển này, sự thay đổi cơ thể diễn ra
chậm hơn và ít rõ ràng hơn so với các giai đoạn trước. Điểm đặc biệt ở giai
đoạn này là sự biến đổi rất phức tạp của các yếu tố xã hội đòi hỏi con người
phải có sự thích ứng về tâm lý với những biến đổi đó [34]. Levison cho rằng:
sự trưởng thành của cá nhân trong giai đoạn đầu tuổi trưởng thành là giai
đoạn giải quyết các cuộc xung đột tuổi vị thành niên đi tìm vị trí của mình
trong xã hội của người trưởng thành, hình thành các khuôn mẫu ứng xử ổn
định. Giai đoạn này được chia thành 3 giai đoạn nhỏ: giai đoạn chuyển tiếp
từ tuổi vị thành niên sang tuổi trưởng thành, giai đoạn thâm nhập vào thế giới
người lớn và giai đoạn chuyển thành người lớn. Những khủng hoảng của cá
nhân khi gặp khó khăn có thể diễn ra ở bất kỳ giai đoạn nào đó trong 3 giai
đoạn trên[7].
Như vậy, giai đoạn từ 19 đến 29 tuổi là thời kì đầu tuổi trưởng thành,
thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi vị thành niên lên tuổi trưởng thành. Điểm đặc biệt
23
2.3. Đặc điểm phát triển tâm lý xã hội giai đoạn từ 19 – 29 tuổi
Trong sự phát triển tiếp diễn suốt cuộc đời. Con người phải trải qua các
giai đoạn, thời kì với những đặc điểm tâm sinh lí khác nhau. Khác với quá
trình phát triển ở tuổi vị thành niên, quá trình phát triển ở thời kỳ từ 19 đến 29
tuổi, là thời kì đầu trưởng thành (hay còn gọi là thời trưởng thành trẻ tuổi) có
những thay đổi rất phức tạp trong nhận thức, tư duy, thái độ… Sự thay đổi đó
phụ thuộc vào hoàn cảnh xã hội, văn hoá và nền giáo dục của từng cộng đồng,
từng dân tộc, trong các thời đại khác nhau mà cá nhân đó sống và hoạt động.
Dấu hiệu đặc trưng của độ tuổi này là khả năng phản ứng với những
thay đổi và thích nghi với các điều kiện mới. Trong cuộc sống hàng ngày, cần
phải đưa ra những quyết định và vượt qua những khó khăn một cách độc lập
nhất định, việc giải quyết các khó khăn mâu thuẫn, các vấn đề nảy sinh trong
hoạt động sống một cách tích cực [7], [14], [34].
Năm 1985, Birren và Cunningham đã xác định các thời kì phát triển
của người trưởng thành theo “Ba yếu tố cấu thành độ tuổi” đó là: Sinh học, xã
hội và tâm lí. Trong mỗi một nền văn hoá, xã hội khác nhau, có các đặc điểm
tâm sinh lý, độ tuổi của người trưởng thành cũng khác nhau. Các yếu tố này
có quan hệ mật thiết với nhau. Thế nhưng không phải cả ba yếu tố này xuất
hiện cùng một thời điểm trong mỗi con người, mà ở người này yếu tố tâm lí,
xã hội hình thành trước yếu tố sinh học, ở người khác yếu tố sinh học lại hình
thành trước yếu tố tâm lí xã hội… Những công trình nghiên cứu về xã hội
học, tâm lý học trên thế giới cho thấy sự chín muồi sinh học thường diễn ra
sớm hơn yếu tố tâm lý, xã hội. Việc ba yếu tố này có quan hệ mật thiết với
nhau nhưng không chín muồi cùng một thời điểm cũng gây ra không ít khó
khăn cho mỗi cá nhân con người. Nó là một trong những nguyên nhân gây
nên sự khủng hoảng tâm lí lứa tuổi này. Đây là một giai đoạn ảnh hưởng lớn
nhất đến đời sống của con người [1], [16].
24
Giai đoạn từ 19 – 29 tuổi, các chức năng tâm lý có nhiều thay đổi, đặc