khảo sát một số yếu tố liên quan đến nấm candida gây bệnh niêm mạc âm đạo - Pdf 23

ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ và độ ẩm cao là
điều kiện thuận lợi cho vi nấm phát triển và dễ dàng gây nhiễm nấm ở người.
Bên cạnh đó, xu hướng ngày càng gia tăng các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh
sản (Reproductive tract infection– RTI) và bệnh lây truyền qua đường tình dục
(Secxually transmitted infection - STI), đặc biệt trước sự bùng nổ đại dịch
HIV/AIDS. Vì vậy, tỷ lệ các bệnh do nhiễm nấm cơ hội ngày càng gia tăng [3].
Trong đó, viêm âm đạo do nấm hiện đang là một vấn đề quan trọng của chăm
sóc sức khỏe sinh sản. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thông thường
nhất là phụ nữ trong thời kỳ sinh đẻ và có tỷ lệ mắc bệnh cao trong cộng đồng
(56). Klein Catherine (2002) thấy khoảng 70-75% phụ nữ nhiễm nấm âm đạo ít
nhất 1 lần trong đời và hơn một nửa trong số họ bị tái phát hàng năm (50).
Theo Phạm Thị Lan (2009) và cộng sự nghiên cứu thấy tỷ lệ nhiễm Candida
âm đạo cao nhất trong các tác nhân viêm ĐSD, chiếm khoảng 26% (59).
Biểu hiện lâm sàng nhiễm nấm ở vùng niêm mạc sinh dục thường
không đặc hiệu như: Ngứa, đau rát, viêm trợt niêm mạc, tiết dịch, chảy máu…
Bệnh ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Nếu bệnh
không điều trị đúng và kịp thời có thể diễn biến dai dẳng, tiến triển nặng nề
gây nhiều biến chứng ảnh hưởng đến các cơ quan phủ tạng thậm chí gây vô
sinh hoặc tử vong (10). Nguyên nhân điều trị thất bại liên quan đến các yếu tố
như: cơ thể vật chủ, sử dụng thuốc và vi nấm gây bệnh. Trong đó, các yếu tố
liên quan đến vật chủ thường có vai trò quan trọng đưa đến hiện tượng kháng
thuốc (26).
Những năm gần đây, cùng với việc ứng dụng những thành tựu mới của y
học hiện đại như: Ghép tạng, dùng thuốc ức chế miễn dịch, hoá trị, xạ trị điều
trị ung thư, các bệnh rối loạn chuyển hoá (tiểu đường, suy tuyến giáp…), sử
dụng kháng sinh hoạt phổ rộng, corticoid kéo dài thiếu kiểm soát, Trong đó
có việc sử dụng rộng rãi các thuốc kháng nấm đang là vấn đề đáng lo ngại.
Trên thực tế lâm sàng đã có nhiều trường hợp không đáp ứng với kháng sinh
kháng nấm [1], [2], [3]. Nhiều nghiên cứu khác nhau chỉ ra rằng: nhiễm nấm
1

2. Xác định các chủng Candida spp gây bệnh niêm mạc âm đạo
3. Đánh giá độ nhaỵ cảm chủng Candida spp với một số kháng sinh
kháng nấm.
2
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Bệnh do Candida sp được viết trong y văn từ thời Hypocrate và Galen
dưới những tên gọi khác nhau như: Monilia, Candida…Năm 1792, Frank mô
tả lâm sàng căn bệnh này. Năm 1894, Wilkinson xác định các triệu chứng lâm
sàng của bệnh liên quan với căn nguyên do nấm. Đến 1923 Berkhout mô tả rất
chi tiết nấm này dưới tên thống nhất Candida [27]
1.1. Đặc điểm nấm Candida (Yeast - Levure) [49, 25, 26, 60- l]
Candida là một nấm men tồn tại khá phổ biến trong thiên nhiên, ký sinh trên
người và súc vật. Ngày nay, nấm Candida là một trong những căn nguyên gây
bệnh thường gặp nhất.(C)
- Candida thuộc chi nấm men, họ Cryptococcaceae.
- Tồn tại trạng thái đơn bào, có nhân chuẩn.
- Hình dạng: Là nấm không màu, vách ngăn rộng, hình tròn hoặc hình bầu
dục, đôi khi gặp dạng sợi hoặc vô định hình.
- Kích thước dao động từ 3 – 10 µm, thông thường lớn hơn gấp 10 lần so
với vi khuẩn.
- Sinh sản vô tính theo phương thức nảy chồi. Khi bào tử chồi được sinh
ra theo dạng tuyến tính không phân cắt thì hình thành nên cấu trúc gọi là giả
sợi nấm.
- Khả năng thích nghi môi trường đường cao
- Tồn tại trong thiên nhiên, trong các môi trường chứa đường như hoa
quả, rau dưa, mật mía…
- Có hơn 300 loài Candida sp gây bệnh, trong đó loài C.albicans hay gặp
nhất [25], tiếp theo gặp C.glabrata, C.tropicalis, C.krusei, ít gặp hơn là
C.parasillosis, C. guilliermondii, C.dublliensis

cản các vi sinh vật ngoại lai xâm nhập từ ngoài vào âm đạo.
- Candida thuộc vi hệ tuy nhiên có thể bền vững hoặc thoáng qua. Bình
thường có thể tìm thấy Candida ký sinh ở trên da, trong họng miệng, đường
tiêu hoá, âm đạo… mà không gây bệnh, chúng sống cộng sinh và cân bằng
trong vi hệ bình thường. Candida thực sự gây bệnh cho người khi cơ thể suy
giảm miễn dịch và có yếu tố thuận lợi (39), (11)
- Có nhiều loài Candida, mỗi loài khác nhau có độc tính khác nhau nên
khả năng gây bệnh và độ nhạy cảm kháng sinh chống nấm cũng khác nhau [5].
- Các loài Candida tồn tại được trong môi trường niêm mạc âm đạo, đầu
tiên chúng phải bám dính được vào tế bào biểu mô niêm mạc. Sau đó, xâm
nhập vào tế bào biểu mô âm đạo nhờ men phân huỷ protein đặc hiệu do
Candida tiết ra. Đối với C.albicans có khả năng bám dính và xâm nhập vào tế
bào biểu mô niêm mạc cao hơn các loài Candida khác. Điều này đã lý giải vì
sao nhiễm Candida niêm mạc âm đạo chủ yếu do loài C.albicans gây ra (8)
(28).
- Khi vi nấm xâm nhập → thích nghi → nhân lên → phá hủy → gây bệnh.
Khả năng đề kháng của cơ thể đóng vai trò quan trọng trong việc chống lại sự
xâm nhập trước các tác nhân gây bệnh của nấm. Nó bao gồm hai cơ chế bảo
vệ:(2,6 H)
+ Miễn dịch không đặc hiệu: Sự nguyên vẹn của da, niêm mạc, hệ vi sinh
vật hội sinh, các tế bào thực bào…. Ngoài ra, còn có sự tham gia các globulin
miễn dịch và bổ thể. Những cơ chế này có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ
cơ thể chống lại những bệnh do nhiễm nấm cơ hội và những chủng nấm có độc
lực yếu.
+ Miễn dịch đặc hiệu: Có sư tham gia của đáp ứng miễn dịch trung gian tế
bào và dịch thể. Trong đó, miễn dịch trung gian tế bào đóng vai trò quan trọng
5
hơn. Các tế bào lympho T mẫn cảm sản sinh các lymphokine hoạt hóa đại thực
bào. Các đại thực bào được hoạt hóa đóng vai trò quyết định trong việc chống
lại nấm gây bệnh. Nhiều nghiên cứu miễn dịch học nấm cho thấy rằng những

+ Nhiễm nấm Candida ở ống tiêu hoá
Nấm gây bệnh ở thực quản là một trong những biểu hiện ban đầu bệnh
nhân HIV/AIDS. Khoảng 10% bệnh nhân AIDS bị các suy giảm miễn dịch
khác có nhiễm kèm Candida thực quản. Biểu hiện triệu chứng thường là khó
nuốt, sút cân, hội chứng suy mòn có thể tử vong. Nhiễm nấm Candida đường
ruột gây tiêu chảy kéo dài.
+ Nhiễm nấm Candida hô hấp.
Nấm Candida có thể gây viêm thanh quản, tắc nghẽn khí quản, viêm phổi
hoặc phế quản phổi. Chẩn đoán xác định căn cứ sinh thiết nhu mô phổi. Tuy
nhiên, cần phải nuôi cấy để phân biệt với Paracoccidiomycose.
+ Nhiễm nấm Candida tim.
Có thể viêm màng ngoài tim sau mổ. Viêm nội tâm mạc do Candida.
Ngoài ra, những nguời đặt van tim nhân tạo hoặc nghiện heroin là yếu tố thuận
lợi viêm nội tâm mạc do Candida.
+ Nhiễm nấm Candida huyết
Chủ yếu gặp bệnh nhân có bệnh lý ác tính như lympho Hogdkin hoặc
không Hogdkin. Người nghiện ma tuý, bị bỏng rộng là yếu tố thuận lợi cho
nhiễm Candida huyết. Bệnh cảnh lâm sàng diễn biến nặng nề, nguy kịch. Bệnh
nhân có thể tử vong rất nhanh. (52)
Vào những năm 1988-1990, một nghiên cứu tại Pháp cho thấy tỷ lệ nhiễm
Candida spp huyết trong các bệnh cảnh lâm sàng chủ yếu do C.albicans chiếm
tới 80,3%, C.glabrata 0,1%, C.krusei chiếm 0%. Nhưng sau 10 năm người ta
7
thấy C.albicans chiếm 53,2% còn C.glabrata chiếm tới 27,1%, C.krusei chiếm
1,4% [51]
Ngoài ra, Candida có thể xâm nhập vào thần kinh trung ương, mọi bộ
phận của mắt như nhãn cầu, kết mạc, gây mù loài vĩnh viễn (5)
1.3.4. Nhiễm nấm Candida đường sinh dục nam:
Nhiễm nấm đường sinh dục do Candida không được coi là bệnh lây
truyền qua đường tình dục, nhưng có tới 12-15% nam giới bị lây nhiễm sau khi

phụ nữ ít nhất một lần trong đời bị nhiễm nấm Candida âm hộ - âm đạo và
khoảng 40 – 45% trong số đó bị từ 2 lần trở lên.(7 - Hg)
- Theo Oterol Placio nhận thấy tỷ lệ nhiễm nấm âm đạo trên tổng số bệnh
nhân STI là 18,5%(63) hg
- Một nghiên cứu khác ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai, có tỷ lệ nhiễm
nấm Candida âm đạo khoảng 25%.(38)
- Một nghiên cứu khác thấy rằng 30% phụ nữ điều trị bằng kháng sinh
kéo dài bị viêm âm đạo do Candida .(38) hg
- Vùng Kwazuzu Natal thuộc Nam Phi có một nghiên cứu ở 145 gái mại
dâm, người ta thấy tỷ lệ nhiễm nấm âm đạo khá cao. Trong đó,
C. albicans là 40,6% (47)Hg
- Iavazzo C., Vogiatzi C., Falagas M.E(2008): Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ
nhiễm nấm Candida âm đạo khá cao, khoảng 42,5% trong các căn nguyên
viêm âm đạo nói chung.(50)
- Ở Mỹ, những dữ liệu từ năm 1979-1981 cho thấy; nấm sinh dục là căn
nguyên thứ hai gây nhiễm trùng âm đạo theo sau bệnh viêm âm đạo do vi
khuẩn (BV). Năm 1990 có khoảng 1,3 triệu phụ nữ Mỹ bị nhiễm nấm sinh dục
9
được công bố trong y văn. Nhiễm nấm Candida âm đạo không được coi là một
bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhưng có 12-15% nam giới bị lây nhiễm
sau khi quan hệ với những người phụ nữ đó.(http…)
- Victo Silva (2011): Tỷ lệ nhiễm Candida sinh dục dao động khoảng 5-30%
- Klein Cathesine cho rằng vấn đề không chỉ chẩn đoán và điều trị viêm
âm đạo do nấm Candida sp mà cần thiết phải xem xét tình trạng tái phát [50]
* Tại Việt Nam
- Nguyễn Thị Đào nhiễm Candida đường sinh dục ở phụ nữ khoẻ mạnh
25-30%, còn ở phụ nữ có thai 40-50% [13]
- Phạm Văn Hiển và Nguyễn Duy Hưng (2000): Tỷ lệ nhiễm nấm âm đạo
17,4% trên tổng STIs (14)
- Đàm Thị Hoà tại Viện Da liễu ( 1996-1998): Tỷ lệ Candida ânm đạo là

+ Một số bệnh chuyển hóa
Có sự liên quan giữa các bệnh chuyển háo đến tình trạng gia tăng sự phát
triển nấm men trong âm đạo, đặc biệt bệnh tiểu đường. Khi mắc tiểu đường
sự chế tiết glycogen của tế bào biểu mô âm đạo suy giảm. Đồng thời,
lượng đường tăng cao làm thay đổi pH âm đạo. Do đó, bệnh tiểu đường
làm tăng nguy cơ nhiễm nấm men
+ Chu kỳ kinh nguyệt:
Thành phần của dịch tiết âm đạo phụ thuộc nhiều vào tình trạng nội tiết sinh
dục. Sự biến đổi hoocmon buồng trứng đã kích thích sự tăng sinh nấm men.
Trên thực tế lâm sàng thường gặp các triệu chứng viêm âm hộ- âm đạo do nấm
vào tuần thứ 3 và thứ 4 của chu kỳ kinh nguyệt.
11
Một nghiên cứu đại học Leeds thấy rằng nồng độ hoocmon buồng trứng tăng
cao giai đoan nửa sau chu kỳ kinh có ảnh hưởng đến các tế bào âm đạo và môi
trường sống của chúng. Điều đó, tác động trực tiếp đến sự phát triển của nấm
men .(33 - Hàng)
+ Đang có thai
Trong thai kỳ, nồng độ hoocmon tăng cao nhất là vào khoảng tháng thứ 7 và
thứ 9. Lượng hoocmon tăng đã làm cho môi trường axit của âm đạo bị thay
đổi, tế bào biểu mô tăng chế tiết glycogen. Do đó, tạo môi trường thuận lợi
nấm men phát triển và gây bệnh.
+ Thời kỳ mạn kinh sẽ gây tình trạng chung là thiếu kích thích niêm mạc
âm đạo chế tiết Oestrogen, dẫn đến teo biểu mô lát và làm gia tăng pH âm đạo.
+ Nhiễm HIV/AIDS
Tình trạng suy giảm hệ thống miễn dịch mắc phải ( HIV/AIDS) dẫn đến việc
thiếu hoặc mất kiểm soát của hệ miễn dịch tạo điều kiện cho những vi sinh vật
sống trong vi hệ bùng phát gây bệnh cơ hội. Đặc biệt, nhiễm nấm cơ hôi do
Candida thường gặp nhất. Những bệnh nhân này không tử vong ngay bởi căn
bệnh thế kỷ mà chủ yếu do các nhiễm trùng cơ hội. Vì vậy, việc tìm kiếm và
điều trị nhanh các nhiễm trùng cơ hôi là điều cần thiết kéo dài sự sống cho

móng và quanh móng tay, miệng lưỡi, đường ruột đều có thể lây sang âm
đạo. (33- hg)
- Thói quen thụt rửa âm đạo
+ Thói quen thụt rửa âm hộ và âm đạo bằng dung dịch sát khuẩn hay những
sản phẩm vệ sinh chứa chất khử mùi. Đều cho thấy tỷ lệ viêm nhiễm âm đạo cao,
đặc biệt nhiễm nấm âm đạo chiểm tỷ lệ cao nhất (58). Bởi vì động tác thụt rửa
13
không đúng gây lên sang chấn cơ học tại chỗ, đồng thời tổn thương lớp màng
nhày bảo vệ âm hô, âm đạo. Đặc biệt những chất sát khuẩn mạnh có khả năng
tiêu diệt cả vi sinh vật có lợi và có hại. Gây mất cân bằng vi hệ tạo thuận lợi vi
nấm men nhân lên và gây bệnh.
Theo Phạm Thị Lan và cộng sự (2009) nhận thấy rằng nguy cơ nhiễm nấm
Candida âm đạo rất cao ở những phụ nữ có thói quen thụt rửa âm đạo thường xuyên.
1.3.5.4. Vai trò Lactobacilli trong viêm âm đạo do Candida
Môi trường âm đạo không phải là môi trường vô trùng. Trái lại, trung
bình có khoảng 6 loại vi trùng khác nhau, đa số là vi trùng kỵ khí, trong đó
đáng kể là nhóm Lactobacili. Trong quá trình chuyển hóa, nhóm vi khuẩn này
sử dụng glycogen của lớp tế bào biểu mô âm đạo tạo thành acid lactic và tạo
nên môi trường acid cho âm đạo. Đồng thời, chủng vi trùng này còn tạo ra
H202, là một tác nhân diệt trùng tự nhiên và đồng thời làm tăng nồng độ acid
của âm đạo.
Các chủng vi khuẩn trong âm đạo sống chung một cách hòa bình và
không gây hại cho âm đạo. Khi sự cân bằng giữa các nhóm vi khuẩn bị phá
vỡ, viêm nhiễm âm đạo sẽ dễ xảy ra.(12-BV HV)
Biến động chủng vi trùng thường trú, đặc biệt là nhóm lactobacili có ảnh
hưởng đáng kể đến pH âm đạo và tình trạng viêm nhiễm âm đạo.
Một thí nghiệm khảo sát biến động của vi trùng thường trú âm đạo được
tiến hành sau khi dùng Povidine thụt rửa âm đạo đã cho kết quả như sau (14-
bv hV):
Chủng vi trùng Sau 10 phút Tiếp sau đó

Phù nề, trợt loét, có thể viêm lộ tuyến.
Cổ tử cung phủ một lớp màng trắng như màng giả lấy ra dễ dàng
15
Biến chứng:
Khi viêm âm đạo lây lan đến lớp tế bào tuyến cổ trong cổ tử cung, có khả
năng sẽ lây lan đến lớp niêm mạc tử cung và vòi trứng. Do đó, có khả năng gây
viêm nhiễm vùng chậu và tắc vòi trứng gây vô sinh.(BV HV)
1.5. Chẩn đoán xác định
1.5.1 Dựa vào dấu hiệu lâm sàng
- Triệu chứng cơ năng
- Triệu chứng thực thể
1.5.2 Cận lâm sàng
- Xét nghiệm soi tươi và nhuộm Gram tìm nấm (Quy trình chuẩn)
- Nuôi cấy và định loại nấm Candida bằng quy trình cải tiến
- Kháng sinh đồ nấm: Kỹ thuật khoanh giấy kháng sinh khuyếch tán trên thạch
với một số khoanh giấy kháng nấm mới và kháng sinh hiện hành
1.6. Điều trị
1.6.1. Nguyên tắc điều trị:
• Loại trừ các bệnh lý cũng như nguy cơ STDs nhằm có biện pháp điều trị
hữu hiệu, tránh lây lan và di chứng đến khả năng sinh sản.
• Khảo sát kết hợp niệu - sinh dục để có chẩn đoán đầy đủ và chính xác,
đồng thời điều trị toàn diện và hiệu quả.
• Lưu ý tìm tình trạng viêm nhiễm sinh dục trên (tình trạng viêm cổ tử
cung, đau hạ vị, đau phần phụ).
1.6.2. Chế độ ăn uống, sinh hoạt
- Không ăn: thức ăn chứa nhiều đường và dễ lên men
- Không uống: thuốc tránh thai, thuốc kháng sinh, các thuốc chứa
corticosteroid
- Nên ăn: Rau xanh, thịt, sữa chua
- Hạn chế quan hệ tình dục trong thời gian bị nấm, dùng BCS

nhưng do vẫn còn một số độc tố và bào tử nấm chưa bị tiêu diệt hết. Chúng
vẫn có khả năng kích thích âm đạo đồng thời kết hợp với một trong các yếu tố
thuận lợi làm bệnh lại tái diễn [12].
Một thăm dò chéo, khảo sát như yếu tố tâm lý liên quan những phụ nữ
nhiễm nấm Candida âm đạo tái phát mạn tính. Các tác giả nhận thấy những
người phụ nữ này liên quan đến trạng thái tinh thần dễ bị trầm cảm.
Ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống, đặc biệt trong trường hợp viêm
nhiễm do chủng nấm kháng thuốc, bệnh dai dẳng hay tái phát.
Một nghiên cứu khác ở 80 phụ nữ đến khám thai, phát hiện 14 người có
triệu chứng nhiễm nấm Candida âm đạo tái phát.
Sau khi khảo sát tác giả thấy: Đã tồn tại dai dẳng một kiểu gen của nấm Candida.
Kiểu gen này đã thay đổi về hình thái và tính chất ngay trong môi trường có thuốc
chống nấm [35]
1.8. Vấn đề kháng thuốc
Tình trạng thuốc đặt âm đạo được xem như thuốc OTC, cho phép mua
và sử dụng dễ dàng đã tạo thuận lợi cho bệnh nhân trong điều trị. Tuy nhiên,
tình trạng này cũng đã đưa đến tình trạng kháng thuốc, đặc biệt đối với nhóm
nấm men gây bệnh.
Đinh nghĩa kháng thuốc
Một vi nấm được coi là đề kháng khi nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của
vi nấm đó cao hơn nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của các chủng vi nấm khác
cùng loài đó. Các mức độ của MIC xác định cho tính nhạy cảm, tính trung gian
và tính đề kháng đối với mỗi loài vi nấm. Và được một phòng thí nghiệm độc
lập xác định thông qua viện nghiên cứu các tiêu chuẩn phòng thí nghiệm và
lâm sàng (CLSI) cập nhật đều đặn hàng năm.
18
Thực tế một chủng được gọi là “đề kháng” khi nồng đọ kháng sinh mà
vi nấm có thể chịu đựng được tăng cao hơn nồng độ kháng sinh đạt được
trong cơ thể sau khi dùng thuốc.
Tóm lại hiện tượng một vi nấm được coi là đề kháng với kháng sinh khi

Nên làm thử nghiệm xác định mức độ nhạy cảm nấm men với kháng sinh
chống nấm trong một số trường hợp khuyến cáo trong những trường hợp sau:
- Nhiễm Candida bề mặt
+ Chỉ những trường hợp thất bại về lâm sàng, không nên sử dụng cho bắt
đầu điều trị.
- Nhiễm Candida spp và Trichosporon spp xâm nhập
+ Nên làm kháng sinh đồ khi bắt đầu điều trị và khi xuất hiện dấu hiệu
của thất bại điều trị
- Nhiễm Cryptococcus
+ Chỉ khi thấy thất bại điều trị
- Với Amphotericin-B chỉ nên làm khi có vấn đề về điều trị
+ Các trường hợp khác nên thảo luận với các bác sỹ phòng xét nghiệm [26]
Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu nhằm đánh giá sự nhạy cảm
các chủng nấm Candida sp với kháng sinh chống nấm như:
- Kỹ thuật E – Test (AB Biodisk), CLSI/ M 38-A2
Hạn chế: Các kỹ thuật đó có giá thành cao và phức tạp, không áp dụng
trên phạm vi rộng.
- Kỹ thuật so màu (Colorimetrix Panel): Fungifast, ATB Fungus
Fungitest (Bio-rad)
20
Tại bệnh viện Da liễu TW có đề tài nghiên cứu Đỗ Thị Hằng (2003)
nhưng chỉ là bước đầu đánh giá độ nhạy cảm của chủng nấm với các kháng
sinh hiện hành bằng kỹ thuật Fungitest. Tuy nhiên, kỹ thuật này nhiều hạn chế.
 Hạn chê: Có rất ít loại thuốc chống nấm và mỗi loại thuốc chỉ có hai
nồng độ. Rất hạn chế trong việc phát hiện kháng thuốc (R: Resitants) [26]
Vì vậy, nghiên cứu xây dựng quy trình chuẩn nhằm xác định loài nấm
Candida gây bệnh là bước đầu tiên quan trọng trong việc xác định độ nhạy
cảm của chủng nấm với các kháng sinh chống nấm hiện hành và kháng sịnh
chống nấm mới đang được các nhà y học trên thế giới ưa dùng. Từ đó, giúp các
thầy thuốc lâm sàng chẩn đoán chính xác căn nguyên gây bệnh và tìm được

- Bệnh nhân biểu hiện viêm âm đạo và xét nghiệm soi trực tiếp tìm nấm
dương tính.
- Phụ nữ tuổi 15-49
- Không dùng thuốc kháng nấm trước đó 05 ngày
2.1.3 Tiêu chẩn loại trừ
- Bệnh nhân biểu hiện viêm niêm mạc âm đạo nhưng xét nghiệm nấm
âm tính.
- Bệnh nhân đang trong thời kỳ kinh nguyệt hoặc ra máu
- Bệnh nhân không hợp tác
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứư: Nghiên cứu mô tả, tiến cứu.
23
2.2.2. Mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu cho nghiên cứu tỷ lệ và các yếu tố liên quan nhiễm nấm
Candida âm đạo
n = Z
2
1-α/2

( )
2
)(
1
ε
p
pp

n: cỡ mẫu cho nghiên cứu tỷ lệ nhiễm nấm Candida .
Z
1-α/2

24
2.2.3.2 Xác định loài nấm Candida và độ nhạy cảm với một số kháng sinh
chống nấm
- Lựa chọn bệnh nhân theo tiêu chuẩn: khoảng 100 bệnh nhân
+ Bệnh nhân bị tái phát ( trên 4 lần một năm)
+ Điều trị dai dẳng, kéo dài có biểu hiện kháng thuốc
2.2.4. Biến số nghiên cứu
Tuổi, giới, nghề nghiệp, địa dư, trình độ, các yếu tố liên quan của BN
nhiễm nấm Candida sp. Tỷ lệ các chủng Candida sp phân bố niêm mạc âm
đạo. Xác định các chủng Candida sp thường gặp và tình trạng kháng thuốc của
các chủng nấm đó.
2.2.5. Kỹ thuật thu thập số liệu
Thu thập số liệu theo mẫu bệnh án thống nhất (phụ lục)
2.2.6. Quy trình thu thập số liệu
- Nghiên cứu tỷ lệ và khảo sát các yếu tố liên quan nấm Candida sp
niêm mạc âm đạo: Khám theo mẫu bệnh án nghiên cứu (Phụ lục)
- Tỷ lệ nhạy cảm: Xét nghiệm trực tiếp, nuôi cấy định loại và làm KSĐ
Sơ đồ 3: Quy trình thu thập số liệu
Bệnh nhân viêm da, niêm mạc
Khám lâm sàng
Xét nghiệm
(-) (+)
Nuôi cấy và phân loại
Kết quả KSĐ

Tỷ lệ nhiễm Candida sp
25
Khuyếch tán trên thạch


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status