B Y T
BNH VIN DA LIU TRUNG NG
===========
CNG
Khảo sát tình hình nhiễm vi nấm
Malassezia.spp
ở một số bệnh da thờng gặp tại bệnh viện Da liễu
TW từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2012
Nhúm nghiờn cu:
PGS.TS. Trn Hu Khang
BSCKII. Nguyn Th Xuõn
Th.S.Trn Mn Chu
Th.S. Trn Cm Võn
Th.S. Nguyn Minh Thu
C vn chuyờn mụn: PGS.TS Trn Lan Anh
H NI - 2012
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm nấm là một trong những bệnh khá phổ biến trên thế giới. Nấm
tồn tại ở khắp mọi nơi: môi trường đất, nước, không khí, ở thực vật, động
vật và trên cả cơ thể người. Khi gặp điều kiện thuận lợi như nóng ẩm, sang
chấn, sức đề kháng suy giảm…nấm sẽ phát triển và gây bệnh. Bệnh do nấm
gây ra gặp nhiều ở các nước nhiệt đới và ôn đới. Bệnh có thể gặp ở cả
người lớn và trẻ em [1],[2].
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ và độ ẩm cao
là điều kiện thuận lợi cho vi nấm phát triển và dễ dàng gây nhiễm nấm ở
người. Những năm gần đây, tỷ lệ nhiễm nấm thông thường do ý thức kém và
điều kiện vệ sinh thiếu thốn đã giảm nhiều. Tuy nhiên, do sự xuất hiện đại
dịch HIV/AIDS cùng với việc ứng dụng những thành tựu mới của y học hiện
đại như: Ghép tạng, dùng thuốc ức chế miễn dịch, hoá trị, xạ trị điều trị ung
và viêm da cơ địa.
2. Bước đầu đánh giá mức độ nhiễm Malassezia spp ở một số bệnh da
bằng kỹ thuật KOH kết hợp Parker ink.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số đặc điểm nấm gây bệnh ở người
1.1.1 Đặc điểm chung
- Nấm (Fungi, Mycetes), là những sinh vật dị dưỡng, thuộc Giới nấm,
có cấu tạo đơn bào hoặc đa bào. Nấm không có diệp lục tố nên không tự tổng
hợp được chất dinh dưỡng từ ánh sáng mặt trời. Nấm sống hoại sinh trên
những cá thể đã chết hoặc ký sinh trên những phần cá thể sống khác. Một số
loài có thể sống theo cả hai cách trên. [3,6].
- Đặc điểm sinh thái
+ Nấm phát triển cần hai điều kiên không thể thiếu là nhiệt độ và độ ẩm
thích hợp. Với nhiệt độ tối ưu để nấm phát triển là 28 - 37ºC và độ ẩm môi
trường cao, khoảng >70%.
+ Nấm có thể phát triển môi trường nghèo dinh dưỡng, vì vậy việc
phòng tránh nấm gặp nhiều khóa khăn
+ Nấm sinh sản nhanh, nhiều và dễ dàng nên việc điều trị nấm phải tận gốc
+ pH: nấm phát triển dải pH rộng (3-10), nhưng thường ưa môi trường
kiềm hơn. Tốt nhất là môi trường có pH= 6-6,5. Ở môi trường trung tính hoặc
kiềm nhẹ, vi khuẩn phát triển mạnh hơn nấm.
Đăc điểm dinh dưỡng
+ Nấm đòi hỏi chất hữu cơ sẵn có từ môi trường, chúng tiết các men đặc biệt
giúp phân giải các chất hữu cơ đó thành những hợp chất đơn giản để hấp thu.
4
+ Phần lớn phát triển môi trường đơn giản không cần vitamin, nhưng
một số cần thiamine, biotin… để phát triển.
Nấm có khả năng gây bệnh cho người và động vật. Đặc biệt ở người nấm
Hình 1.1. Phân loại vi nấm
6
1.1.1.3.2 Phân loại bệnh do nấm gây ra
- Nấm có thể gây ra 4 loại bệnh
+ Dị ứng với nấm (Hypersensitivity): là phản ứng quá mẫn đối với nấm
mốc và bào tử nấm.
+ Nhiễm độc nấm (Mycotoxicoses): người hoặc động vật ăn phải thức
ăn nhiễm nấm sinh ra các độc tố gây nhiễm độc.
+ Ngộ độc nấm (Mycetismus): ăn phải nấm độc gây ngộ độc cấp, có thể
dẫn tới tử vong.
+ Nhiễm nấm (Infection fungus): Hầu hết các loại nấm gây ra nhiễm
nấm không sinh ra các độc tố nhưng chúng có khả năng gây ra các rối loạn
sinh lý như làm tăng chuyển hóa biến đổi cấu trúc màng.
- Trong thực tế việc phân lập nấm còn nhiều tranh cãi, nhưng có một số
phương pháp thường được áp dụng trong thực tiễn lâm sàng [12]
+ Bệnh nấm nông (superficial mycose) gây bệnh ngoài da
+ Bệnh nấm dưới da (subcuntaneous mycoses) gây các bệnh khu trú
vùng dưới da thường chỉ liên quan đến chi dưới, rất ít lan rông…
- Ngoài ra dựa và vị trí gây bệnh chia làm hai loại [11]
+ Nhiễm nấm nông: gồm các loại nấm da và dưới da 1-2 mm
+ Nhiễm nấm sâu: nấm xâm nhập vào các mô của cơ thể như các loại
nấm nội tạng, nấm não, nhiễm nấm máu
- Nhiễm nấm phân chia theo căn nguyên
+ Căn nguyên nội sinh: Một số chủng nấm thường sống ký sinh trên da,
đường tiêu hóa và âm đạo, khi sức đề kháng giảm sút hoặc điều kiện sống tại
chỗ thay đổi như: mất cân bằng vi hệ, thay đổi pH da…thì chúng gây bệnh cơ
hội ở vùng này.
7
+ Căn nguyên ngoại sinh: khi hít phải các bào tử nấm trong không khí
hoặc ăn phải các thức ăn có nhiễm nấm, gây ra các bệnh nấm đường hô hấp,
Bản tiếp tục tìm ra thêm 4 loài mới nữa. Hiện nay số loài Malassezia có
khoảng hơn 11 loài: M. globosa, M. restricta, M. sympodialis, M. furfur,
M. obtusa, M. slooffiae, M. pachydermatis, M. japonica, M. nana, M.
dermatis and M. yamatoensis [17]. Các nhà khoa học tiết lộ đã xác định
được thêm 3 loài mới và đang tiếp tục tìm kiếm một số loài gây bệnh da
nữa, sẽ công bố trong thời gian gần đây [20]. Từ đó các nhà khoa học
đã thống nhất dưới tên gọi vi nấm là Malassezia.spp [18],[19].
Gần đây trên thưc tế tại bệnh viện Da liễu TW số bệnh nhân đến khám
cung như làm xét nghiệm tìm nấm rất đông và đa dạng. Trong đó, vi nấm
Malassezia.spp bội nhiễm trên một số bệnh da thông thường chiếm tỷ lệ khá
cao. Theo ICD những bệnh da thông thường gồm rất nhiều bệnh nhưng trong
khuân khổ nghiên cứu này chúng tôi chỉ đề cập những bệnh da thường gặp
liên quan đến Malassezia.spp như: Lang ben, viêm da dầu, viêm da cơ địa.
1.3 Đặc điểm Malassezia.spp
Trước đây, Malassezia được biết đến như một vi nấm men thuộc hệ vi sinh
vật bình thường trên da người và cả ở động vật. Và lâu nay người ta vẫn
cho rằng Malassezia không phải tác nhân gây bệnh cho dù là căn nguyên
tiên phát hay bội nhiễm thứ phá bởi con người đã cố chứng minh rằng họ
vẫn thích nghi và kiểm soát được loài vi nấm ký sinh này. Nhưng vài thập
kỷ gần đây rất nhiều nghiên cứu khác nhau ở nhiều nơi trên thế giới đã cho
biết vi nấm này được chú ý rất nhiều trong cơ chế bệnh sinh của một số
bệnh da thường gặp như: Viêm da cơ địa, viêm da dầu, gầu da đầu [19],
[20], [22], [23]
Malassezia là nấm men ưa lipid, đa phần các loài gây bệnh cho người như:
M.globosa, M. furfur, M. dermatits, M.sympothealis Chúng thường biểu
hiện ở mọi lúa tuổi và trong rất nhiều bệnh lý với nhiều vị trí khác nhau
10
nhưng chủ yếu là độ tuổi thanh niên có liên quan vùng da mỡ. Ngoài ra,
một số loài khác gây bệnh móng và gây bệnh cơ quan, hệ thống. Bên cạnh
đó, có một số loài gây bệnh chủ yếu ở động vật như: M.pachydermatis.
sinh sản rồi xâm nhập vào mô. Mỗi hình thái nấm như: Sợi nấm, bào tử nấm
hoặc tế bào nấm men có tính kháng nguyên đặc trưng khác nhau. Do đó, khi
xâm nhập vào cơ thể nấm gây ra sự đáp ứng miễn dịch với cơ thể vật chủ và
sẽ có hai cơ chế bảo vệ: Miễn dịch dịch thể và miễn dịch qua trung gian tế
bào [26].
Trong quá trình trao đổi chất vì lý do nào đó è thiếu hụt gen mã hóa
Enzym tổng hợp axit béoè vi nấm không tự tổng hợp axit béo è sử dụng
nguồn axit béo từ bên ngoài.
- Xu hướng tìm vùng giàu chất bã nhờn: da đầu, mặt, lưng, ngực…
Malassezia.spp tiết 8 loại Lipase và 3 loại Photpholipase
è
Thủy phân
axit béo trung tính
è
axit béo tự do
è
phản ứng trung gian tế bào
è
kích
hoạt con đường gây viêm [18]
- Khả năng né tránh và chống lại quá trình thực bào do:
+ Lớp lipid dày bao quanh tế bào nấm
+ Tính đa kháng nguyên và thay đổi thành phần tế bào.
1.5 Một số yếu tố thuận lợi
Bệnh do nấm Malassezia thường có nguồn gốc nội sinh do các loài
Malassezia phát triển quá mức gây bệnh, đặc biệt khi có điều kiện thuận lợi
[27],[28],[29],[15]
Các yếu tố thuận lợi hay gặp là:
12
* Yếu tố bên trong:
Thụy Sỹ cho biết tỷ lệ nhiễm Malassezia chiếm 87% ở nhóm trẻ em độ tuổi 2
tháng đến 15 tuổi. Nhưng cũng có một nghiên cứu ở Israell lại kết luận là
không tìm thấy vi nấm Malassezia ở nhóm trẻ em độ tuổi 2 tháng đến 15
tuổi [32]
Trên thế giới, tuỳ theo số liệu nghiên cứu của từng tác giả cho thấy viêm
da dầu chiếm khoảng 1-5% dân số [33], [22]. Tajima và cộng sự (2008)
nghiên cứu trên 31 bệnh nhân VDD cho thấy ở 93,5% vùng da bị tổn thương
có Malassezia và cao gấp 3 lần so với ở vùng da lành 61,3%. Ở người
nhiễm HIV/AIDS, tỷ lệ mắc bệnh viêm da dầu rất cao. Theo Betty Anne
Johnson tỷ lệ này là 85% [35]. Cũng theo nghiên cứu này cho biết ở những
bệnh nhân suy giảm miễn dịch bệnh thường nặng, dai dẳng và kém đáp ứng
với các phương pháp điều trị thong thường. Gần đây các nhà khoa học phát
hiện ra rằng M. globosa là nguyên nhân của hầu hết các trường hợp của
gàu. Nhiều nghiên cứu chứng minh gầu da đầu không chỉ ảnh hưởng tới
người bệnh ở góc độ bệnh lý như bong vẩy gầu nhiều, ngứa ngáy, khó chịu
mà còn ảnh hưởng tâm lý, không tự tin trong giao tiếp sinh hoạt, ảnh hưởng
trực tiếp đến chất lượng cuộc sống. [20]
Viêm da cơ địa là bệnh mạn tính có liên quan yếu tố di truyền. Thông
thường điều trị bằng corticoid, điều biến miễn dịch và dưỡng ẩm nhiều khi
không đáp ứng. Đặc biệt khi tình trạng da khô và chức năng da suy yếu là
điều kiện thuận lợi kích hoạt quá trình dị ứng bởi các vi sinh vật, bọ ve, bụi
nhà…Trong đó, phải kể đến vai trò vi sinh vật gây bệnh là một yếu tố quan
trọng làm trầm trọng hơn tình trạng bệnh.
14
Một nghiên cứu khác chỉ ra có hơn 90% VDCĐ vùng đầu và cổ có hàm
là lượng kháng thể IgE trong huyết thanh kháng lại kháng nguyên của
Malassezia. Trong đó có khoảng 83% VDCĐ ở người lớn liên quan đến
Malassezia [22]. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng chính việc lạm dụng thuốc điều
trị taị chỗ Corticoit cũng như các chất dưỡng ẩm và kết hợp một số yếu tố
liên quan khác đã vô hình chung tạo môi trường thuận lợi cho sự gia tăng số
Một số nghiên cứu liên quan đến biểu hiện bệnh da do Malassezia tại
Việt Nam; theo số liệu Trần Lan Anh điều tra ở một xã thuộc ngoại thành Hà
Nội thì Lang ben chiếm 3,1% trong số 513 người được khám [41]. Nghiên
cứu của Lê Anh Tuấn năm 2006 cho thấy viêm da dầu chiếm 1,5% số bệnh
nhân đến khám tại Bệnh viện Da liễu TW [42]. Nghiên cứu của Hoàng Thị
Phượng năm 2009 khoảng 2,13% [33]. Tại một phòng khám ở Việt Nam ghi
nhận có khoảng 16% bệnh nhân nhiễm vi nấm Malassezia ở nang lông. Ngoài
ra, sự tham gia của vi nấm Malassezia ssp vào quá trình gây bệnh trứng cá đã
được Lê Kinh Duệ đề cập đến. Nhưng theo tác giả này nhận định vai trò của
vi nấm là rất nhỏ so với vi khuẩn Propioni bacterium acnes trong sinh bệnh
học của trứng cá [9].
1.7 Một số biểu hiện bênh lý do nhiễm nấm Malassezia.ssp
1.7.1 Lang ben
Lang ben ( Pityriasis Versicolor - PV) là một bệnh mạn tính của lớp
sừng, gây ra bởi một nhóm nấm men trước đây có tên là Pityrosporium, nay
thống nhất dưới tên gọi là Malassezia.spp.
16
Bệnh gặp bất kỳ tuổi nào nhưng thông thường từ 20 - 45 còn trẻ em và
người già ít bị. Có một số quan điểm khác nhau về bệnh lang ben có lây hay
không? Theo Eduado Silva bình thường bệnh không lây vì nó thuộc vi hệ.
Nhưng dưới ảnh hưởng một số yếu tố thuận lợi: khí hậu nóng ẩm, tính chất da
thay đổi, sức đề kháng suy giảm…tạo điều kiện vi nấm tăng sinh và gây bệnh
[43]. Nhưng Jose Latoni thì cho rằng bệnh có thể lây do dùng chung ga
giường, quần áo.
* Triệu chứng lâm sàng
Bệnh biểu hiên thể điển hình với các triệu chứng rất dễ nhận biết. Đó là
đám màu hồng nâu, hình tròn, ranh giới rõ, đôi khi là những đám thuơng tổn
mất sắc tố. Thường khu trú vùng cổ, ngực, lưng, vai, cánh tay. Hiếm khi ở
cẳng tay, chân cũng như lòng bàn tay và bàn chân [44].
● Chẩn đoán của lang ben nói chung là đơn giản
tương đương với mức độ trầm trọng của bệnh là nhẹ, trung bình và nặng [15].
Đa số các nghiên cứu trên cho thấy mật độ Malassezia có liên quan đến
mức độ nặng, nhẹ của bệnh viêm da dầu và nhiều tác giả đều kết luận
Malassezia có mối quan hệ đặc biệt với tổn thương ở bệnh nhân VDD, nhưng
vai trò cụ thể của loài nấm này trong cơ chế bệnh sinh của VDD như thế nào
thì vẫn chưa được rõ ràng.
Tuy nhiên, ban đầu đã có vài giả thiết dần dần làm sáng tỏ vấn đề trên.
Theo Parry và Sharpe, Malassezia có thể gây phản ứng viêm do sản xuất ra
các chất gây độc trong một số trường hợp đặc biệt [29]. Các chất gây độc này
18
được các nhà nghiên cứu đặt tên là các chất hóa ứng động bạch cầu giống như
lipid (lipid-like leukocyte activator – LILA). Và điều này giải thích vì sao tiến
triển của VDD thường không dự đoán trước được. Ngoài đáp ứng viêm do
LILA, các acid béo kích ứng và acid arachidonic do Malassezia sản xuất ra
cũng góp phần gây phản ứng viêm ở bệnh nhân VDD.
* Triệu chứng lâm sàng
Biểu hiện dát đỏ, ngứa và vảy da bóng mỡ xuất hiện ở vùng da có nhiều
tuyến bã hoạt động. Theo các y văn trên thế giới các vị trí tổn thương thường
gặp trong bệnh VDD là những nơi tiết bã nhiều như da đầu, trán, rãnh mũi
má, mi mắt, cung mày, sau tai, ống tai ngoài, vùng trước xương ức, vùng liên
bả vai. Trong nghiên cứu Nguyễn Thị Phượng (2009) vị trí tổn thương
thường gặp nhất là rãnh mũi má 93%. Các vị trí ít gặp hơn là kẽ nách, nếp lằn
vú, rốn, vùng bẹn sinh dục và kẽ liên mông. Tuy nhiên, khi bệnh nặng tổn
thương có thể lan toả khắp cơ thể. Từ sự phân bố tổn thương trong bệnh VDD
có thể thấy rằng có sự liên quan rất mật thiết giữa vị trí da dầu với bệnh [33]
* Chẩn đoán xác định
- Chủ yếu dựa vào lâm sàng
- Để xác định căn nguyên có nhiễm nấm Malassezia ssp cần thiết phải
xét nghiệm soi tươi tìm nấm. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu trước đây chỉ ra
rằng M. furfur là loài gây bệnh chính. Tuy nhiên, gần đây người ta đã khẳng
cách sản xuất các enzym được gọi là lipases. Đầu tiên vi nấm sử dụng lipases để
20
phá vỡ các bã nhờn, tạo ra một hợp chất gọi là axit oleic. Sau đó, thâm nhập vào
lớp trên cùng của da và gây ra phát triển rất nhanh hàng loạt các tế bào biểu mô
da ở những người mẫn cảm dẫn đến tăng sinh gàu da đầu [8], [27],[47].
1.7.4 Viêm nang lông
Vi nấm Malassezia ssp viêm nang lông với biểu hiện thương tổn thường
lành tính thường gặp như ngứa, mụn mủ, sẩn đỏ nang lông phân bố chủ yếu ở
thân mình, lứa tuổi hay gặp là người trung niên và trẻ tuổi. Bệnh tuy không
nguy hiểm nhưng gây nên tình trạng rất khó chịu cho người bệnh. Năm 1969
một nghiên cứu đã lần đầu tiên mô tả vi nấm Pityrosporum gây tình trạng
viêm nang lông. Sau đó, vào năm 1973, Potter đã nhận thấy viêm nang lông
có căn nguyên do vi nấm Malssezia spp khi ông tiến hành nhiều phương pháp
riêng biệt cùng lúc như: dấu hiệu lâm sàng, nấm học và mô bệnh học đều cho
kết quả phù hợp.
Bệnh thường xuất hiện tổn thương mãn tính, ban đỏ, sẩn ngứa và mụn
mủ. Những tổn thương thường biểu hiện vị trí ở lưng và ngực đôi khi trên cổ,
vai, cánh tay hiếm khi hiện diện trên khuôn mặt. Thông thường rất ngứa, có
mụn mủ nhỏ ở da kèm theo ban đỏ. Một số vùng có yếu tố khí hậu ảnh hưởng
đến tỷ lệ những người nhiễm vi nấm Malassezia gây viêm nang lông. Những
người sống ở vùng khí hậu ấm và ẩm ướt có tỷ lệ nhiễm cao hơn và ngày càng
gia tăng ở vùng này. Vi nấm này chủ yếu gặp ở tuổi vị thành niên [2], phổ
biến nhất ở những người khoảng 13-45 tuổi với tỷ lệ nữ / nam là 1,5:1
Ngoài ra, những người có thói quen dùng các sản phẩm dưỡng da, chăm
sóc tóc cùng với nhiều loại mỹ phẩm, sữa, kem chống nắng, chất làm mềm,
dầu ôliu. Ngay cả chất liệu của trang phục, quần áo cũng tạo điều kiện thuận
lợi cho vi nấm Malassezia viêm nang lông, Một số yếu tố liên quan thuận lợi
tạo điều kiện cho vi nấm gây viêm nang lông bao gồm: đái tháo đường, suy
giảm miễn dịch, và nhiễm Candida hệ thống [48]. Khi quan sát vi thể
21
hồi sức tích cực bị nhiễm Malassezia ssp huyết. Trong khi đi tìm
nguồn lây người ta đã phát hiện ở móng tay của người chăm sóc y
tế bị nhiễm Malassezia ssp và họ cho rằng tất cả bệnh nhân điều trị
ức chế miễn dịch cần được đánh giá cẩn thận để phát hiện ngay từ
ban đầu những viêm nhiễm ở móng tay của bệnh nhân bằng các xét
nghiệm soi tươi và nuôi cấy nấm. [23], [50].
Vai trò bệnh nguyên của Malassezia ssp trong nấm móng là một vấn đề
gây nhiều tranh cãi vì khả năng li giải keratin (keratinolytic) chưa từng được
xác minh một cách thuyết phục. Gần đây, một số minh chứng cận lâm sàng đã
khẳng định bằng các kỹ thuật như: quy trình KOH+Parker Ink, nhuộm
hematoxylin, eosin (H&E) và nhuộm axit Schiff (PAS). Qua đó, phần nào cho
thấy sự thâm nhập của tác nhân nấm các lớp sâu hơn của keratin. Tiếp theo,
người ta đã tiến hành xác định căn nguyên của ba trường hợp nghi nhiễm nấm
móng do Malassezia spp đầu tiên. Họ đã thực hiện liên tiếp nhiều lần định
loại chủng nấm được lấy từ mẫu bệnh phẩm ở móng tay và xác định chủng
nấm gây bệnh là M. furfur. Sau đó, người ta đã tiến hành điều trị bằng
ketoconazole và sau hơn 12 tuần điều trị liên tục thì kết quả xét nghiệm không
thấy nấm và trên lâm sàng móng tay đã trở lại bình thường. Nấm móng chủ
yếu gặp ở tay chiếm khoảng 18-40% trong số các viêm móng và 39% trong số
các bệnh nhiễm nấm bề mặt [38].
1.7.6. Một số biểu hiện khác do nhiễm nấm Malassezia.spp
- Malassezia thuộc vi hệ nên vi nấm này có mặt khắp nơi và gây bệnh
nhiều vị trí với các biểu hiện triệu chứng đa dạng trong rất nhiều bệnh cảnh
lâm sàng. Malassezia có thể gặp trong viêm da cơ địa và thông thường
23
Malassezia làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh. Ngoài ra, trong một số bệnh
lý khác: Trứng cá thông thường, U nhú thể mảng, Gaiden, Bạch biến
- Xâm nhập cơ quan, hệ thống: Người ta đã phát hiện bệnh nhân nằm
điều trị hồi sức tích cực bị nhiễm Malassezia.spp huyết. Ngoài ra, nhiều
nghiên cứu khác đã cùng nhận định Malassezia.spp là tác nhân gây bệnh ở
Và để làm tốt công tác xét nghiệm Nấm nhằm phục vụ bệnh nhân cũng như
Và để làm tốt công tác xét nghiệm Nấm nhằm phục vụ bệnh nhân cũng nhưgiúp các bác sỹ lâm sàng chẩn đoán và điều trị hiệu quả hơn. Chúng tôi luôn
giúp các bác sỹ lâm sàng chẩn đoán và điều trị hiệu quả hơn. Chúng tôi luônchú trọng nâng cao năng lực chẩn đoán trên kính hiển vi thông qua các xét
chú trọng nâng cao năng lực chẩn đoán trên kính hiển vi thông qua các xétnghiệm trực tiếp, đặc biệt nhận định chính xác nhóm nấm men gây bệnh. Khi
nghiệm trực tiếp, đặc biệt nhận định chính xác nhóm nấm men gây bệnh. Khita quan sát các mẫu bệnh phẩm trên kính hiển vi có thể gặp hình ảnh điển
ta quan sát các mẫu bệnh phẩm trên kính hiển vi có thể gặp hình ảnh điểnhình của
hình của
Malassezia
Malassezia
như: sợi nấm + tế bào men, hoặc sợi nấm thô ngắn như
như: sợi nấm + tế bào men, hoặc sợi nấm thô ngắn nhưvẩy ra hoặc dung băng dinh). Sau đó, thay đổi nông độ KOH 20% có kết hợp
vẩy ra hoặc dung băng dinh). Sau đó, thay đổi nông độ KOH 20% có kết hợpvới Parker ink tỷ lệ phù hợp (2: 1). Các xé
với Parker ink tỷ lệ phù hợp (2: 1). Các xét nghiệm soi trực tiếp có tầm quan
trọng trong việc nhận định hình thái và số lượng Malassezia nhưng chỉ mang
tính tương đối. Tuy nhiên phần nào đã chứng tỏ sự hiện diện vi nấm
Malassezia tồn tại vi hệ đã trở thành tác nhân gây bệnh cơ hội trên một số
bệnh da. Theo một số tác giả vấn đề nuôi cấy không cần thiêt đối với các
bệnh phẩm lâm sàng không chỉ bởi thời gian mọc chậm mà vi nấm khó mọc
và đòi hỏi môi trường đăc biệt. Hơn nữa, tỷ lệ lâm sàng, nuôi cấy, soi tươi
(3:2:1). Quan điểm này phù hợp với nghiên cứu V.Silva và cộng sự cho biết
tầm quan trong của xét nghiệm trực tiếp tìm nấm cho kết quả chẩn đoán sơ bộ
25