mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân ung thư đại trực tràng được điều trị phẫu thuật tại bệnh viện k từ tháng 12 - Pdf 23

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư đại trực tràng là ung thư thường gặp của đường tiêu hóa. Bệnh
thường gặp ở các nước phát triển, và đang có chiều hướng tăng nhanh ở cả
các nước đang phát triển như Việt Nam. Bệnh là nguyên nhân gây tử vong thứ
2 sau ung thư phổi. Theo ước tính của SEER năm 2010 có khoảng 142.570
trường hợp ung thư đại trực tràng mới mắc trong đó 51.370 trường hợp tử
vong[1]. Tại Việt Nam theo ước tính năm 2010 cả nước có khoảng 5434
người mới mắc đứng hàng thứ 4 ở cả hai giới , trong đó tỉ lệ mắc của nam và
nữ tương ứng là 19,0 và 14,7 trên 100.000 dân[2].
Phẫu thuật là phương pháp điều trị triệt căn trong ung thư đại trực
tràng. Nguyên tắc phẫu thuật là lấy hết tổ chức ung thư, đảm bảo diện cắt an
toàn, nạo, vét hạch vùng, lập lại lưu thông tiêu hóa. Ngày nay điều trị phẫu
thuật Ung thư đại trực tràng đang thay đổi nhờ những tiến bộ trong chẩn đoán
như : CT, siêu âm nội trực tràng… có những kỹ thuật ngoại khoa mới như kỹ
thuật khâu nối đại tràng ống hậu môn, kỹ thuật khâu máy, kỹ thuật mổ nội
soi… Xu hướng là tăng cường điều trị bảo tồn và điều trị phối hợp với xạ trị,
hóa trị liệu, điều trị miễn dịch[3].
Tuy nhiên trong khi vấn đề phẫu thuật điều trị ung thư đại trực tràng có
nhiều tiến bộ và cải tiến mới đem lại kết quả điều trị ngày càng tốt hơn thì
trong vấn đề chăm sóc và dinh dưỡng cho bệnh nhân sau mổ tại Việt Nam
chưa có nhiều thay đổi. Dinh dưỡng thông thường cho bệnh nhân sau mổ ở
Việt Nam vẫn là truyền dịch qua đường tĩnh mạch và cho ăn qua đường
miệng muộn.
Vai trò của phương pháp cho ăn sớm qua đường miệng sau mổ ung thư
đại trực tràng là một vấn đề gây tranh luận nhiều. Các bệnh nhân sau mổ
thường suy dinh dưỡng( Hill 1977,Lennard- Jones 1992;McWhirter 1994)[4]
[5]. Trước mổ bệnh nhân thường cảm thấy buồn nôn và cảm giác đói bụng.
Sau mổ kinh điển vẫn là truyền dịch nhiều ngày sau đó cho ăn lỏng. Trong
2
vòng 24 giờ đầu sự đói làm thay đổi chuyển hóa của cơ thể dẫn tới sự kháng

1.1 Một số đặc điểm về giải phẫu học của đại trực tràng.
1.1.1 Hình thể và cấu tạo:
Đại tràng là phần cuối cùng của ống tiêu hóa tiếp theo hồi tràng ở góc
hồi manh tràng đi tới trực tràng. Đại tràng dài trung bình 1,5 m. Đại tràng
ngang và đại tràng Sigma có chiều dài thay đổi nhiều hơn. Toàn bộ đại tràng
tạo thành khung hình chữ U ngược quây lấy tiểu tràng gồm Manh tràng và
Ruột thừa, đại tràng lên, góc gan hay góc phải, đại tràng ngang, góc trái hay
góc lách, đại tràng xuống, đại tràng Sigma. Đại tràng to hơn tiểu tràng, có dải
dọc cơ, bờm mỡ, và các bướu. Các đoạn di động gồm manh tràng, đại tràng
ngang và đại tràng Sigma. Các đoạn cố định vào thành bụng sau là đại tràng
lên và đại tràng xuống.
Trực tràng là đoạn cuối của ống tiêu hóa, phía trên tiếp nối với đại
tràng Sigma, tương ứng với đốt sống cùng thứ 3(S3), phía dưới tiếp nối với
ống hậu môn. Trực tràng dài 12-15cm gồm 2 phần: Phần trên phình to để
chứa phân gọi là bóng trực tràng, phần dưới hẹp để giữ và tháo phân gọi là
ống hậu môn.
Cả đại tràng và trực tràng đều có cấu tạo gồm 4 lớp từ ngoài vào trong
là lớp thanh mạc, lớp cơ, lớp dưới niêm mạc và lớp niêm mạc. Riêng phần
tầng sinh môn của trực tràng không có thanh mạc, là lớp mỡ quanh trực tràng
dính với lớp cơ.
1.1.2. Mạch máu
Đại tràng được nuôi dưỡng bởi 2 nguồn động mạch là động mạch mạc
treo tràng trên và động mạch mạc treo tràng dưới. Động mạch mạc treo tràng
trên cấp máu cho ruột thừa, manh tràng, đại tràng lên và nửa phải đại tràng
4
ngang. Động mạch mạc treo tràng dưới cấp máu cho nửa trái đại tràng ngang,
góc trái đại tràng xuống và đại tràng sigma. Các tĩnh mạch của toàn bộ đại
tràng được đổ vào tĩnh mạch mạc treo tràng trên và tĩnh mạch mạc treo tràng
dưới rồi đổ vào tĩnh mạch cửa.
Trực tràng được cấp máu bởi các động mạch sau: Động mạch trực

căn nhất. Các nhóm trên, giữa và dưới có tiếp nối với nhau. Nhìn chung dòng
bạch huyết trực tràng có hướng đi lên trên và sang 2 bên, đó cũng là hướng
lan tỏa của ung thư trực tràng theo đường bạch huyết.
1.1.4. Chi phối thần kinh của đại trực tràng:
Thần kinh chi phối cho đại tràng bắt nguồn từ 2 nguồn là thần kinh giao
cảm và thần kinh đối giao cảm. Manh tràng, ruột thừa, đại tràng lên và 2/3
phải đại tràng ngang nhận thần kinh giao cảm từ các hạch thần kinh bụng và
hạch thần kinh mạc treo tràng trên; và nhận thần kinh đối giao cảm từ các dây
thần kinh X. Thần kinh được dẫn tới ruột theo các đám rối quanh các nhánh
động mạch mạc treo tràng trên. Một phần ba trái đại tràng ngang, đại tràng
xuống, đại tràng Sigma, trực tràng và nửa trên ống hậu môn nhận thần kinh
giao cảm từ các hạch thần kinh thắt lưng của thân giao cảm và từ đám rối hạ
vị trên, qua các đám rối quanh các nhánh của động mạch mạc treo tràng dưới.
Chi phối thần kinh đảm bảo chức năng chỉ huy hoạt động của bộ máy
trực tràng- hậu môn. Thần kinh vận động cơ tròn ngoài và cơ nâng hậu môn là
dây thần kinh hậu môn, thần kinh cơ tròn bé và thần kinh cơ tròn sau. Đó là
các nhánh của đám rối thẹn, phát sinh chủ yếu từ đôi dây thần kinh cùng 3 nối
với cùng 4. Chi phối thần kinh cơ tròn trong do các nhánh giao cảm và phó
giao cảm đi từ đám rối hạ vị. Thần kinh cảm giác nhận cảm theo sự chứa đầy
của bóng trực tràng gồm phân đặc, nước hoặc hơi. Đường đi cảm giác tự chủ
6
chạy dọc theo các thần kinh hậu môn,thần kinh cơ tròn trước và sau. Đường
dẫn truyền tự động theo về đám rối hạ vị. Người ta đã xác định được các thụ
cảm bóng trực tràng nằm ở phần sàn, trong cơ nâng hậu môn.
1.2. Sinh lý đại trực tràng
1.2.1. Sinh lý đại tràng:
Hai chức năng chính của đại tràng là hình thành và thải tiết phân ra
ngoài. Việc hình thành phân có 2 quá trình. 1. Quá trình hoàn tất việc chuyển
hóa các thành phần của thức ăn, hình thành các khí trong ruột với vai trò quan
trọng của quần thể vi khuẩn tại đại tràng. 2. Quá trình hút nước điện giải và

Cơ chế phản xạ: Khi phân làm căng bóng trực tràng, các xung động
thần kinh tạo cảm giác buồn đi ngoài, trực tràng co rút lại và đẩy phân vào
ống hậu môn, phần mu trực tràng của cơ nâng hậu môn dãn ra, phân thoát ra
ngoài. Khi tháo phân, một phần niêm mạc dưới hậu môn lộn ra ngoài rồi tự co
vào khi cơ thắt hậu môn và cơ nâng hậu môn co lại. Thần kinh chỉ huy tháo
phân( ở đốt sống cùng 2,3,4) gồm cảm giác, phó giao cảm, và điều tiết nhận
cảm bản thể.
Cơ chế kiểm soát tự chủ: Được điều khiển ở cùng 2,3,4 chi phối bởi
thần kinh trung ương. Nếu bị chấn thương tủy sống sẽ dẫn đến rối loạn tháo
phân, phải thụt hoặc moi. Ung thư giai đoạn muộn phá hủy thần kinh hoặc do
nhiễm trùng hoặc do phẫu thuật sai làm hủy hoại thần kinh sẽ gây ra khó ỉa
hoặc táo bón hoặc ỉa són không tự chủ.
1.3. Dịch tễ học và sinh bệnh học của ung thư đại trực tràng
1.3.1. Dịch tễ học
Tỷ lệ mắc ung thư đại trực tràng rất khác nhau giữa các quốc gia và khu
vực trên thế giới. Bệnh hay gặp ở các nước phát triển. Ung thư đại trực tràng
8
có tần số cao ở Bắc Mỹ, Tây Âu. Tỷ lệ mắc thấp ở châu Phi, châu Á và một
số nước Nam Mỹ.
Ở Pháp hàng năm có trung bình 25.000 ca ung thư đại trực tràng mới
được chẩn đoán và khoảng 15000 ca tử vong do ung thư đại trực tràng[13].
Ở Mỹ thống kê hàng năm có 61000 ca tử vong do ung thư đại trực
tràng và khoảng 151.000 ca mới mắc[14].
Tỷ lệ mắc ở một số quốc gia và khu vực:
Nigeria: 3,4/100000 dân
Mexico: 3/100.000 dân
Nhật: 7/100.000 dân
Mỹ: 17/100.000 dân
New zealand: 24/100.000 dân
Hà Nội: 7,5/100.000 dân

chứng ung thư đại tràng gia đình( Familial colorectal cancer
syndrome) và Lynch II: Hội chứng ung thư biểu mô tuyến di truyền
( Hereditary adencarcinomatosis syndrome) [18] [19].
Gen sinh ung thư: Sự thay đổi gen dẫn đến ung thư bao gồm: Sự thay
đổi gen sinh ung thư nguyên thủy, mất chức năng gen kháng u, đột biến
gen liên quan đến sửa chữa DNA tổn thương.
* Các yếu tố khác
Tuổi, giới: Tỷ lệ mắc ung thư đại tràng tăng lên theo tuổi, nguy cơ mắc
tăng lên gấp đôi sau mỗi thập niên của đời người, thường gặp ở những người
trên 50 tuổi. Đa số các nghiên cứu cho thấy nam có xu hướng mắc nhiều hơn
nữ. Ở Việt Nam ung thư đại tràng đứng thứ 5 ở cả 2 giới.
10
Các tổn thương tiền ung thư: Các u tuyến lành tính( polyp). Các bệnh lý
khác: Cắt túi mật, cắt ruột thừa, viêm loét đại tràng…
* Cơ chế gây ung thư
Ngày nay sự xuất hiện của ung thư đại tràng được biết đến như sự khởi
đầu của yếu tố môi trường, chế độ ăn, lối sống, các tác nhân gây ung thư bao
gồm sự nhiễm độc gen. Các tác nhân này khởi đầu cho một loạt các bước biến
đổi chuyển dạng tế bào lành tính thành ác tính và di căn ung thư.
1.3.2.2. Sinh bệnh học của ung thư trực tràng
Sinh bệnh học của ung thư trực tràng cũng tương tự như sinh bệnh học
của ung thư đại tràng nói chung. Hai yếu tố ảnh hưởng chính trong sự hình
thành của ung thư trực tràng là môi trường và lối sống. Các tác nhân gây ung
thư bao gồm sự nhiễm độc gen, nhiễm trùng, các tình trạng tiền ung thư…
Đột biến di truyền ở các mức độ khác nhau dưới tác động của 2 yếu tố này,
các tổn thương tiền ung thư hình thành và kết quả là sự xuất hiện của các khối
u và ung thư. Tổn thương tiền ung thư gồm: Các u tuyến lành tính, bệnh viêm
loét đại trực tràng, bệnh Crohn, bệnh ác tính phụ khoa…
1.4. Giải phẫu bệnh học, phân chia giai đoạn ung thư đại trực tràng
1.4.1. Giải phẫu bệnh học của ung thư đại trực tràng:

Ung thư biểu mô tế bào vảy( Squamous cell carcinoma)
Ung thư biểu mô tuyến vảy( Adenosquamous carcinoma)
Ung thư biểu mô không biệt hóa( Undiffirentiated carcinoma)
Ung thư biểu mô không xếp loại( Unclassified carcinoma)
- Các u carcinoid ( Carcinoid tumors):
Khối u ưa muối bạc( Argentaffin)
12
Khối u không ưa muối bạc( Nonargentaffin)
Các khối u hỗn hợp( Composite)
- Các u không biểu mô( Nonepithelial tumors) :
Ung thư cơ trơn ( Leiomyosarcoma)
Các ung thư khác
- U lympho ác ( Lymphoid neoplasm)
- Các u không xếp loại( Unclassified)
Ung thư biểu mô tuyến nhầy chiếm khoảng 17%, ung thư biểu mô tế
bào nhẫn hiếm gặp, chiếm 2-4 % trong ung thư biểu mô nhầy. Loại u
hiếm gặp khác là ung thư tế bào vảy, cho đến nay y văn mới thông báo
cho 40 bệnh nhân. U carcinoid và ung thư mô liên kết rất hiếm gặp.
Phân độ biệt hóa của ung thư biểu mô tuyến
Tùy theo mức độ biệt hóa của tế bào và tuyến trong mô ung thư, người
ta chia ra:
- Ung thư biểu mô tuyến biệt hóa cao: Cấu trúc tuyến đơn dày đặc,
biệt hóa cao, nhân các tế bào gần với nhân bình thường, ít có xu
hướng xâm nhập vào mô xung quanh và số nhân chia ít.
- Ung thư biểu mô tuyến biệt hóa vừa: Khối u giữ được cấu trúc tuyến
đơn nhưng thưa thớt, nhân tế bào biến đổi rõ rệt, xu hướng xâm lấn
và xuất hiện nhiều tế bào nhân chia.
- Ung thư biểu mô tuyến biệt hóa thấp: Cấu trúc của tuyến đơn hầu
như không còn. Các tế bào tập hợp ở dạng khối chắc hoặc dạng
tuyến kép. Sự phân cực tế bào rất nhiều xâm lấn lan tràn và rất nhiều

Di căn theo đường bạch huyết: Xâm lấn hạch thường xảy ra từ từ, gần
đến xa, dưới lên trên bắt đầu từ nhóm hạch thành trực tràng, cạnh trực tràng,
sau đó là nhóm hạch dọc động mạch trực tràng trên, động mạch mạc treo
14
tràng dưới, rồi đến động mạch chủ bụng. Sự xâm lấn vào nhóm hạch dọc
động mạch trực tràng giữa và dưới ít gặp hơn.
Di căn theo đường mạch máu: Theo tĩnh mạch trực tràng trên đổ về hệ
tĩnh mạch cửa. Theo tĩnh mạch trực tràng giữa về tĩnh mạch chủ dưới, chính
vì thế ung thư trực tràng hay di căn gan và phổi.
Di căn xa: Gan, phổi, phúc mạc, xương, não là các cơ quan hay bị di
căn xa nhất.
1.4.3. Phân chia giai đoạn của Ung thư đại trực tràng
Năm 1932 Dukes C.E lần đầu tiên chính thức mô tả hệ thống phân loại
trong ung thư trực tràng. Hệ thống của Dukes được áp dụng rộng rãi và luôn
được cải tiến bởi nhiều tác giả như Gabriel W.B, Bussey H.J.R(1935), Kirklin
J.W (1949). Năm 1967 Turnbull và cộng sự cải tiến phân loại Dukes thành 4
giai đoạn, áp dụng cho cả ung thư trực tràng và đại tràng
Năm 1954 Astler V.B và Coller F.A cải tiến hệ thống phân loại Dukes
chi tiết hơn. Hiện nay hệ thống này rất thông dụng trong lâm sàng và trao đổi
thông tin giai đoạn bệnh của AJCC, và các tác giả Anh- Mỹ.
Bảng 1.1. Xếp loại giai đoạn theo Dukes cải tiến
Dukes cải tiến Astler-Coller Tình trạng bệnh
A A Khối u xâm lấn lớp cơ
B B1
B2
Khối xu xâm lấn sát thanh mạc
Khối u xâm lấn vượt thanh mạc
C C1
C2
C3

M1 : Có di căn xa( di căn gan, phổi, não ).
16
1.5 Chẩn đoán ung thư đại tràng
1.5.1. Lâm sàng : Ung thư đại tràng thường phát triển âm thầm không có triệu
chứng đặc hiệu, bệnh có thể phát hiện sớm từ khi chưa có triệu chứng lâm
sàng nhờ test sàng lọc tìm máu tiềm ẩn trong phân
1.5.1.1 Triệu chứng cơ năng : Thường không đặc hiệu như đi ngoài phân
nhày máu hoặc tăng tần số rối loạn chức năng đường tiêu hóa như táo bón
hoặc đi ngoài phân lỏng. Những người trên 45 tuổi có thay đổi hoạt động
ruột( táo bón hoặc ỉa lỏng hoặc cả hai) trên 2 tuần cần nghĩ tới Ung thư đại
tràng và những bệnh nhân có biểu hiện đi ngoài phân nhày máu cần được soi
đại tràng để chẩn đoán chính xác nguyên nhân, phân biệt với các bệnh lành
tính khác và tránh bỏ sót ung thư đại tràng.
Đau bụng là triệu chứng thường gặp, không đặc hiệu, giai đoạn đầu đôi
khi bệnh nhân chỉ có cảm giác mơ hồ khó chịu ở bụng, càng muộn, đau càng
khu trú, có khi đau quặn, trung tiện hoặc đại tiện được thì đỡ đau( dấu hiệu
Koenig dương tính). Đau dai dẳng kéo dài, dữ dội thường là biểu hiện của tắc
ruột. Đau dai dẳng kéo dài, dữ dội thường là biểu hiện của tắc ruột. Đây là
triệu chứng chiếm tỷ lệ cao ở nước ta khi mà đa số bệnh nhân đều đến viện ở
giai đoạn muộn.
1.5.1.2. Triệu chứng toàn thân :
Gày sút cân, mệt mỏi kéo dài, hoặc có thể có thiếu máu. Đây là các
triệu chứng không đặc hiệu với biểu hiện da xanh, niêm mạc nhợt trên lâm sàng,
xét nghiệm hồng cầu, hemoglobin, hematocrit đều giảm. Đa phần bệnh nhân
thiếu máu hay gặp là thiếu máu nhược sắc hồng cầu nhỏ. Trên lâm sàng trước
một bệnh nhân thiếu máu không rõ nguyên nhân, nếu đã loại trừ tổn thương tại
dạ dày, thì việc tìm kiếm bằng chứng của thiếu máu là rất quan trọng.
17
1.5.1.3. Triệu chứng thực thể
Khối u bụng : Khi khám thấy khối u bụng là triệu chứng quan trọng xác

1.5.2.3. Giải phẫu bệnh : Là tiêu chuẩn vàng giúp chẩn đoán chính xác thể
mô bệnh học của khối u.
1.5.2.4. Chụp cắt lớp vi tính ổ bụng :
Đánh giá tình trạng khối u nguyên phát, mức độ xân lấn xung quanh,
hạch ổ bụng và di căn xa đến các cơ quan khác như gan.
Ưu điểm : Bilan đánh giá ung thư đại tràng trước mổ
Thăm dò được cả ổ bụng và khung chậu
Nhược điểm : Không đánh giá được tổn thương dưới 1cm.
Bệnh nhân có thể bị dị ứng thuốc cản quang.
Hình ảnh CLVT của khối u đại tràng
Là khối u có tỷ trọng của nhu mô và ngấm thuốc sau tiêm.
Đa số biểu hiện dưới dạng dày thành và hẹp lòng đại tràng. Các ung thư
đại tràng đều ngấm thuốc sau tiêm với các mức độ : ít, vừa, mạnh.
Khối u lớn gây hẹp lòng ở giữa có thể hoại tử.
Xâm lấn tại chỗ : dày thành và thâm nhiễm mỡ xung quanh.
Hình ảnh di căn : Trong ổ bụng và trong khung chậu. Hạch có đường
kính > 10mm trên phim chụp CT Scanner được xem là hạch bất thường tuy
nhiên phim chụp CT không phân biệt được xem là hạch là lành tính hay ác
tính. Hạch lan rộng có thể phát hiện ở mạc treo và sau phúc mạc.
Di căn gan là phổ biến nhất. Sau tiêm thuốc cản quang tĩnh mạch CT
Scanner có thể phát hiện di căn gan là những vùng giảm tỷ trọng, bờ viền rõ nét.
19
1.5.2.5. Siêu âm bụng :
Ngày nay siêu âm được tiến hành thường quy ở những bệnh nhân có
triệu chứng ung thư đại tràng. Vai trò của siêu âm đặc biệt hữu hiệu trong việc
phát hiện các ổ di căn tại gan, đường mật, tụy hoặc thận. Finlay I.G và cộng
sự cho biết với các ổ di căn từ 2cm trở lên, siêu âm có độ nhạy tương đương
với CT Scanner. Stone M (1994) thông báo có từ 10-12% bệnh nhân được tìm
thấy di căn gan lặng lẽ bằng siêu âm trong mổ.
Các ổ tăng âm trong gan, đường mật thường là hình ảnh của ổ di căn

Thăm trực tràng : Là thăm khám rất quan trọng. Với kỹ thuật thăm trực
tràng đúng có thể phát hiện được hầu hết các ung thư trực tràng ở đoạn 9-10
cm cách rìa hậu môn. Qua thăm trực tràng, có thể sờ thấy một ổ loét thành
cao, đáy cứng và không đều hoặc một khối u sùi, mủn trên nền cứng vượt ra
ngoài giới hạn u hoặc một đoạn lòng trực tràng vài cm hẹp cứng, niêm mạc
cứng và không di động. Các tổn thương này dễ chảy máu và dính vào găng
ngón tay. Khi thăm trực tràng cần xác định các tính chất sau :
- Xác định khoảng cách từ rìa hậu môn đến tổn thương
- Nếu u không quá to có thể sờ thấy cực trên u qua đó có thể ước
lượng khối lượng u.
- Xác định mức độ phát triển liên quan đến chu vi lòng trực tràng,
xem nó chiếm bao nhiêu phần chu vi.
- Thăm dò tình trạng niêm mạc thành trực tràng quanh u xem có bị
thâm nhiễm, có polyp kèm theo hay không.
- Xác định mức độ xâm lấn xung quanh : đẩy u lên cao hoặc đẩy qua
đẩy lại xem u còn di động hay không hay đã dính chặt vào cơ quan
21
lân cận. Ở bệnh nhân nữ, chú ý thăm khám âm đạo xem có xâm lấn
vào thành âm đạo chưa.
- Thăm khám bụng và toàn thân để phát hiện di căn gan, dịch ổ bụng,
hạch bẹn và hạch Troisier
1.6.1.3. Triệu chứng thực thể :
Bệnh nhân có thể trong tình trạng gầy mòn, mệt mỏi, sốt kéo dài, thiếu
máu không rõ nguyên nhân.
Các dấu hiệu toàn thân đôi khi xuất hiện đơn độc.
1.6.2. Cận lâm sàng :
1.6.2.1. Nội soi trực tràng : Nội soi trực tràng ống cứng có thể soi được 20-
25 cm cuối cùng của ống tiêu hóa, phát hiện các tổn thương, cắt polyp ở ống
hậu môn trực tràng và một phần đại tràng Sigma. Nội soi đại trực tràng ống
mềm cho phép quan sát trực tiếp các tổn thương từ hậu môn tới manh tràng.

một tiến bộ trong chẩn đoán và theo dõi điều trị bệnh lý của cơ quan vùng
chậu. Siêu âm nội soi trực tràng được Hiderbrand và Feifel mô tả đầu tiên
năm 1985, kỹ thuật này cho phép đánh giá sự xâm lấn của ung thư tại thành
trực tràng, các tạng xung quanh và di căn hạch.
Ngày nay siêu âm nội soi trực tràng đã trở thành một kỹ thuật phổ biến
trên thế giới như một kỹ thuật thường quy trong chẩn đoán và điều trị ung thư
trực tràng[20] [21] [22] [23].
1.6.2.6.Chụp CT Scanner và MRI : Giúp cho việc đánh giá sự xâm lấn các
tạng lân cận và di căn hạch vùng tiểu khung.
1.6.2.7. Siêu âm ổ bụng : Là phương pháp tốt nhất để xác định ung thư di căn
gan, giãn bể thận niệu quản.
23
1.6.2.8. Chụp X quang phổi : Tìm di căn phổi.
1.6.2.9. Các xét nghiệm khác : Soi bàng quang, chụp hệ tiết niệu tĩnh mạch
khi nghi ngờ Ung thư trực tràng thâm nhiễm bàng quang, niệu quản. Soi đại
tràng với ống mềm để phát hiện các tổn thương phối hợp ở đại tràng, đặc biệt
các tổn thương ở giai đoạn sớm.
1.7. Điều trị phẫu thuật ung thư đại trực tràng
1.7.1. Điều trị phẫu thuật ung thư đại tràng
1.7.1.1. Phẫu thuật triệt căn
Các phẫu thuật được coi là triệt căn là phẫu thuật đạt mục đích lấy bỏ
triệt để khối u với khoảng cách an toàn, kể cả các khối di căn nếu có. Ngay cả
khi các khối u gây ra các biến chứng tắc, thủng ruột, viêm phúc mạc, vẫn còn
cơ hội để mổ triệt căn tuy rằng với tỷ lệ thấp hơn[24].
Phẫu thuật triệt căn cần đảm bảo nguyên tắc 1) Cắt bỏ triệt để khối ung
thư đại tràng với đầy đủ khoảng cách an toàn trên dưới u 5 cm và các tổ chức
bị xâm lấn di căn. 2) Cắt bỏ mạc treo chứa các mạch máu nuôi dưỡng đoạn
ruột chứa u và các hệ thống bạch huyết tương ứng một cách rộng rãi. 3) Đánh
giá giai đoạn bệnh bằng quan sát, thăm khám bằng tay, đánh giá mức độ lan
rộng tại chỗ của ung thư và di căn xa đến các tạng khác trong ổ bụng 4) Lập

đầu ruột dưới đưa đầu ruột trên ra làm HMNT, nối ruột có thể thực hiện ở lần
phẫu thuật sau. Áp dụng với ung thư đại tràng sigma hoặc ở phần cao trực
tràng[24].
1.7.1.2. Phẫu thuật tạm thời :
Là các phẫu thuật chỉ nhằm làm giảm các triệu chứng, biến chứng hoặc
hậu quả xấu của ung thư mà không lấy bỏ triệt để các khối u đó.
25
Cắt u không triệt để : Đây là phương pháp cắt u ở đại tràng nhằm loại
bỏ các biến chứng trực tiếp của nó như tắc ruột, chảy máu, thủng u mà không
còn khả năng cắt khối di căn . Corman M.L, Storer E.H, Golderg S.M,
Nivatvongs S, khuyến cáo mạnh mẽ rằng bao giờ cũng nên cắt u nếu có thể,
kể cả khi có di căn lan tràn. Phẫu thuật này ít có ý nghĩa trong nâng cao sống
thêm sau mổ nhưng lại cải thiện chất lượng cuộc sống cho thời gian sống còn
lại của bệnh nhân. Bệnh nhân giảm được đau do u và có thể tránh phải mang
hậu môn nhân tạo. Loại bỏ nguy cơ viêm phúc mạc do thủng u hoặc chảy máu
ồ ạt.
Hậu môn nhân tạo : Năm 1710-1783, Litress A.S, Pillore L.G, Dubois
lần lượt thực hiện mở thông đại tràng, đây là phẫu thuật chủ động nhằm thoát
phân và hơi ra ngoài qua thành bụng, thực hiện khi khối u đại tràng gây tắc
hoặc có nguy cơ gây tắc ruột mà không thể cắt bỏ.
Nối tắt- dẫn lưu trong : Là phẫu thuật nhằm lập lại lưu thông tiêu hóa
bằng cách nối hồi- đại tràng hoặc đại tràng- đại tràng nhằm tạo lưu thông lưu
thông ruột theo đường tắt không qua đoạn ruột chứa u, khi các khối u gây tắc
ruột mà không có khả năng cắt bỏ.
1.7.2.Điều trị phẫu thuật ung thư trực tràng :
1.7.2.1. Phẫu thuật triệt căn điều trị ung thư trực tràng :
* Nguyên tắc của phẫu thuật triệt căn :
- Lấy toàn bộ khối u và phần ruột trên dưới u sao cho hết tế bào ung thư.
- Lấy toàn bộ hệ bạch huyết theo khối u.
- Làm giảm thiểu những bất thường về lưu thông ruột về chức năng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status