1
Tuổi thọ trung bình của loài người đã tăng lên gần ba mươi năm trong
vòng một thế kỷ qua, cùng với tăng tuổi thọ số lượng người cao tuổi (NCT)
đang tăng lên nhanh chóng trong phạm vi toàn cầu. Theo báo cáo của Tổ chức
Y tế thế giới tính đến năm 2000, toàn thế giới có tới 580 triệu người trên 60
tuổi và dự đoán đến năm 2020 sẽ đạt đến con số 1 tỷ người. Ở Việt Nam theo
điều tra dân số năm 1999, số người trên 60 tuổi chiếm 8,2 % tổng dân số [1].
Xu hướng già hóa đang đặt nhân loại trước những thách thức to lớn trong thế
kỷ XXI. Một trong những thách thức đó là sự gia tăng các bệnh trong đó có
bệnh ung thư đặc biệt là ung thư phổi.
Ung thư phổi (UTP) hay ung thư phế quản là thuật ngữ để chỉ bệnh ác tính
của phổi xuất phát từ biểu mô niêm mạc phế quản, tiểu phế quản, phế nang, từ
các tuyến của phế quản, hoặc các thành phần khác của phổi [2, 3].
Theo thống kê tình hình ung thư trên toàn thế giới năm 2007, UTP có tỷ lệ
mới mắc cũng như tỷ lệ tử vong cao nhất trong các loại ung thư ở nam giới, và
đứng thứ hai ở nữ giới về tỷ lệ tử vong [4] [5]. Ở Việt Nam, những thống kê tại
Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001- 2004 cho thấy, UTP đứng
đầu trong các ung thư ở nam giới và đứng thứ 3 trong các ung thư ở nữ giới
[6].Tại Trung tâm Hô hấp Bệnh viện Bạch mai giai đoạn 1996-1997 UTP
chiếm 7,5% các bệnh phổi vào điều trị nội trú, gần đây tỷ lệ này là 16% [7]
đứng hàng thứ 2 trong tổng số BN vào điều trị nội trú. Cơ hội duy nhất cho
các bệnh nhân UTP là được chẩn đoán và phẫu thuật ở giai đoạn còn can thiệp
được. Theo một số nghiên cứu trên thế giới, tỷ lệ sống thêm 5 năm ở các bệnh
nhân ung thư phổi được phẫu thuật có thể đạt tới 30% và thậm chí 70% ở các
bệnh nhân được phẫu thuật ở giai đoạn 0 và I. Mặc dù vậy, phần lớn các bệnh
nhân chỉ đến bệnh viện và được phát hiện ung thư phổi khi đã ở giai đoạn
2
muộn. Lúc đó, hầu như không còn chỉ định phẫu thuật và dù có phẫu thuật,
hiệu quả điều trị cũng không cao. Một trong những lý do gây khó khăn cho
chẩn đoán là nhiều biểu hiện trên lâm sàng và xét nghiệm của bệnh ung thư
đi vào trong phổi, các nhánh chia từ phế quản gốc được gọi là cây phế quản.
Nhánh nhỏ nhất của phần dẫn khí trong tiểu thùy gọi là tiểu phế quản tận. Mỗi
tiểu phế quản tận chia đôi thành 2 tiểu phế quản hô hấp. Mỗi tiểu phế quản hô
hấp lại phân chia thành 2-10 ống phế nang. Ống phế nang là đoạn ống mà
thành của chúng có các phế nang độc lập đứng cạnh nhau và các phế nang kết
thành chùm [6].
1.1.1.1. Khí quản
Khí quản hình trụ, mặt sau không có sụn, dài khoảng 13-15cm, chạy
chếch ra sau và sang phải. Khí quản gồm khí quản cổ và khí quản ngực.
• Khí quản vùng cổ
Từ sụn nhẫn đến bờ trên xương ức, hoặc bờ trên đốt sống lưng 2.
Những liên quan của khí quản vùng này là:
- Phía trước: với eo tuyến giáp, các tĩnh mạch giáp dưới, các cơ ức
móng và ức giáp. Eo tuyến giáp nằm trên các sụn 2, 3, 4 của khí quản.
- Phía bên: với các thùy bên tuyến giáp và động mạch cảnh chung.
- Phía sau: có thực quản nằm hơi chếch sang trái khí quản cùng với dây
thần kinh quặt ngược thanh quản nằm trong rãnh giữa thực quản và khí quản [6].
• Khí quản vùng ngực
4
Khí quản ngực dài hơn khí quản cổ, nằm ở 1/3 trên của lồng ngực và liên
quan rất chặt chẽ với mạch máu trong trung thất. Đây là vùng có nguy cơ thủng
và chảy máu khi soi phế quản và thực hiện các kỹ thuật can thiệp [6], [58].
1.1.1.2. Cựa khí - phế quản (Carina)
Ở tận cùng, khí quản chia thành hai phế quản gốc phải và trái, phần nhô
lên ở giữa hai nơi phân chia gọi là carina. Khí quản và hai phế quản gốc tạo
thành hình chữ Y lộn ngược, góc giữa 2 phế quản gốc khoảng 70 độ.
Ở mặt trước, hơi chếch sang phải, động mạch phổi tách thành nhánh
phải và trái. Giữa 2 nơi phân chia này (phân chia khí quản và động mạch) có
khoảng trống gọi là khoảng liên phân chia. Mặt trước và lệch sang phải của
carina là nơi tiếp giáp giữa tĩnh mạch azygos với tĩnh mạch chủ trên. Mặt
UTP mới phát hiện ở nam giới là 116.750 và ở nữ là 105.770 [10], [16]. Tại
Hoa Kỳ, tỷ lệ UTP mới phát hiện ở nữ giới đã xấp xỉ nam giới.
1.2.1.2. Tình hình ung thư phổi tại Việt Nam
Hiện nay đã có những số liệu ghi nhận về ung thư tương đối chính xác
và có thể đại diện cho tình hình ung thư của cả nước. Theo số liệu về tỷ lệ ung
thư ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ năm 1995- 1996, và từ
đó ước tính chung tỷ lệ mắc ung thư ở Việt Nam năm 2000, nam giới có
khoảng 36.021 ngườichiếm tỷ lệ 91,5/100.000 dân và ở nữ giới có khoảng
32.786 người, chiếm tỷ lệ 81,5/100.000 dân. UTP đứng hàng đầu ở nam giới.
Ước tính cả nước hàng năm có khoảng 6.905 ca UTP mới mắc [16].
6
Tại Khoa Hô hấp - Bệnh viện Bạch Mai, số các trường hợp UTP nhập
viện tăng đều hàng năm: từ 1969 đến 1972 có 89 trường hợp UTP, từ 1974
đến 1978 có 186 trường hợp, từ 1981 đến 1985 có 285 trường hợp, từ 1996
đến 2000 có 639 trường hợp, chiếm 16,6% tổng số các bệnh nhân điều trị,
đứng hàng thứ hai sau bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính [16], [5].
7
%%3-#456#.012
Năm 1950, lần đầu tiên người ta đã chứng minh mối liên quan giữa UTP
với thuốc lá và nhận thấy rằng 80% các UTP liên quan với yếu tố môi trường,
chế độ ăn uống, khói thuốc lá, sự nhiễm độc nước, không khí, điều kiện lao
động. Nếu có nhiều yếu tố phối hợp thì nguy cơ mắc UTP càng cao [16]. Cho
đến nay, người ta đã xác định được nhiều nguyên nhân gây UTP, trong đó hút
thuốc lá là một trong những căn nguyên phổ biến nhất [16], [17].
1.1.2.1. Thuốc lá
Thuốc lá chứa hơn 4.000 loại hoá chất, 200 loại có hại cho sức khoẻ,
khoảng hơn 60 chất chứa vòng Hydrocarbon thơm như: 3- 4 Benzopyren, các
dẫn xuất Hydrocarbon đa vòng có khí Nitơ, Aldehyt, Nitrosamin, Ceton có
tính chất gây ung thư [17], [5].
Hút thuốc lá được coi là yếu tố nguy cơ chính gây nên UTP, khoảng
có dị sản dạng biểu bì [5].
1.1.2.6. Chế độ ăn
Nhiều nghiên cứu cho thấy chế độ ăn nhiều rau xanh, trái cây làm giảm
rệt nguy cơ UTP.
% 3-00030-7893#.012
Chẩn đoán ung thư phổi phải dựa vào các triệu chứng lâm sàng và các
xét nghiêm cận lâm sàng
1.2.3.1. Triệu chứng lâm sàng của ung thư phổi
1.2.3.1.1. Các triệu chứng cơ năng
- Ho khan: là dấu hiệu thường gặp nhất, ho kéo dài, ho khan tiếng một
hoặc ho thành cơn.
9
- Ho ra máu: thường số lượng ít, lẫn với đờm thành dạng dây máu, màu
đỏ hoặc hơi đen hoặc đôi khi chỉ khạc đơn thuần máu.
- Đau ngực: là triệu chứng thường đứng hàng thứ ba sau ho khan và ho
ra máu. Đau ngực thường ở vị trí tương ứng với khối u với nhiều đặc điểm
khác nhau: cảm giác nặng tức ngực, đau giống đau thần kinh liên sườn…
- Khó thở: thường tăng dần. Các nguyên nhân gây khó thở ở BN UTP
bao gồm: u gây tắc nghẽn khí quản, phế quản gốc, do tràn dịch màng phổi,
tràn dịch màng ngoài tim hoặc có bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính kèm theo.
- Hội chứng nhiễm trùng phế quản- phổi
Viêm phổi, áp xe phổi có thể xuất hiện sau chỗ hẹp phế quản do u: u
chèn ép khí phế quản gây ứ đọng đờm, làm tăng khả năng nhiễm trùng.
Đối với BN bị nhiễm trùng phế quản phổi cấp, sau điều trị mà tổn
thương mờ trên phim còn tồn tại kéo dài trên 1 tháng hoặc tổn thương có xu
hướng phát triển, hoặc tái phát ở cùng một vị trí cần quan tâm tới chẩn đoán
UTP để làm các thăm dò chẩn đoán như nội soi phế quản.
1.2.3.1.2. Triệu chứng toàn thân
Bệnh cảnh rất đa dạng có thể không có triệu chứng gì cho đến khi tình
cờ phát hiện kiểm tra sức khỏe khi khám bệnh do một lý do khác, có thể gặp:
gây sùi loét da thành ngực.
1.1.3.1.5. Các hội chứng cận ung thư
Hội chứng cận ung thư gồm những biểu hiện toàn thân không do di căn,
xuất hiện ở các bệnh ác tính. Hội chứng này là tập hợp những triệu chứng gây
11
ra do các chất được sản sinh bởi các u, chúng có thể là những biểu hiện đầu
tiên hoặc những biểu hiện nổi trội của bệnh lý ác tính. Tần suất mắc hội
chứng này khoảng 2% đến 20% ở các bệnh lý ác tính (xem phụ lục 2)
1.1.3.1.6. Triệu chứng di căn của ung thư
Di căn là biểu hiện bệnh lý hay gặp và là triệu chứng thường xảy ra vào
giai đoạn muộn của ung thư nói chung và UTP nói riêng. Di căn có thể xảy ra
sớm hay muộn tùy thuộc vào loại tế bào ung thư. Một số tác giả cho thấy di
căn ung thư rất phong phú và biểu hiện trên lâm sàng dưới nhiều hình thức
khác nhau:
- Di căn não: BN thường có biểu hiện đau đầu, nôn, liệt khu trú, tri giác
chậm chạp.
- Di căn xương: thường gặp xương dẹt, xương sườn, xương chậu, phát
hiện bằng chụp X quang, chụp nhấp nháy phóng xạ.
- Di căn gan: đau hạ sườn phải, gan to bề mặt lổn nhổn, phát hiện bằng
siêu âm hoặc chụp CLVT ổ bụng.
- Di căn hạch: hạch ngã ba khí quản, hạch cựa khí quản, hạch thượng
đòn, hạch ức đòn chũm. Đối với hạch ngoại vi thường chọc hút hoặc sinh
thiết hạch làm xét nghiệm giải phẫu bệnh [5],[18].
Bảng 1.1. Đánh giá toàn trạng dựa theo tiêu chuẩn của TCYTTG
Bậc 0 Hoạt động bình thường
Bậc 1 Mệt, hoạt động bị hạn chế ít
Bậc 2 Nằm tại giường dưới 50% thời gian ban ngày
Bậc 3 Nằm tại giường trên 50% thời gian ban ngày
Bậc 4 Nằm liệt giường
12
phổi. Phần u ở trên vùng tràn dịch màng phổi tạo hình mặt trời mọc.
:;$23.2!0: do sự phát triển của u trong lòng phế quản làm
hẹp lòng phế quản, thường nhìn thấy trên phim X.quang phổi chuẩn. Biểu
hiện trên phim tùy thuộc vào u gây tắc phế quản hoàn toàn gây xẹp phổi hoặc
viêm phổi sau tắc hoặc tắc bán phần có thể chỉ gây hiện tượng”cạm khí ” hoặc
xẹp phổi còn thông khí [11],[20, 21].
Trong một số trường hợp, phim chụp XQuang phổi chuẩn cho phép chẩn
đoán xác định các UTP, đánh giá được mức độ xâm lấn trung thất, thành
ngực, cột sống, có thể thấy hình tràn dịch màng phổi: là biểu hiện của tình
trạng u phổi xâm lấn hoặc di căn màng phổi. Các biểu hiện thấy trên phim
chụp X.Quang phổi bao gồm từ mờ góc sườn hoành cho đến mờ cả một bên
phổi tùy theo mức độ tràn dịch.
Tuy nhiên, hầu hết các trường hợp UTP cần được chỉ định chụp CLVT,
đặc biệt ở những trường hợp UTP giai đoạn sớm, u còn nhỏ, hoặc u ở những
vị trí bị các thành phần trung thất che khuất. Các biểu hiện khác nhau tuỳ theo
u ở trung tâm hay ngoại vi.
>0-?.@A0B2.CD(E@F=-
Năm 1973, Hounsfield cho ra đời chiếc máy chụp CLVT đầu tiên dùng
để chụp CLVT sọ não. Gần đây, sự ra đời của các máy chụp CLVT đa đầu dò
(MSCT) mở ra kỷ nguyên mới cho chụp CLVT. Trên phim chụp CLVT ngực có
thể xác định được vị trí, mật độ, cấu trúc, sự phát triển, xâm lấn, mức độ lan tràn
của tế bào ung thư vào hạch trung thất, di căn xa. Bên cạnh giá trị xác định chẩn
14
đoán, chụp CLVT có giá trị đặc biệt quan trọng trong việc đánh giá giai đoạn
bệnh, xác định BN còn chỉ định phẫu thuật hay không. [20], [22]-[27].
Độ nhạy của chụp CLVT tuy cao 70-97%, nhưng độ đặc hiệu lại thấp (60-
80%) do không cho phép chẩn đoán phân biệt u lành với u ác.
Các hình ảnh tổn thương trên phim chụp CLVT ở những bệnh nhân UTP
có thể gặp bao gồm [26]:
Hình xâm lấn màng phổi
những hạch có đường kính > 1cm. Hạch trung thất được chia thành:
- N
1
: hạch quanh phế quản cùng bên và / hoặc hạch rốn phổi và hạch
trong phổi cùng bên, bao gồm cả sự xâm lấn trực tiếp của u vào các hạch đó.
- N
2
: hạch trung thất cùng bên và / hoặc hạch dưới cựa khí phế quản.
- N
3
: hạch trung thất đối bên, hạch rốn phổi đối bên.
Một số hình ảnh tổn thương khác trên phim chụp CLVT ngực
ở bệnh nhân UTP
- Hình ảnh lưới- nốt: gặp trong trường hợp UTP di căn theo đường bạch mạch.
- Hình ảnh nhiều nốt mờ lan tỏa: gặp trong ung thư tiểu phế quản
phế nang.
- Hộ chứng lấp đầy phế nang gặp trong viêm phổi sau tắc nghẽn phế quản.
Tổn thương thứ phát
Việc phát hiện những tổn thương thứ phát có vai trò quan trọng trong
chẩn đoán giai đoạn UTP. Khi có tổn thương thứ phát cùng bên phổi, bệnh
được xếp ở T
3
(cùng thùy) hay T
4
(khác thùy), ở giai đoạn này, BN có thể còn
chỉ định phẫu thuật. Khi có tổn thương ở phổi đối bên với u nguyên phát,
bệnh được xếp giai đoạn M
1
, lúc nay BN không còn chỉ định phẫu thuật.
GH.IDJKLJMN.2-KNO9M-NPM2E
PET-CT là phương pháp chẩn đoán hình ảnh kết hợp giữa chụp CLVT
và PET Scan. Chụp CLVT rất có giá trị trong đánh giá kích thước u, tình
trạng xâm lấn tới các tổ chức bên cạnh, PET có độ nhạy cao trong đánh giá
tổn thương di căn tới trung thất và các cơ quan khác. Kỹ thuật chụp CLVT
dựa trên việc tạo ảnh không gian 3 chiều, còn kỹ thuật PET tạo hình ảnh dựa
chủ yếu trên hoạt động chức năng của các tế bào. Do vậy, hệ thống kết hợp
PET-CT làm gia tăng mức độ chính xác trong chẩn đoán UTP và phát hiện
các tổn thương thứ phát ở các cơ quan khác [26, 29, 30].
>0&Q( Sing photon Emission Computed Tomography)
Là phương pháp chẩn đoán không xâm nhập sử dụng đồng vị phát tia
gama để ứng dụng xạ hình (99m TC MIBI), có giá trị trong chẩn đoán di căn
hạch trung thất dể xác định giai đoạn UTP chính xác.Trong nhiều nghiên cứu
cho thấy độ nhạy 87,7% – 89,8%, độ đặc hiệu 100%, độ chính xác > 90%.
Ngoài ra còn giúp chẩn đoán di căn xương và lập kế hoạch điều tri.
1.2.3.2.2. Nội soi phế quản
Nội soi phế quản (NSPQ) là một kỹ thuật thăm dò xâm nhập cho phép
đánh giá hình thái bên trong của cây phế quản [6]. Có NSPQ ống cứng và
NSPQ ống mềm. Ngày nay thường NSPQ bằng ống mềm. Nội soi phế quản
huỳnh quang với hệ thống ánh sáng xanh thay vì ánh sáng trắng giúp định vị
tổn thương và sinh thiết chính xác hơn.
Trong ung thư phổi, NSPQ cho phép đánh giá sự xâm lấn hay lan tỏa của
u trong lòng phế quản. Sự xâm lấn này có thể thấy được ở ngay khí quản,
carina, phế quản gốc hay các phế quản phân thùy. Các tổn thương có thể gặp
ở UTP khi soi phế quản là: dạng u sùi, dạng thâm nhiễm, dạng phù nề, dạng
loét- chảy máu và dạng đè ép từ ngoài vào làm hẹp lòng phế quản. Ngoài ra,
18
qua soi phế quản chúng ta cũng đánh giá được tình trạng liệt dây thanh âm
trong những trường hợp u chèn ép dây thần kinh quặt ngược thanh quản.
Bên cạnh đó, qua soi phế quản, chúng ta có thể phối hợp các phương
pháp lấy bệnh phẩm như chải, rửa phế quản, chọc hút xuyên thành phế quản
giai đoạn hạch của UTP. Nội soi trung thất có độ nhậy từ 85%- 93%; độ đặc
hiệu từ 85- 100%. Tuy nhiên, hiện nay người ta không soi trung thất nhất loạt
mà thường thực hiện ngay trước khi phẫu thuật nhằm giảm tỷ lệ mở lồng
ngực vô ích, giảm tỷ lệ tử vong sau phẫu thuật [37].
Nội soi màng phổi là một thủ thuật thăm dò trực tiếp khoang màng phổi.
Thủ thuật này có thể được thực hiện với sự hỗ trợ của video mà ngày nay
người ta gọi là soi lồng ngực video. Sinh thiết qua nội soi màng phổi là một
phương pháp chẩn đoán thích hợp được lựa chọn đạt hiệu quả cao đối với BN
tràn dịch màng phổi kéo dài, nếu xét nghiệm dịch màng phổi và sinh thiêt
màng phổi kín nhiều lần không có chẩn đoán xác định.
Ngoài ra, còn có thể sinh thiết hạch thượng đòn, hạch nách, hạch bẹn,
sinh thiết thân đốt sống, sinh thiết u gan để xác định sự di căn của UTP.
Các chất chỉ điểm ung thư (Tumor marker). Hiện nay trên thế giới có rất
nhiều marker đã được nghiên cứu trên các bệnh nhân ung thư như CEA
(kháng nguyên ung thư biểu mô nguyên phát), NSE (enzym enolase đặc hiệu),
SCC (kháng nguyên ung thư biểu mô tế bào vảy). CYFRA 21-1 và nhiều
kháng nguyên khác. Mặc dù không có giá trị chẩn đoán xác định và độ đặc
hiệu không cao nhưng định lượng các marker này có giá trị trong đánh giá
hiệu quả của phương pháp điều trị và theo dõi tái phát [47].
1.2.3.3. Phân loại mô bệnh học ung thư phổi.
20
Theo phân loại mô bệnh học của Tổ chức Y tế Thế giới năm 1999 cho u
ở phổi và màng phổi, tổn thương được chia thành 9 týp và các biến thể như
sau [38, 39]
1. Ung thư biểu mô vảy
Các biến thể: dạng nhú; tế bào sáng; tế bào nhỏ; tế bào dạng đáy
2. Ung thư biểu mô tế bào nhỏ
3. Ung thư biểu mô tuyến Tcó các dạngTdạng nangU dạng nhúU tiểu phế
quản phế nangUkhông chế nhàyU chế nhàyUhỗn hợp chế nhày và không chế
nhày hay loại tế bào trung gianUung thư biểu mô tuyến đặc với chất nhày.
Mặc dù nhận ra có nhiều nhóm nhỏ mới trong các ký hiệu T và M nhưng
nhóm giai đoạn đã không được thêm bất kỳ nhóm nhỏ mới nào. Tuy nhiên,
định nghĩa những nhóm giai đoạn đã trở nên phức tạp hơn bởi thêm những
dưới nhóm của ký hiệu T và M VX (xem phần phụ lục 3).
%V2Y#.<,#.012
Trước khi điều trị phải chuẩn bị chu đáo về mọi vấn đề: cần được xếp
loại theo hệ thốngTNM, cần được làm siêu âm, chụp cắt lớp vi tính não, xạ
hình xương toàn thân xem có xâm lấn ung thư vào xương hay không. Định
lượng các chỉ thi u (NSE, LDH) lựa chọn khi thật cần thiết không phải là xét
nghiệm thường qui. Điều trị ung thư phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm loại
ung thư (UTPTBN hay UTPKTBN), kích thước, vị trí, phạm vi của khối u,
tình trạng sức khỏe chung của bệnh nhân. Có thể áp dụng nhiều phương pháp
điều trị khác nhau hoặc kết hợp các biện pháp để kiểm soát bệnh UTP, và/
hoặc cải thiện chất lượng cuộc sống bằng cách làm giảm triệu chứng. Về mặt
22
điều trị thường dựa vào typs mô bệnh học, có 9 loại typs MBH và thường gặp
5 loại nhưng trên lâm sàng chia thành 2 loại: Ung thư loại không phải tế bào
nhỏ (UTPKTBN) và ung thư loại tế bào nhỏ (UTPTBN) [40], [41].
Trên lâm sàng tùy từng loại ung thư mà người ta có những phương pháp
điều trị khác nhau, có thể điều trị nội khoa, ngoại khoa, hóa trị , xạ trị.
Song song với điều trị ung thư cần điều trị triệu chứng tùy từng trường
hợp cụ thể: giảm đau: sử dụng các thuốc giảm đau (theo phác đồ bậc thang
của Tổ Chức y tế Thế giới), điều trị khó thở, giảm ho, điều trị ho máu…
Điều trị những biểu hiện di căn não, xương, gan, thận…
JZ&[\J])^_
`322aPb2-M9.#12
1.3.1.1. Mốc xác định tuổi già
Tích tuổi và lão hóa là những quá trình sinh lý tự nhiên diễn ra trong sự
phát triển của mỗi con người. Về mặt sinh học, cơ thể bắt đầu có các dấu hiệu
suy giảm chức năng từ khi bước vào tuổi 30. Từ thời điểm này, tỉ lệ các bệnh
được thể hiện bởi nhịp độ phát triển của nó, đó là đặc điểm mức độ biến đổi
theo tuổi của các hệ thống khác nhau lúc cao tuổi. Mặc dù còn chưa thống
nhất ý kiến về mặt sinh học, nhưng từ góc độ sinh lý, thì già hóa ở người là sự
giảm dần dự trữ hằng định nội mô của mọi hệ thống cơ quan. Sự suy giảm
này thấy rõ từ tuổi 39, tuy tốc độ và mức độ khác nhau nhưng quá trình này
diễn ra một cách từ từ và tuần tiến.
Già hóa liên quan đến những biến đổi nhịp sinh lý của các tổ chức.
Những biến đổi theo tuổi quan trọng nhất: giảm biên độ các tiến trình sinh lý
nhịp ngày đêm (24h) như thân nhiệt, cortisol huyết tương và giấc ngủ; mất
24
đồng bộ khác nhịp hoặc “lệch nội pha”… Khả năng phục hồi sinh lý chậm
chạp đối với hầu như tất cả các cơ quan, hệ thống. Suy giảm bài tiết các
hormone là một trong những mốc đánh dấu già hóa sinh học. Sự biến đổi
nhịp tim, huyết áp động mạch, tần số điện não, tần số nghe, dao động và run
sinh lý theo tuổi…Sự biến đổi rõ nhất ở hệ thống thần kinh và tuần hoàn.
Sự già hóa của con người là một quá trình sinh lý diễn ra không đồng
đều, không đồng thì. Các hệ thống riêng biệt, các khâu riêng biệt của hệ
thống, các tế bào khác nhau, các cơ quan khác nhau hóa già không đồng thì.
Sự già hóa biểu hiện rõ bằng sự mất khả năng thích nghi, khả năng điều
hòa các bộ phận hơn là sự suy kém chức năng riêng lẻ của từng bộ phận. Tốc độ
già hóa phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố nội môi. Việc duy trì cân bằng nội môi
cực kỳ quan trọng, vì nếu nó rối loạn thì cuộc sống sẽ không tồn tại được. Sự già
hóa kéo theo hàng loạt những thay đổi sinh lý ở các hệ thống khác nhau
1.3.1.3. Sinh lý của hệ hô hấp ở người cao tuổi
Khi phân tích những biến đổi nẩy sinh trong quá trình lão hóa cơ thể của
hệ thống hô hấp, việc trước tiên phải chú ý đến là còng lưng và biến dạng
lồng ngực. Calci hóa và mất dần tính đàn hồi sụn sườn sẽ làm giảm khả năng
di động các khớp cột sống- xương sườn. Sự thu theo các sợi cơ, đặc biệt là cơ
gian sườn và cơ hoành, việc tăng sinh các tổ chức xơ, ngưng đọng mỡ giữa
các sợi cơ… đã tạo nên những đặc điểm chung biến đổi lồng ngực lúc về già.
2,5 triệu người) nhưng đến năm 1985 đã tăng lên 12% (28,5 triệu người) và
dự báo đến năm 2020 NCT có thể chiếm tới 24,6% dân số (khoảng 65 triệu
người [10]. Tương tự, ở Anh, tỷ lệ người cao tuổi cũng tăng từ 8% (năm
1901) lên tới 20% vào năm 1998 [28]. Riêng ở các nước châu Á, số lượng
NCT đã tăng lên gấp đôi trong vòng hai mươi năm từ năm 1980 đến năm