đánh giá kết quả phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng - cùng đặt dụng cụ liên gai sau (intraspine) tại bệnh viện việt đức - Pdf 23

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng là một bệnh lý thường gặp với dấu
hiệu chính là đau, hạn chế vận động vùng cột sống thắt lưng kèm theo triệu
chứng chèn ép rễ thần kinh. Theo thông báo của Hội cột sống học Hoa Kỳ
tháng 6 năm 2005 bệnh thoát vị đĩa đệm thắt lưng chiếm 2-3% dân số, bệnh
thường gặp ở lứa tuổi từ 30-50, nam mắc nhiều hơn nữ. Trong nghiên cứu của
Trần Ngọc Ân, đau thần kinh tọa chiếm 11,2% số bệnh nhân vào điều trị tại
khoa Cơ – Xương – Khớp Bệnh viện Bạch Mai ( 1991 – 2000 ) [1,2].
Ngày nay với sự hỗ trợ của công nghệ chẩn đoán hình ảnh đặc biệt là
chụp cộng hưởng từ, chẩn đoán xác định và đánh giá các nguyên nhân thoát
vị đĩa đệm đã trở nên dễ dàng và chính xác.
Có nhiều phương pháp điều trị TVDD như nội khoa, phục hồi chức
năng, can thiệp phẫu thuật… Phẫu thuật thoát vị đĩa đệm kinh điển là lấy
nhân thoát vị giải ép rễ thần kinh. Tuy nhiên các nghiên cứu cho thấy phương
pháp này làm giảm chiều cao gian đĩa, tăng lực tải lên diện khớp do đó gây
đau lưng mạn tính kéo dài, mất vững và trượt đốt sống sau mổ.
Để hạn chế những vấn đề trên, năm 1994, lần đầu tiên dụng cụ cố định
động cột sống phía sau (Posterior Dynamic Stabilization-PDS ) được đưa vào
ứng dụng và có các thử nghiệm lâm sàng đầy đủ ở Mỹ và Châu Âu [42]. Các
công trình nghiên cứu cho thấy, giải ép lấy thoát vị kết hợp đặt dụng cụ liên
gai sau sẽ làm giảm đau lưng sau mổ do giảm tải được cho các diện khớp
và đĩa đệm, nâng chiều cao khoang gian đĩa và lỗ liên hợp, làm chậm tốc
độ thoái hóa đoạn liền kề. Ngoài ra đây cũng là một kỹ thuật ít xâm lấn,
thời gian phẫu thuật và hồi phục của bệnh nhân ngắn.
Tại Việt Nam, dụng cụ cố định động liên gai sau đã được Bệnh viện
Việt Đức đưa vào ứng dụng hỗ trợ điều trị phẫu thuật bệnh lý thoát vị đĩa đệm
cột sống thắt lưng - cùng từ năm 2010, việc tìm hiểu đánh giá hiệu quả điều
2
trị của dụng cụ là rất cần thiết. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
“Đánh giá kết quả phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng - cùng

phẫu thuật vi phẫu cắt đĩa đệm, các bệnh nhân này chủ yếu là các vũ công.
Ông nhận thấy sau phẫu thuật họ trở lại sàn diễn rất nhanh. Maroon [52] qua
nghiên cứu 2500 ca phẫu thuật vi phẫu cắt đĩa đệm có một vài nhận xét: đây
4
là phẫu thuật nhanh, thời gian trung bình từ 30 phút đến 1 giờ. Khoảng 90%
bệnh nhân sau mổ giảm đau từ tốt đến rất tốt. Tỷ lệ biến chứng như tổn
thương rễ, rách màng cứng dưới 1.5%. Tỷ lệ phải mổ lại theo dõi lâu dài sau
5-10 năm là dưới 5%. Tỷ lệ thành công từ 88% đến 98.5% qua nhiều tác giả
báo cáo. Maroon cho rằng đây là phương pháp có kết quả tốt hơn các phương
pháp trước đây ông đã áp dụng như tiêm tinh chất đu đủ, cắt đĩa đệm qua da
tự động , phẫu thuật mổ mở.
Phẫu thuật nội soi được Kambin [47] phát triển và trở thành một phương
pháp được nhiều phẫu thuật viên về chấn thương chỉnh hình ưa chuộng vì hệ
thống nội soi trên nguyên lý của nội soi khớp. Phương pháp này cũng được
một số tác giả như Anthony Yeung, Martin Knight, Sang Ho Lee, Thomas
Hoogland ủng hộ. Hiện nay, với hệ thống nội soi mới nhất cho phép lấy được
cả các thoát vị đã vỡ và di rời trong ống sống, điều mà trước kia mọi người
nghĩ là chỉ có mổ mở mới giải quyết được.
Nhìn chung phẫu thuật nội soi đem lại nhiều ưu điểm như: thời gian
nằm viện ngắn (1-2 ngày), phương pháp mổ an toàn (vì bệnh nhân tỉnh nên
khi dụng cụ chạm hoặc cạnh tổ chức thần kinh sẽ thấy đau hoặc tê chân), sau
mổ đau rất ít (vì tổn thương phần mềm ít nhất), bảo vệ được các thánh phần
phía sau của cột sống (không làm mất vững).
Nucleoplasty là một kỹ thuật ít xâm lấn nhằm làm giảm áp lực nội đĩa
đệm bằng cách sử dụng công nghệ coblation. Công nghệ coblation là một quá
trình không tạo ra sức nóng, có kiểm soát, sử dụng năng lượng của sóng cao
tần để kích thích chất điện phân ở trong môi trường dẫn, giống như dung dịch
muối, tạo ra một đám mây điện tích. Năng lượng phân tử của đám mây điện
tích đủ để phá vỡ các liên kết bên trong tổ chức mô, làm cho các tổ chức mô
bị phân huỷ ở nhiệt độ tương đối thấp (40-70

6
Vũ Hùng Liên, Trần Mạnh Trí [8] báo cáo 158 trường hợp phẫu thuật
mổ mở thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng cho kết quả tốt là 64.5%, tỷ lệ
thoát vị tái phát là 7/158( 4.4%) sau theo dõi 2-3 năm.
Vũ Hùng Liên và Bùi Quang Tuyển [10] báo cáo kết quả điều trị ngoại
khoa thoát vị đĩa đệm thắt lưng – cùng tại khoa phẫu thuật thần kinh BV 103
cho 2303 lượt bệnh nhân bị thoát vị đĩa đệm với kết quả: 65.28% tốt, 24.15%
khá, 9.2% vừa, 1.35% là kém. Tỷ lệ thoát vị tái phát là 1.95% (1996-2002).
Nguyễn Vũ và Hà Kim Trung [24] báo cáo kết quả phẫu thuật thoát vị đĩa
đệm cột sống thắt lưng – cùng tại Bệnh viện Việt Đức (8/1998-8/2003) với 115
BN cho kết quả: 16.5% rất tốt, 67.8% tốt, 13.9% trung bình, 1.7% xấu.
Đồng Quang Sơn và Đồng Văn Hệ [15]nghiên cứu 42BN phẫu thuật
thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng – cùng tại BVĐKTW Thái Nguyên (2006-
2010) cho kết quả: 86.3% tốt, 10.3% trung bình, 3.4% xấu.
1.2. Đặc điểm giải phẫu và cơ chế bệnh sinh của bệnh TVĐĐ
1.2.1. Đặc điểm giải phẫu cột sống
Cột sống được cấu tạo từ 32- 33 đốt sống và được chia thành 5 đoạn
theo chức năng, đó là đoạn cổ (7 đốt), đoạn lưng (12 đốt), đoạn thắt lưng (5
đốt), đoạn cùng (5 đốt) và đoạn cụt (3 – 4 đốt). Mỗi đốt có 3 phần chính: thân,
cung sau và các mỏm. Giữa cung và thân có lỗ đốt sống, tạo nên ống tủy khi
các đốt sống chồng lên nhau, trong đó chứa đựng tủy sống. Các đốt sống nằm
chồng lên nhau và đệm giữa các đốt sống là các đĩa đệm gian đốt sống, riêng
giữa C1-C2 và đoạn cùng cụt không có đĩa đệm [12,13].
1.2.1.1. Thân đốt sống thắt lưng
Cột sống thắt lưng có 5 đốt sống, với đặc điểm:
- Thân đốt sống rất to và chiều ngang rộng hơn chiều trước sau. Ba đốt
sống thắt lưng cuối có chiều cao ở phía trước thấp hơn phía sau nên khi nhìn từ
phía bên trông như một cái chêm.
7
- Chân cung (cuống sống) to, khuyết trên của chân cung nông, khuyết

khoảng 1ml chất đệm gelatin có đường kính nhỏ hơn 50% đường kính ngang
của đĩa đệm và nằm hơi lệch ra sau. Chính các cấu trúc gelatin cho phép nhân
đệm hoạt động như một cấu trúc hấp thu lực. Cùng với tuổi tác, các thành
phần protein của đĩa đệm thay đổi, từ đó thay đổi các đặc tính của đĩa đệm.
Khi mới sinh, nhân nhầy to, mềm giống như keo và được tạo nên bằng
chất nhầy, như một tấm tận mỏng nằm giữa hai thân đốt [41], Nhân nhày bình
thường bao gồm: một nhân giữ nước tốt chứa proteoglycan (PG), những sợi
colagen đan với nhau thành 1 cung sợi, nước chiếm 80% trọng lượng nhân
nhày ở trẻ em và người trẻ.
1.2.1.3. Dây chằng
Cột sống được bao phủ phía trước và phía sau theo chiều dài của nó bởi
dây chằng dọc trước và dây chằng dọc sau. Dây chằng dọc sau được mô tả
9
gồm 2 lớp sâu và nông. Dây chằng dọc trước và dọc sau đều đóng góp vào độ
vững, mức độ di động và mềm dẻo của cột sống.
Dây chằng dọc trước được tạo nên bởi các sợi dọc dày đặc. Những sợi
này dính chặt và các đĩa gian đốt sống và các rìa lồi lên của thân đốt sống
nhưng không dính và phần giữa của các thân đốt sống. Phần giữa các thân đốt
sống dây chằng dày lên để lấp vào vùng lõm ở mặt trước các thân đốt, làm
cho mặt trước cột sống phẳng hơn. Nó được tạo nên bởi vài lớp sợi khác nhau
về chiều dài nhưng đan cài chặt chẽ với nhau. Những sợi nông nhất, là những
sợi dài nhất và trải dài giữa bốn hoặc năm đốt sống. Những sợi sâu hơn nằm
ngay bên dưới trải dài giữa hai hoặc ba đốt sống và lên đốt sống kế cận. Ở
mặt bên của các thân đốt sống, dây chằng được tạo nên bởi một ít sợi ngắn đi
từ đốt sống này đến đốt sống kế tiếp, được ngăn cách khỏi chỗ lỏm giữa các
thân đốt sống bởi những lỗ cho mạch máu chạy qua.
Dây chằng dọc sau nằm trong ống sống và trải dài dọc mặt sau của các
thân dốt sống, từ màng mái tới xương cùng, rộng hơn ở trên và dày ở vùng
ngực hơn là ở các vùng cổ và thắt lưng. Các sợi mịn và bóng của nó gắn chặt
với các đĩa gian đốt sống, các tấm sụn trong đầu xương và rìa lồi của các thân

sống kế cận.
Dây chằng trên gai và dây chằng liên gai có chức năng liên kết các
mỏm gai với nhau.
11
Hình 1.2: Các dây chằng ống sống [12]
Tủy sống
Chia làm 4 phần: phần cổ, phần ngực, phần thắt lưng và nón tủy
Tủy sống cổ phình to là nơi xuất phát đám rối thần kinh cổ và đám rối
thần kinh cánh tay. Cấu trúc bên trọng của tủy sống gồm có ống trung tâm,
chất xám và chất trắng.
12
Ống trung tâm:
Là ống nhỏ ở trung tâm của tủy sống, đầu trên thông với não thất IV, ở
dưới tiếp giáp với đầu trên của dây tận cùng.
Chất trắng bao quanh chất xám:
Gồm hai phần nối với nhau bởi mép trắng, được tạo nên bởi các bó dẫn
truyền thần kinh gồm các sợi vận động ly tâm từ trên não xuống và các sợi
cảm giác hướng tâm lên não.
Tủy sống được cấp máu bởi 3 động mạch:
Động mạch gai trước:
Tách ra từ động mạch đốt sống gần thân nền, hợp thành thân chung đi
dọc xuống theo đường giữa, trước khe trước của tủy sống
Động mạch gai sau:
Tách ra từ động mạch đốt sống hoặc động mạch tiểu não dưới ở ngang
mức mặt trên hành não, đi dọc xuống dưới chia thành 2 nhánh: Nhánh đi
trước rễ trước, nhanh đi sau rễ sau cảu thần kinh gai sống.
Động mạch rễ:
Tách ra từ động mạch đốt sống, đi theo 2 rễ thần kinh gai sống, cho các
nhánh nối với động mạch gai trước và động mạch gai sau.
Tĩnh mạch:

lỗ liên hợp.
Ống trung tâm: chứa màng cứng, trong có tủy cùng, chóp cùng và đuôi
ngựa. Đường kính trước sau đo ở giữa của ống sống giảm dần từ L1 đến L4,
tăng lên ở L5 rồi giảm ở S1.
Ngách bên: là nơi đi ra của rễ thần kinh xuất phát từ tủy sống đến khi đi
vào giữa dưới cuống cung của đốt sống tương xứng.
Lỗ liên hợp: được giới hạn ở phía trước là thân đốt sống và đĩa đệm, phía
sau là diện khớp, cuống sống trên và dưới. Chiều dài của lỗ liên hợp tương
đương với chiều rộng của cuống sống, khoảng từ 8 đến 15 mm [14].
1.2.2. Bệnh căn, bệnh sinh thoát vị đĩa đệm
1.2.2.1. Vai trò và phương thức hoạt động của đĩa đệm
Đĩa đệm hoạt động như một vật thể hấp thụ lực, khi tác động lên cốt
ống. Các đĩa đệm có 2 chức năng chính:
- Phân tán lực nén, khả năng biến dạng cho phép đĩa đệm phân tán lực
trên toàn bộ mặt khớp của thân sống chứ không tập trung trên vùng ngoại vị
của thân sống.
- Cho phép sự di chuyển đa mặt phẳng giữa các thân sống kế tiếp nhau.
Sự di chuyển này cùng với khả năng di chuyển của các diện khớp trên, dưới
cho phép cột sống cổ có biên độ chuyển động lớn. Nhờ vào khả năng biến
dạng đặc biệt của mình, đĩa đệm rất khó bị nén ép. Bất cứ lực nào tác động
lên nó đều được phân tán đến vòng sợi và mặt khớp của thân sống. Hoạt động
này chủ yếu dựa trên nguyên lý của sự tương quan giữa áp lực thủy tĩnh và áp
lực thể tích giữa môi trường bên trong và môi trường bên ngoài của đĩa đệm.
15
1.2.2.2. Cơ chế thoát vị đĩa đệm
Trên thí nghiệm lồi đĩa đệm hay thoát vị nhân đệm được tạo ra do lực
nén ngang đĩa đệm. Người ta cho rằng TVĐĐ là ở ngoại biên khi bao xơ là
nơi đầu tiên thay đổi về mặt bệnh lý. Sự thoái hóa của bao xơ làm mất các cấu
trúc bè của bao xơ, do vậy thoái hóa đĩa đệm thường được ghi nhận là kết hợp
với TVĐĐ, nhưng TVĐĐ không xảy ra trong tất cả các trường hợp đĩa đệm

Rễ thần kinh bị chèn ép không phải lúc nào cũng gây đau trừ trường
hợp các hạch sau bị chèn ép. Sự chèn ép của khối thoát vị có thể làm thoái
hóa myeline gây triệu chứng thần kinh.
Bệnh lý rễ thần kinh do chèn ép cơ học rễ thần kinh và do viêm. Đặc
biệt khối thoát vị tạo nên một khối choán chỗ ngang lỗ liên hợp nơi rễ thần
kinh đi ra và chèn ép vào rễ. Mặt khác gai xương ở vùng Uncus và ở vùng
mấu khớp, dây chằng vàng và mô xơ quanh rễ cũng gây ra sự chèn ép này.
Giảm chiều cao đĩa đệm có liên quan đến tuổi làm giảm độ rộng của lỗ liên
hợp. Phì đại khối khớp cũng là một nguyên nhân chèn ép rễ thần kinh.
1.2.2.3. Sinh lý bệnh của hội chứng chèn ép rễ
Theo Furman và Yumashev [39], rễ thần kinh rất nhạy cảm với đau.
Khi khối TVĐĐ chèn ép vào bao rễ gây kích thích hoặc kéo căng rễ, kèm
theo phản ứng viêm xung quanh rễ làm tổn thương mạch máu gây phù nề,
thiếu máu thứ phát, làm cho rễ nhạy cảm với sự va chạm. Do đó các rối loạn
cảm giác xuất hiện trước các rối loạn vận động. Mặc dù phần đĩa đệm thoát vị
nằm phía trước rễ và chạm vào các sợi vận động, nhưng do áp lực phản hồi các
sợi cảm giác sẽ bị đè ép vào dây chằng vàng. Đè ép rễ mạn tính dẫn đến xơ hóa
bao rễ, lâu ngày dẫn đến tổn thương sợi trục, gây rối loạn dẫn truyền, dẫn đến
liệt các mức độ và rối loạn cảm giác. Ngoài ra TVĐĐ còn chèn ép hoặc xuyên
17
qua dây chằng dọc sau, nơi có các tận cùng cảm giác đau của dây thần kinh quặt
ngược Lucshka, cũng gây ra triệu chứng đau trong hội chứng rễ.
Thoái hóa đĩa đệm mãn tính thường sau giai đoạn 20 tuổi. Rách xung
quanh bao xơ ở vùng sau bên của bao xơ thường được thấy, rách nặng ở vùng
chu vi sẽ tạo nên những lỗ thủng, nhân đĩa đệm sau đó bị vỡ và đi qua lỗ
thủng này. Giảm chiều cao đĩa đệm thường là hậu quả của rách xung quanh
bao xơ. Chất proteolycan và nước sẽ thoát qua những đường vòng bao xơ gây
nên tình trạng thoái hóa nhân và sau đó sẽ làm giảm chiều cao đĩa đệm. Thoái
hóa thân đốt sống và hình thành gai cột sống được nhìn thấy ở giai đoạn cuối.
1.3. Lâm sàng và cận lâm sàng bệnh TVĐĐ CSTL-cùng

2 Phát sinh động tác, nhưng không thắng được trọng lực
3 Thắng được trọng lực, nhưng không thắng được lực đối kháng
4 Thắng được lực đối kháng nhưng không đầy đủ
5 Cơ vận động bình thường
Bảng 1.2: Phân vùng chi phối vận động và cảm giác chi dưới
Rễ TK Rối loạn Rối loạn Rối loạn
19
thương tổn cảm giác vận động phản xạ
L
1
, L
2
Vùng bẹn và mặt
trong đùi
Cơ thắt lưng chậu;
cơ may
Phản xạ da đùi
bìu
L
3
, L
4
Mặt trước đùi, trước
trong cẳng chân
Cơ tứ đầu đùi, các
cơ khép
Phản xạ gối
L
5
Mặt ngoài đùi, trước

đáy chậu
Cơ thắt hậu môn và
bàng quang
Phản xạ hậu
môn
1.3.1.3 Các nghiệm pháp đánh giá
SLR (Straight Leg Raising): BN nằm ngửa, người khám đặt lòng bàn
tay vào gót chân BN nâng dần chân đau của BN, gối BN luôn duỗi tối đa, đến
khi cảm giác đau lan chân xuất hiện từ lưng qua mông, rồi lan xuống đùi và
cẳng chân đến ngón chân. Test này được cho là dương tính khi góc xuất hiện
đau nằm từ 35-70
o
. Nghiệm pháp này thường được sử dụng để đánh giá trong
thoát vị đĩa đệm chèn ép rễ L4,L5 và S1.
SLR đối bên: làm tương tự như nghiệm pháp SLR nhưng ở chân đối
diện chân đau, BN xuất hiện những triệu chứng của chèn ép rễ thần kinh ở bên
chân đau. Test này có độ đặc hiệu rất cao trong chẩn đoán thoát vị đĩa đệm .
FST (Femoral Stretch Test): đánh giá trong biểu hiện triệu chứng của
thần kinh đùi (L1,L2,L3).
20
Các điểm đau Valleix: dương tính khi ấn trên một số điểm dọc đường
đi của dây thần kinh hông to thì bệnh nhân đau
Dấu hiệu Déjerine: dương tính khi ho hay hắt hơi bệnh nhân đau tăng
Dấu hiệu Siccar: dương tính khi gấp bàn chân về phía mu chân, trong
khi chân duỗi thẳng bệnh nhân sẽ thấy đau.
•Dựa vào 6 tiêu chuẩn của Saporta (1980)
+ Có yếu tố chấn thương cột sống thắt lưng
+ Đau thắt lưng lan theo đường đi của rễ dây thần kinh hông to, đau có
tính chất cơ học
+ Lệch vẹo cột sống thắt lưng

bốn phim (Thẳng, nghiêng và chếch 3/4 phải và trái). Bệnh nhân được nằm
dọc, đầu cao 15 độ đến 18 độ so với chân sau khi chụp. Trong một số trường
hợp cần thiết, có thể vỗ nhẹ vào hông với mục đích để thuốc cản quang vào các
bao rễ thần kinh rõ hơn. Năm 1922, Sicard vμ Forestier chụp ống sống bằng chất
cản quang là loại dầu chứa iốt. Ngày nay vì các loại dầu iốt có nguy cơ gây viêm
màng nhện nên ít được dùng. Chỉ định chụp bao rễ cản quang cần thận trọng và
tính đến các tai biến và độc tính của chất cản quang.
Phương pháp này có khả năng đánh giá được hình ảnh gián tiếp của
thoát vị đĩa đệm bằng hình ảnh chèn ép ống sống tới 94,3%. Trên phim
nghiêng,thấy ranh giới cột cản quang với bờ trước và bờ sau rõ. Tận cùng của
màng cứng ở mức S2 có hình chóp hoặc bầu dục. Bờ trước bao rễ đi sát ngay
các thân đốt sống và các đĩa đệm. Khoang ngoài màng cứng ở phía sau đĩa
đệm L5/S1 rộng hơn các mức khác tới 2-3mm. Trên phim chụp tư thế thẳng
cóthể thấy rõ các rễ của đuôi ngựa chạy trong khoang dưới nhện, thấy nơi đi
ra khỏi bao rễ. Hướng đi, hình thể và kích thước các rễ thần kinh hai bên đối
xứng nhau. Thoát vị đĩa đệm có thể cắt cụt một rễ thần kinh, cắt cụt làm gián
22
đoạn 1-2 rễ cùng bên, ấn lõm cột cản quang từ một phía có khi cả hai bên.
Nặng hơn cả là hình ảnh cắt cụt toàn bộ bao rễ. Tuy nhiên phương pháp
này không cho được hình ảnh trực tiếp của đĩa đệm và vì vậy không phân
biệt được với hình ảnh chèn ép do thành phần khác như tổ chức xơ sẹo hay
u ống sống [3,6].
1.3.2.3. Phương pháp chụp đĩa đệm (Discography)
Theo kỹ thuật của Lindblom (1948) là phương pháp bơm thuốc cản
quang vào nhân keo đĩa đệm. Đây là phương pháp chẩn đoán trực tiếp những
thay đổi về hình thái và cấu tạo bên trong của đĩa đệm. Người ta tiêm 1ml
thuốc Omnipaque đậm độ 240 hay180 vào nhân keo của đĩa đệm sau đó tiến
hành chụp tư thế thẳng và nghiêng để đánh giá đĩa đệm. Đây là phương pháp
được coi là rất tốt trong đánh giá các thay đổi bệnh lý của đĩa đệm. Tuy nhiên,
kỹ thuật này hiện nay ít dùng vì kỹ thuật chụp gây đau đớn nhiều cho bệnh

Hình 1.7: TVDD trên MRI
1.3.3. Phân loại thoát vị đĩa đệm
1.3.3.1. Phân loại theo liên quan với dây chằng dọc sau
- Thoát vị nằm dưới dây chằng dọc sau: dây chằng dọc sau còn nguyên
vẹn, chưa bị rách.
- Thoát vị qua dây chằng dọc sau: dây chằng dọc sau đã bị rách, khối
thoát vị chui qua chỗ rách vào trong ống sống.
- Theo Wood, chia TVĐĐ làm bốn loại, theo sự tương quan giữa khối
thoát vị của nhân nhầy với vòng sợi và dây chằng dọc sau:
Phình đĩa đệm (Bulge): Là sự bè rộng của đĩa đệm ra xung quanh
nhưng vẫn theo viền khớp, gây ra do yếu vòng xơ và dây chằng dọc sau,
thường phình cân đối làm lõm bờ trước ống sống gây cản trở lưu thông dịch
não tủy.
25
Lồi đĩa đệm (Protrusion): Là sự phá vỡ vòng xơ, nhân keo chui ra
ngoài tạo thành ổ lồi khu trú, tiếp xúc với dây chằng dọc sau nhưng vẫn liên
tục với tổ chức đĩa đệm gốc.
TVĐĐ thực sự (Extrusion): Là khối thoát vị đã chui qua vòng xơ, nhưng
vẫn còn dính liền với phần nhân keo nằm trước dây chằng dọc sau.
TVĐĐ có mảnh rời (Sequestration): Là có một phần khối thoát vị tách rời
ra khỏi phần đĩa đệm gốc nằm trước dây chằng dọc sau, có thể di trú đến mặt sau
thân đốt sống.
Hình 1.8: Phân chia giai đoạn thoát vị đĩa đệm
Mảnh rời này thường nằm ngoài màng cứng, nhưng đôi khi xuyên qua
màng cứng gây chèn ép tủy. Cách phân loại này liên quan chặt chẽ với điều trị.
Vì tỷ lệ bệnh nhân có phồng và lồi đĩa đệm rất cao, nhưng không nhất thiết
phải điều trị phẫu thuật. Ngược lại kết quả phẫu thuật lại đạt cao nhất ở nhóm
TVĐĐ có mảnh rời và sau đó là nhóm TVĐĐ thực sự.
1.3.3.2. Phân loại theo liên quan với rễ thần kinh, tủy sống
Rothman và Marvel [64] đã chia TVĐĐ ra sau thành ba loại:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status