ĐẶT VẤN ĐỀ
Chửa ngoài tử cung (CNTC) là một cấp cứu sản khoa không chỉ đe
dọa đến tính mạng bệnh nhân gây nguy cơ tử vong cao do mất máu mà
còn ảnh hưởng sâu sắc đến sức khỏe trong tương lai và hạnh phúc gia
đình của người phụ nữ. CNTC đang tăng cả trong và ngoài nước, đặc biệt
là CNTC đang có xu hướng “trẻ hoá” với hơn 60.0% bệnh nhân bị CNTC
có tuổi dưới 30, trong đó có rất nhiều người chưa có con, vì vậy CNTC
không chỉ đơn thuần là một vấn đề lớn về sức khỏe cho ngành y tế mà
còn là một vấn đề quan trọng tại cộng đồng cho xã hội kinh tế, sinh sản
và chất lượng dân số [1].
Mặc dù đã được tăng cường về giáo dục, truyền thông và tư vấn về
nguyên nhân, các triệu chứng lâm sàng cũng như xét nghiệm để phát hiện
cũng như dự phòng để hạn chế sự tăng tần suất nhưng số lượng CNTC
ngày vẫn tăng một cách đáng báo động.
Theo Trung tâm phòng và kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ, tần suất
CNTC tính theo thai nghén năm 1970 là 4,5/1.000 đã tăng lên 19,7/1.000
thai nghén vào năm 1995. Do có nhiều tiến bộ về chẩn đoán và điều trị vì
vậy mặc dù tần suất CNTC tăng, nhưng tỷ lệ tử vong do CNTC giảm rất
đáng kể. Theo De Cherney và Meyer, tần suất tử vong do CNTC đã từ
3,5/1.000 thai nghén đã giảm xuống 0,4/1.000 thai nghén [2]. Berg và
cộng sự đã đưa tỷ lệ tử vong mẹ do CNTC chiếm 10% tử vong liên quan
đến thai sản.
Nghiên cứu của Vương Tiến Hòa [3], chỉ trong 4 năm (1992-1995),
CNTC tại Bệnh viện Phụ sản (BVPS) Hải Phòng tăng 87%, BVPS
Thanh Hóa 156%, còn Viện Bảo vệ bà mẹ trẻ sơ sinh (nay là BVPS
Trung ương) là 100% .
CNTC đang tăng và sẽ tăng rất nhanh trong những năm tới. Theo
thống kê của Phòng kế hoạch Tổng hợp của một số Bệnh viện phụ sản
trong năm 2011 như sau: Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ trong năm 2011 là
3.559, Bệnh viện Hùng Vương là 2.669, BVPSTW là 2.326 và BVPS Hà
Nội là 2258.
buồng tử cung. Noãn thường được thụ tinh ở 1/3 ngoài vòi tử cung, rồi di
chuyển về buồng tử cung. Nếu trứng không di chuyển hoặc di chuyển về
hướng tử cung rồi dừng lại giữa đường, hoặc bị đẩy ra ngoài vòi tử cung để
làm tổ tại buồng trứng hay trong ổ bụng hoặc ở cổ tử cung, sẽ gây ra chửa
ngoài tử cung.
Như vậy bất kỳ một một hình thái nào mà phôi thai không nằm trong
buồng tử cung như chửa tại sẹo mổ tử cung ngay cả khi một phần túi thai nằm
trong buồng tử cung hoặc là phôi thai làm tổ ở ống CTC thì vẫn là CNTC.
CNTC có nhiều hình thái và vị trí làm tổ khác nhau, tuy nhiên chửa tại vòi tử
cung chiếm tỷ lệ cao nhất.
Tử cung
Buồng trứng
Đoạn kẽ
Eo VTC
Bóng VTC
Vòi TC
Ổ bụng
Eo tử cung
Loa VTC
CTC
Dây chằng
Chửa ở ống cổ tử cung là khối thai nằm trong ống cổ tử cung. Chẩn
đoán và điều trị chửa ở ống cổ tử cung đã tiến bộ rất nhiều trong 15 năm
qua. Trước năm 1990, chửa ở ống CTC chỉ được chẩn đoán khi nong
CTC và nạo phá thai bởi vì những triệu chứng rất giống như sảy thai vì
vậy khi tiến hành nạo phá thai, chảy máu nhiều mới chẩn đoán là chửa ở
ống CTC. Nguy cơ chảy máu trong khi nong và nạo CTC rất cao vì vậy
phần lớn là cắt tử cung hoàn toàn để cầm máu, cứu sống tính mạng người
phụ nữ. Chẩn đoán chửa ở CTC trước khi biến cố chảy máu đã xảy ra gặp
nhiều khó khăn và thường gặp ở những thày thuốc ít kinh nghiệm đặc biệt là
cm ở phụ nữ đã sinh đẻ. Được chia làm ba đoạn: thân tử cung, eo tử cung và
cổ tử cung.
+ Thân tử cung: Dài 4 cm, rộng 4,5 cm lúc chưa đẻ. Là đoạn 3/4 trên
phình to ra, có phần trên tương ứng với đáy tử cung, giới hạn bởi hai bên là
sừng tử cung, ở đây có dây chằng tròn và dây chằng tử cung buång trứng dính
vào.
+ Eo tử cung: Dài 0,5 cm, là chỗ thắt chen vào giữa thân và cổ tử
cung.
+ Cổ tử cung: Là đoạn 1/4 dưới, hẹp, đi từ eo tử cung đến lỗ ngoài tử
cung.
* Hướng: 2/3 số trường hợp có tử cung ngả trước hay gập trước.
Thân tử cung hợp với cổ tử cung thành một góc 120
0
, thân tử cung ngả ra
trước đối với âm đạo theo một góc 90
0
.
Ngoài ra, thân tử cung còn thay đổi theo hướng tuỳ theo từng cá
nhân, tuỳ theo bàng quang, trực tràng đầy hay vơi.
1.1.1.2.Cổ tử cung:
CTC là 1/4 dưới của tử cung, là một đoạn đặc biệt của tử cung, dài
2,5cm được giới hạn phía trong (cực trên), nơi tiếp giáp với eo tử cung là
lỗ trong và giới hạn phía ngoài (cực dưới) là lỗ ngoài trông thẳng với âm
đạo. Buồng CTC được xác định là khoảng cách từ lỗ trong và lỗ ngoài. Ở
người chưa đẻ, buồng CTC có hình trụ còn ở người đã đẻ, buồng CTC là
hình nón cụt, đỉnh quay vào trong, đáy quay ra ngoài và lỗ ngoài thường
hé mở.
Dựa vào chỗ bám của âm đạo với CTC, người ta chia CTC làm 3
phần.
- Phần trên âm đạo : dài chừng 1,5 cm.
cấu trúc giữa thân và CTC có một đoạn chuyển tiếp là eo tử cung dài
10mm.
- Niêm mạc CTC được chia làm hai loại: phía bên ngoài CTC
(phần nằm trong âm đạo: niêm mạc ngoài) và phần trong CTC (buồng
CTC: niêm mạc trong).
- Buồng CTC được lợp bằng lớp liên bào trụ (biểu mô trụ). Từ lỗ ngoài
CTC liên tiếp với âm đạo được bao phủ bằng lớp liên bào lát tầng (biểu mô
vẩy).
1.1.2. Động mạch tử cung:
Động mạch của tử cung là một nhánh của động mạch hạ vị. Dài 13
- 15 cm, cong queo, lúc đầu động mạch chạy ở thành bên chậu hông, rồi
chạy ngang tới eo tử cung, sau cùng lật lên trên chạy dọc theo bờ ngoài tử
cung để lật ngang dưới vòi tử cung tiếp nối với động mạch buồng trứng.
1.1.3. Vòi tử cung:
Vòi tử cung là một ống dẫn có nhiệm vụ đưa noãn và trứng về
buồng tử cung, bắt đầu mỗi bên từ sừng tử cung tới sát thành chậu hông,
một đầu mở vào ổ bụng, một đầu thông với buồng tử cung.
Vòi tử cung dài từ 10 – 12 cm .Lỗ thông với tử cung nhỏ 3 mm, lỗ
thông với ổ phúc mạc toả rộng như một cái loa, kích thước 7 – 8 mm.
Vòi tử cung được chia làm 4 đoạn:
- Đoạn kẽ: nằm trong thành tử cung, chạy chếch lên trên và ra
ngoài khoảng 1 cm, khẩu kính rất hẹp dưới 1 mm.
- Đoạn eo: tiếp theo đoạn kẽ, chạy ra ngoài, dài khoảng 2 – 4 cm,
đây là phần cao nhất của vòi tử cung, khẩu kính 1 mm.
- Đoạn bóng: dài khoảng 5 – 7 cm chạy dọc bờ trước của buồng
trứng, nối giữa đoạn eo và đoạn loa, lòng ống không đều do những nếp
gấp cao của lớp niêm mạc. Đoạn bóng là nơi noãn và tinh trùng gặp nhau
để tạo nên hiện tượng thụ tinh.
- Đoạn loa: là đoạn tận cùng của vòi tử cung dài khoảng 2 cm, toả
hình phễu có từ 10 – 12 tua, mỗi tua dài khoảng 1 – 1,5 cm, dài nhất là
những bệnh nhân với các yếu tố nguy cơ [22].
- Do thụ tinh trong ống nghiệm: Sự gia tăng về tỷ lệ thụ tinh trong
ống nghiệm dường như cũng góp phần tăng chửa ở ống CTC vì khi được
chuyển vào buồng tử cung, phôi không thể bám ngay vào niêm mạc
buồng tử cung, hoặc là ở những người chưa có kinh nghiệm đã để phôi
dính ở đầu catheter khi chuyển phôi hoặc là phôi có thể từ buồng tử cung
rơi xuống và gây chửa ở ống CTC.Thai làm tổ ở ống cổ tử cung, trong ổ
bụng cũng được ghi nhận sau khi thụ tinh trong ống nghiệm và chuyển
phôi (Brenner 1993, Brinsden 1993).Một số báo cáo trường hợp gần đây
cũng đã ghi nhận có sự gia tăng tỷ lệ có thai ở ống cổ tử cung ở phụ nữ thụ
tinh trong ống nghiệm, Weyerman PC, Verhoeven ATM, Alberda AT [23]
Trong thực tế lâm sàng các nghiên cứu nhận thấy chửa ở ống CTC tăng có
thể liên quan phụ nữ có tiền sử nạo tử cung và việc sử dụng các phương
pháp điều trị can thiệp vô sinh.
- Ngoài ra, tỷ lệ chửa ở ống CTC dường như được tăng lên do việc
chẩn đoán sớm do được phát hiện qua siêu âm đường âm đạo hoặc là
một số trong đó thai tự thoái triển một cách tự nhiên. Làm rõ vai trò
của các yếu tố nguy cơ khác nhau sẽ đòi hỏi một nghiên cứu hồi cứu
lớn với kiểm soát số lần xuất hiện thích hợp.
1.3. Triệu chứng chửa ở ống CTC:
1.3.1. Những triệu chứng lâm sàng cổ điển của chửa ở ống CTC [1]:
- Thường là chậm kinh bởi vì từ khi phôi di chuyển từ vòi tử cung
xuống đến CTC và làm tổ tại ống CTC cũng là một thời gian dài.
- Ra huyết trong những tuần đầu của thai kỳ nhưng không gây đau
đớn là triệu chứng hay gặp do bong gai rau hoặc là sự xâm lấn của tế
bào nuôi vào thành của ống CTC. Có thể ra nhưng phần lớn ra ra máu
nhiều, ồ ạt mà thường bị chẩn đoán là sảy thai băng huyết, thậm chí có
thể gây choáng do mất máu, trụy mạch. Tính chất của máu là máu đỏ
tươi và nhiều máu cục nếu đang chảy máu cấp và ồ ạt.
- Đau bụng: khác với các thể CNTC khác, chửa ở ống CTC thường
mềm hơn một cách không bình thường qua eo tử cung.
- Hai phần phụ mềm mại, không có khối và cùng đồ sau không
đầy, không đau.
Năm 1983, Rubin[7] đưa ra tiêu chuẩn về lâm sàng để chẩn đoán
chửa ở ống CTC như sau:
- Ra máu âm đạo không kèm theo đau bụng.
- CTC căng phồng nhưng thành CTC mỏng.
- Lỗ ngoài CTC hé mở.
- Thân tử cung bình thường hay hơi to hơn bình thường nằm phía trên
CTC.
Trước khi có siêu âm thì chẩn đoán lâm sàng có thai ở cổ tử cung rất
khó khăn. Thường chẩn đoán nhầm là thai sắp sảy, hoặc đang sảy thai,
hoặc chorio sau nạo thai, hoặc u xơ tử cung.
1.3.3. Các xét nghiệm và thăm dò:
1.3.3.1. Xét nghiệm hCG[25]:
- hCG (human chorionic gonadotropin) là hormone hướng sinh dục
rau thai được chế tiết từ những tế bào lá nuôi của bánh rau. Có mặt trong
máu hoặc trong nước tiểu ở thời kỳ thai nghén.
Về cấu tạo: hCg là một glycoprotein, phân tử hCG được tạo ra từ
hai tiểu đơn vị anpha (α) và bêta (β). Chuỗi α có cấu tạo giống chuỗi α
của LH và TSH, chuỗi β đặc hiệu cho hCG là cơ sở cho việc định lượng
chất này.
hCG bắt đầu được chế tiết vào cuối giai đoạn phôi dâu khi các
nguyên bào được biệt hoá và phát hiện trong huyết thanh vào ngày thứ 6
– 8 sau thụ tinh. Trước khi phôi nang làm tổ, hCG được tiết ra bởi hợp
bào nuôi và lúc đó đơn bào nuôi lông rau không còn chế tiết hCG nữa.
Phần lớn lượng hCG được tiết ra bởi nguyên bào nuôi và giải phóng vào
trong máu mẹ khoảng 50mUI/ml khoảng một tuần sau khi trứng làm tổ,
khoảng 100mUI/ml vào ngày chậm kinh đầu tiên. Nồng độ hCG tăng dần
trong vòng 60 – 90 ngày đầu thai nghén. Trong thai nghén bình thường,
định chửa ở ống CTC, đặc biệt là chẩn đoán phân biệt giữa một sảy thai
hoặc phá thai dở dang với chửa ở ống CTC.
* Raskin [28] chẩn đoán thai ở ống cổ tử cung bằng siêu âm đầu tiên
trên thế giới năm 1978. Độ chính xác của siêu âm là 81% so với chẩn đoán lâm
sàng là 21%.
Tiêu chuẩn chẩn đoán siêu âm của Raskin.
1. Thân tử cung trống và nội mạc thân tử cung mỏng.
2. Cổ tử cung căng phồng lên làm tử cung có dạng “ đồng hồ cát”.
3. Thai, rau nằm trọn ở cổ tử cung.
4. Đa số tim thai dương tính, còn chửa ở vòi tử cung chỉ có 5 -
10% có tim thai dương tính mà thôi.
5. Rau phải xâm lấn vào mô cổ tử cung.
6. Nếu dùng Doppler màu thì có thể phát hiện dòng chảy động
mạch quanh rau ở đoạn cổ tử cung, còn thân tử cung thì không thấy có
dòng chảy.
Năm 1993, Timor-Tritsch và cộng sự [29] đưa ra hai hình ảnh siêu
âm có giá trị hơn trong chửa ở ống CTC là các tiêu chí nghiêm ngặt hơn:
+ Rau thai và túi thai phải nằm dưới lỗ trong CTC.
+ Hình ảnh CTC dãn rộng như hình ảnh một chiếc thùng chứa rượu.
Chẩn đoán có thể gặp khó khăn trong thai kỳ đầu khi chưa có hoạt động tim
thai.
Theo Vương Tiến Hòa (2012) [1] hình ảnh điển hình và đặc hiệu về
siêu âm đường âm đạo để chẩn đoán chửa ở CTC bao gồm:
+ Buồng tử cung rỗng, không có túi thai và niêm mạc mỏng
+ CTC căng phồng tạo với thân tử cung thành hình đồng hồ cát.
+ Thai và rau nằm trong ống CTC, bên dưới lỗ trong cổ tử cung.
+ Tim thai có hoặc không (đa số là có tim thai).
+ Các gai rau xâm lấn vào lớp cơ tử cung.
+ Doppler màu thấy được dòng chảy của mạch máu tại nơi rau bám ở CTC.
* Hình ảnh siêu âm chửa ở ống cổ tử cung của Phan Trường
1.4. Chẩn đoán phân biệt [1]:
- Dễ gặp nhất cần chẩn đoán phân biệt chửa ở ống CTC với sảy
thai. Với một sảy thai thường có đầy đủ các dấu hiệu có thai, ra huyết và
đau bụng, Tuy nhiên trên lâm sàng hay nhầm lẫn với sảy thai dở dang,
cho rằng phôi thai đang sảy và nằm lại CTC nên cũng có hình ảnh đồng
hồ cát do CTC to, căng phồng và ra huyết. Năm 1996, Jukovic và cộng sự
[32] đưa hai tiêu chuẩn về siêu âm đường âm đạo để chẩn đoán phân biệt
sảy thai với chửa ở ống CTC đó là dấu hiệu trượt của khối thai:
+ Khi người siêu âm đẩy đầu dò mạnh vào CTC thi khối thai trượt
vào lòng TC nếu là sảy thai, còn chửa ở ống CTC thì không có dấu hiệu
này.
+ Doppler màu thì dấu hiệu tăng sinh mạch máu và dòng chảy
quanh rau thai chỉ gặp ở chửa ở ống CTC mà không có trong sảy thai.
- Những túi thai sẩy vào CTC được Timo-Tritsch[39] mô tả như
hình “chiếc mũ tai bèo”, còn những thai làm tổ trong buồng CTC luôn có
dạng hình tròn hoặc oval.
- Một trường hợp tuy ít gặp hơn đó là ung thư biểu mô tuyến ở
CTC vì CTC cũng to và mềm, ra huyết ít một, nhưng tuổi người bệnh
thường nhiều hơn và không có những dấu hiệu của thai nghén.
1.5. Hậu quả và các phương pháp điều trị [1]:
Do cấu tạo của CTC nên thai không thể phát triển như trong
buồng tử cung mà đến một tuổi thai nào đó sẽ gây chảy máu. Vì có hai
mạch máu cổ tử cung âm đạo cho nên khi sẩy, khối phôi thai bong dở
dang sẽ gây chảy máu dữ dội. Xử trí khối thai CTC và cầm máu gặp
nhiều khó khăn, nhiều khi máu chảy không cầm bắt buộc phải mở bụng
thắt các mạch máu cung cấp máu cho CTC. Tuy nhiên cũng nhiều
trường hợp thất bại, để cứu tính mạng của bệnh nhân, đành cắt tử cung
hoàn toàn sẽ làm ảnh hưởng nặng nề đến sinh sản của bệnh nhân.
1.5.1. Xử trí chửa ở CTC[1], [10]:
Lựa chọn một phương pháp điều trị thích hợp chửa ở ống CTC
Nguyên tắc là phải đặt sự an toàn, bảo đảm sự sống cho bệnh nhân lên hàng
đầu. Mặt khác khi cắt tử cung hoàn toàn cũng phải chú ý để tránh thắt vào
niệu quản do CTC phình to, làm thay đổi giải phẫu của niệu quản. Gần đây
y văn cũng đề cập đến nút mạch để cầm máu nhưng hiệu quả cũng không
cao.
* Giảm thiểu phôi [1], [10], [24], [33]:
Kỹ thuật này được thực hiện qua đường âm đạo, dưới sự hướng
dẫn của siêu âm đầu dò âm đạo. Cần tư vấn cho người bệnh về kỹ thuật
đình chỉ phôi thai và thực hiện khi có cam kết của người bệnh.
Kỹ thuật:
- Siêu âm đầu dò âm đạo để xác định chính xác vị trí túi thai có
phôi và tim thai.
- Dùng kim chọc hút gắn lên cần mang kim chọc qua âm đạo dưới
hướng dẫn của siêu âm đầu dò âm đạo, vào túi thai đến phôi thai.
- Sau khi kim vào đến phôi thai, dùng một syringe 10ml gắn vào
kim tạo một lực hút lên phôi. Hút lặp lại nhiều lần cho đến khi toàn bộ
hay phần lớn mô phôi thai được hút ra ngoài (trung bình thời gian hút cho
một trường hợp khoảng 5-10 phút nếu người làm đã nắm vững kỹ thuật).
Tránh hút nước ối để có thể quan sát rõ phôi thai trong suất quá trình thực
hiện và dễ theo dõi sau này. Trong hầu hết các trường hợp, phần âm phôi
mất hoàn toàn hay còn rất nhỏ, túi thai vẫn còn nguyên kích thước hay
hơi nhỏ đi một chút.
* Điều trị nội khoa chửa ở ống CTC bằng Methotrexate:
Điều trị nội khoa CNTC không phải là vấn đề mới. Năm 1982,
Tanaka[33] là người đầu tiên đã báo cáo trường hợp điều trị CNTC thành
công bằng Methotrexate (MTX) ở Mỹ. Giữa những năm 80 người ta đã
tiến hành thử nghiệm với Prostaglandin, Glucose ưu trương, các kháng
thể đơn dòng kháng HCG, Kaliclorua và cuối cùng là RU468
(Mifepristone). Từ đó đến nay trải qua hơn hai thập kỷ, điều trị CNTC
bằng MTX được áp dụng ở các nước Âu- Mỹ, hiện nay vẫn là thuốc được
Thành công khi nồng độ βhCG giảm và kích thước khối thai nhỏ rồi mất
hẳn chỉ để lại tổ chức sẹo ở CTC.
- Các chỉ định điều trị nội CNTC bằng thuốc MTX của Tạ Thị
Thanh Thuỷ [22]:
+ CNTC chưa vỡ, hàm lượng βhCG nhỏ hơn 5000 mUL/ml.
+ Không có tình trạng chảy máu trong ổ bụng hay lượng máu trong
ổ bụng ít hơn 250 ml (ước lượng trên siêu âm).
+ Kích thước túi thai nhỏ hơn 4cm, không có hoạt động tim thai
khi khám siêu âm.
+ Huyết động ổn định, chức năng gan thận bình thường.
* Theo L. Smith chỉ định điều trị nội khoa CNTC 2008[34]:
- Bệnh nhân còn mong muốn có thai.
- Nồng độ βhCG dưới 1500mUI/ml.
- Huyết động ổn định.
- Khối chửa nhỏ hơn 3,5cm.
- Các trường hợp chửa ở cổ tử cung hoặc CNTC.
- Siêu âm đầu dò âm đạo không thấy khối thai trong tử cung với
nông độ βhCG > 2000UI/ml.
- Nạo hút buồng tử cung không thấy tổ chức rau thai.
- Nồng độ progesteron máu dưới 5,0ng/ml.
+ Liều lượng:
Có thể là liều duy nhất theo tác giả Stovall[35]: 50mg/m
2
da
(1mg/kg), hoặc liệu trình 5 ngày cách nhau mỗi tuần.
Sau khi tiêm liều thứ nhất cần theo dõi lượng βhCG trong vòng
một tuần, nếu không giảm hơn 15% so với ban đầu hoặc cao hơn có thể
dùng liều thứ hai. Tối đa có thể dùng ba liều. Trong thực tế lượng βhCG
có thể tăng lên 50% vào ngày 4 - 7 sau tiêm lần một rồi sau đó mới giảm
xuống. Điều trị MTX được coi là thất bại nếu kể từ 24 giờ sau khi tiêm
1.6. Các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam:
Chửa ở CTC đã được y văn thế giới đề cập và nghiên cứu rất
nhiều, tuy nhiên ở Việt Nam chỉ mới được đề cập đến trong hai thập kỷ
qua. Lê Hoài Chương (năm 1995) thông báo 5 trường hợp chửa ở CTC,
chẩn đoán bị nhầm lẫn với sảy thai, chảy máu không cầm phải cắt tử cung
hoàn toàn [8]. Mãi tới năm 2002, Lê Thị Sáu công bố một trường hợp
chửa ở CTC tại Khoa Sản bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng [21]. Năm 2004,
Nguyễn Viết Tiến báo cáo lâm sang một trường hợp chửa ở CTC điều trị
nội khoa thành công [32]. Võ Thành Ngọc (2006), nghiên cứu giá trị siêu
âm đầu dò âm đạo trong chẩn đoán chửa ở CTC [31]. Năm 2010, Nguyễn
Đình Tời, Nguyễn Bích Vân tổng kết về chửa ở CTC tại BVPSTW [36].
Điều trị bảo tồn chửa ở CTC bằng MTX và diệt phôi đã được đề cập và
áp dụng trong những năm vừa qua. Tạ Thanh Thủy, Phạm Võ Thùy Linh
[24] nghiên cứu điều trị chửa ở CTC bằng MTX tại bệnh viện Hùng
Vương (2010). Nguyễn Thanh Hoài[9], Nguyễn Thị Hương Nga[10]
nghiên cứu về điều trị nội khoa chửa ở CTC tại BVPSTW, tuy nhiên chưa
có công trình nào nghiên cứu về chửa ở CTC trong 5 năm để đánh giá
một cách có hệ thống, tương đối toàn diện và đánh giá sự tiến bộ về chẩn
đoán, điều trị cũng như các phác đồ để có thể áp dụng trong lâm sàng, vì
vậy nghiên cứu này là cần thiết và các kết quả nghiên cứu sẽ rất có giá trị
trong thực tế.
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu:
Là những người bệnh được chẩn đoán là chửa ở cổ tử cung.
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu này thu thập hồ sơ bệnh án của người bệnh được chẩn
đoán chửa ở cổ tử cung vào điều trị tại BVPSTW từ 01/01/ 2008 đến
31/12/2012 dựa vào hồ sơ lưu trữ tại bệnh viện có các thông tin sau:
- Những bệnh nhân được chẩn đoán là chửa tại CTC.
+ Đặt dụng cụ tử cung.
+ Điều trị vô sinh.
+ Mổ bóc nhân xơ.
+ Mổ tạo hình TC.
+ Mổ u nang buồng trứng.
+ Viêm phần phụ.
- Triệu chứng lâm sàng:
+ Triệu chứng toàn thân: Dấu hiệu choáng.
. Có choáng: Mạch ≥ 90l/p, HA ≤ 90/60 mmHg.
. Không choáng: Mạch < 90l/p, HA ≥ 90/60 mmHg.
+ Triệu chứng cơ năng:
. Chậm kinh: có chậm kinh, số ngày chậm kinh, ra máu đúng kỳ
kinh.
. Tính chất ra máu âm đạo: màu sắc, số lượng, thời gian ra
máu.
. Có đau bụng hay không.