xác định tỷ lệ nhiễm nấm malassezia spp ở bệnh lang ben, viêm da dầu, viêm da cơ địa - Pdf 23

ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm nấm là một trong những bệnh khá phổ biến trên thế giới. Nấm tồn
tại ở khắp mọi nơi: môi trường đất, nước, không khí, ở thực vật, động vật và trên
cả cơ thể người. Khi gặp điều kiện thuận lợi như nóng ẩm, sang chấn, sức đề
kháng suy giảm…nấm sẽ phát triển và gây bệnh. Bệnh do nấm gây ra gặp nhiều
ở các nước nhiệt đới và ôn đới. Bệnh có thể gặp ở cả người lớn và trẻ em [45].
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ và độ ẩm cao là điều
kiện thuận lợi cho vi nấm phát triển và dễ dàng gây nhiễm nấm ở người. Những
năm gần đây, tỷ lệ nhiễm nấm thông thường do ý thức kém và điều kiện vệ sinh
thiếu thốn đã giảm nhiều. Tuy nhiên, do sự xuất hiện đại dịch HIV/AIDS cùng với
việc ứng dụng những thành tựu mới của y học hiện đại như: Ghép tạng, dùng thuốc
ức chế miễn dịch, hoá trị, xạ trị điều trị ung thư, sử dụng kháng sinh hoạt phổ rộng,
corticoid kéo dài, các bệnh rối loạn chuyển hoá Thực tế nghiên cứu cho thấy tỷ lệ
nhiễm nấm da trong các bệnh ngoài da trong cộng đồng chiếm tỷ lệ khá cao. Ở
Đông Nam Á bệnh da do nấm chiếm 40-60% tổng số bệnh da [41]. Ở Việt Nam,
bệnh nấm da đứng hàng thứ 2 trong các bệnh da sau chàm [25]. Trong đó, nhóm
nấm men gây bệnh ở da chiếm tỷ lệ khá cao, đặc biệt trong thời gian gần đây người
ta đề cập nhiều đến chủng nấm men Malassezia ssp. Nghiên cứu năm 2003 tại Iran,
tỷ lệ nhiễm nấm Malassezia ssp chiếm 6% trong số các bệnh da nói chung và 30%
bệnh da do vi nấm nói riêng [ ? ].
Tại bệnh viện Da liễu TW số bệnh nhân đến khám và làm xét nghiệm tìm nấm
rất đông và đa dạng. Trong đó, vi nấm Malassezia ssp gây bệnh ngoài da chiếm tỷ
lệ khá cao. Bệnh do rất nhiều loài Malassezia khác nhau gây nên, vì vậy lâm sàng
cũng rất đa dạng. Bệnh biểu hiện các triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu như:
Ngứa, đỏ da, bong vẩy,…Thương tổn có thể gặp bất kỳ vùng nào trên cơ thể nhưng
thông thường khu trú vùng tiết nhiều bã nhờn như: da đầu, lưng, ngực, mặt. Ngoài
ra, có thể gặp ở nếp kẽ, nang lông, vùng móng…thậm chí vi nấm xâm nhập các cơ
quan, bộ phận gây nhiễm nấm nội tạng, khuẩn nấm huyết…Nhiều khi Malassezia
1
ssp là căn nguyên gây bệnh, nhưng đôi khi chỉ phối hợp làm nặng thêm tình trạng
bệnh. Do đó, những trường hợp điển hình thường thuận lợi cho chẩn đoán. Còn

vi khuẩn phát triển mạnh hơn nấm.
Đăc điểm dinh dưỡng
+ Nấm đòi hỏi chất hữu cơ sẵn có từ môi trường, chúng tiết các men đặc biệt giúp
phân giải các chất hữu cơ đó thành những hợp chất đơn giản để hấp thu.
+ Phần lớn phát triển môi trường đơn giản không cần vitamin, nhưng một số
cần thiamine, biotin… để phát triển.
3
Nấm có khả năng gây bệnh cho người và động vật. Đặc biệt ở người nấm gây
nhiều bệnh rất nguy hiểm và khó điều trị. Nấm có thể gây bệnh bất kỳ vị trí nào trên cơ
thể từ da, lông tóc, móng, thậm chí xâm nhập vào các cơ quan, các mô trong cơ thể
(1,2,3,5,6)
1.1.2 Đặc điểm cấu trúc và sinh sản nấm
1.1.2.1 Bộ phận sinh dưỡng
- Nấm men: cấu tạo đơn bào, sinh sản hình thức nảy chồi, hình tròn hoặc bầu
dục, kích thước 3-15mn
- Nấm sợi: cấu tạo đa bào, có vách ngăn hoặc không. Chúng chia nhánh và
xen kẽ với nhau thành từng khúm nấm. Đối với nấm Malassezia spp khi ký sinh
cũng có thể tạo sợi nấm thô ngắn.
1.1.2.2 Bộ phận sinh sản
- Lớp Actinomycetes không có bộ phận sinh sản. Các lớp nấm khác có bộ
phân sinh sản vô tính hoặc hữu tính.
+ Phương thức sinh sản vô tính: phân chia không có sự phối hợp nhân, đó là
loại bào tử vô tính, thường do sợi nấm sinh ra, có nhiệm vụ phát triển hoặc/và dự trữ.
+ Phương thức sinh sản hữu tính: phân chia có sự phối hợp nhân, đó là bào
tử nang, bào tử tiếp hợp, bào tử noãn, bào tử đảm.
- Nấm men sinh sản theo phương thức nảy chồi. Từ một cực của tế bào nấm
mọc một chồi nhỏ, phát triển lớn dần và tách khỏi tế bào mẹ. Một số loài nấm men có
thể hình thành sợi giả. Nấm Malassezia spp là một chi nấm men và sinh sản theo
phương thức vô tính.
1.1.1.3 Phân loại nấm và bệnh do nấm gây ra [5, 6, ,11, 14 ]

như: mất cân bằng vi hệ, thay đổi pH da…thì chúng gây bệnh cơ hội ở vùng này.
+ Căn nguyên ngoại sinh: khi hít phải các bào tử nấm trong không khí hoặc ăn
phải các thức ăn có nhiễm nấm, gây ra các bệnh nấm đường hô hấp, tiêu hóa…
1.2 Lịch sử vi nấm Malassezia
Bệnh nấm da nói chung mô tả rất sớm trong lịch sử loài người. Năm 1800,
Gruby đã nuôi cấy nấm gây bệnh thực nghiệm trên vùng da ẩm ướt. Năm 1910,
Sabouraud là người đầu tiên đưa ra bảng định danh các loài nấm, đặc điểm lâm
sàng và phương pháp điều trị bệnh nấm. Với công sức này ông được coi là cha
đẻ nghành nấm y học hiện đại. [47, 58,]. Bệnh do nấm Malassezia nói riêng
cũng đã được mô tả từ lâu trong y văn thế giới. Năm 1846, Eichstedt ghi nhận
vai trò nấm gây bệnh da với tên gọi Pityrosporum. Cùng trong thời gian đó,
Raymond Sabouraud đã xác định vi sinh vật gây hiện tương gầu da đầu cũng có
tên gọi là: Pityrosporum. a. Nhưng đến giữa thế kỷ 20 một số nhà khoa học tìm
được 3 loài nấm là: P. oval, P.orbiculair, P.pachydermatis. Trong đó, có hai loài
nấm men ưa lipid gây bệnh ở người là P. oval & P.orbiculair. Còn một loại
không ưa Lipid thường gây bệnh cho động vật đó là P.pachydermatis.[72]. Còn
Louis- Charler lại mô tả vi nấm này dưới tên gọi Malassezia. Ban đầu một số
nhà khoa học cho rằng hình thái Malassezia là tồn tại dưới dạng sợi nấm, còn
Pityrosporum là hình thái nấm men. Nhưng sau đó không lâu, Sabouraud khẳng
định rằng thực chất đó chỉ là sự phân chia biến đổi trong vòng đời của nấm
men. Năm 1995-1996, thành tựu khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng
đã ứng dụng thành công trong việc giải mã trình tự bộ gen của vi nấm này và
đã tìm được 7 loài Malassezia.sp [62]. Năm 2004 các nhà khoa học Nhật Bản
tiếp tục tìm ra thêm 4 loài mới nữa. [30].Từ đó các nhà khoa học đã thống
nhất dưới tên gọi vi nấm là Malassezia.sp (16,18) .
6
Gần đây trên thưc tế tại bệnh viện Da liễu TW số bệnh nhân đến khám và làm
xét nghiệm tìm nấm rất đông và đa dạng. Trong đó, vi nấm Malassezia.sp gây bệnh
trên một số bệnh da thông thường chiếm tỷ lệ khá cao. Theo ICD những bệnh da
thông thường gồm rất nhiều bệnh nhưng trong khuân khổ nghiên cứu này chúng tôi

và vi nấm khác cũng thuộc vi hệ gây bệnh. Do đó, chúng có thể là căn nguyên
gây bệnh hoặc bội nhiễm thứ phát làm nặng thêm tình trạng bệnh. Ngoài ra,
chúng còn gây bệnh cơ hội khi có điều kiện thuận lợi (16,18,36, 58)
1.4 Cơ chế gây bệnh [27, 53, 72]
Hầu hết các loại nấm thường sống hoại sinh, chúng phát triển ở thực vật hoặc
trong đất, ít khi thích ứng trên cơ thể người. Do đó, người khỏe mạnh ít khi bị mắc
nấm.
Sự xâm nhập diễn ra khi một bào tử nấm nhiễm vào cơ thể ở trạng thái nghỉ
không hoạt động, sau đó chuyển hóa trong cơ thể vật chủ, nẩy mầm và sinh sản rồi
xâm nhập vào mô. Mỗi hình thái nấm như: Sợi nấm, bào tử nấm hoặc tế bào nấm
men có tính kháng nguyên đặc trưng khác nhau. Khi xâm nhập vào cơ thể, nấm gây
ra sự đáp ứng với cơ thể vật chủ và sẽ có hai cơ chế bảo vệ: Miễn dịch dịch thể và
Miễn dịch qua trung gian tế bào (34)
Trong quá trình trao đổi chất vì lý do nào đó è thiếu hụt gen mã hóa Enzym
tổng hợp axit béoè vi nấm không tự tổng hợp axit béo è sử dụng nguồn axit béo
từ bên ngoài.
- Xu hướng tìm vùng giàu chất bã nhờn: da đầu, mặt, lưng, ngực…
Malassezia.sp tiết 8 loại Lipase và 3 loại Photpholipase
è
Thủy phân axit béo
trung tính
è
axit béo tự do
è
phản ứng trung gian tế bào
è
kích hoạt con đường
gây viêm(16)
- Khả năng né tránh và chống lại quá trình thực bào do:
8

Malassezia.sp chiếm 23% (độ tuổi 0-18 tháng tuổi), 28% ( 11-15 tuổi). Tại Tây Ban
Nha, Martinez - Roig và cộng sự nghiên cứu trên 1000 bệnh nhi ở độ tuổi từ 2 tháng
đến 7 tuổi thấy tỷ lệ nhiễm Malassezia chiếm khoảng 34,5% trong số bệnh da. Một
nghiên cứu khác ở Thụy Sỹ cho biết tỷ lệ nhiễm Malassezia chiếm 87% ở nhóm trẻ
em độ tuổi 2 tháng đến 15 tuổi. Nhưng cũng có một nghiên cứu ở Israell lại kết luận
là không tìm thấy vi nấm Malassezia ở nhóm trẻ em độ tuổi 2 tháng đến 15 tuổi
[68]
Trên thế giới, tuỳ theo số liệu nghiên cứu của từng tác giả cho thấy viêm da
dầu chiếm khoảng 1-5% dân số [10], [41]. Tajima và cs (2008) nghiên cứu trên 31
bệnh nhân VDD cho thấy ở vùng da bị tổn thương 93,5% có số lượng Malassezia
và cao gấp 3 lần so với ở vùng da lành 61,3%. Ở người nhiễm HIV/AIDS, tỷ lệ
mắc bệnh viêm da dầu rất cao. Theo Betty Anne Johnson tỷ lệ này là 85% [60].
Cũng theo Betty Anne Johnson, ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch, bệnh
thường nặng, dai dẳng và kém đáp ứng với các phương pháp điều trị. Gần đây
các nhà khoa học phát hiện ra rằng M. globosa là nguyên nhân của hầu hết các
trường hợp của gàuGầu da đầu không chỉ ảnh hưởng tới người bệnh ở góc độ
bệnh lý như bong vẩy gầu nhiều, ngứa ngáy, khó chịu mà còn ảnh hưởng tâm lý,
không tự tin trong giao tiếp sinh hoạt, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc
sống.
Một báo cáo năm 2008 từ Trung Quốc trích dẫn có khoảng 1,5% các bệnh
nhân Da liễu đã được chẩn đoán viêm nang lông do vi nấm Malassezia. Trong số
đó, hầu hết họ đều là nam giới khỏe mạnh và đang ở độ tuổi trung niên [21]. Một
nghiên cứu khác ở Philippines cho biết có khoảng 16% bệnh nhân viêm nang lông
do Malassezia trong tổng số bệnh lý nang lông [45].
Từ tháng 7 năm 1996 đến tháng 12 năm 1999, một nghiên cứu trên 588 bệnh
nhân có thương tổn móng tay với chẩn đoán nấm móng tại các Phòng khám Da liễu
và vi khuẩn học EPM \ UNIFESP, Brazil. Cùng thời gian đó ở Chile, V.Silva cũng
10
có báo cáo về các trường hợp nhiễm nấm móng do Malassezia spp. Bên cạnh đó,
bằng các xét nghiệm soi tươi, nuôi cấy định loại và sinh học phân tử, một số nghiên

bởi một nhóm nấm men trước đây có tên là Pityrosporium, nay thống nhất dưới tên
gọi là Malassezia.spp.
Bệnh gặp bất kỳ tuổi nào nhưng thông thường từ 20 - 45 còn trẻ em và người
già ít bị. Có một số quan điểm khác nhau về bệnh lang ben có lây hay không? Theo
Eduado Silva bình thường bệnh không lây vì nó thuộc vi hệ. Nhưng dưới ảnh hưởng
một số yếu tố thuận lợi: khí hậu nóng ẩm, tính chất da thay đổi, sức đề kháng suy
giảm…tạo điều kiện vi nấm tăng sinh và gây bệnh [20]. Nhưng Jose Latoni thì cho
rằng bệnh có thể lây do dùng chung ga giường, quần áo (TL Tuyet Mai)
* Triệu chứng lâm sàng
Bệnh biểu hiên thể điển hình với các triệu chứng rất dễ nhận biết. Đó là đám
màu hồng nâu, hình tròn, ranh giới rõ, đôi khi là những đám thuơng tổn mất sắc tố.
Thường khu trú vùng cổ, ngực, lưng, vai, cánh tay. Hiếm khi ở cẳng tay, chân cũng
như lòng bàn tay và bàn chân [ TL PHg].
● Chẩn đoán của lang ben nói chung là đơn giản
- Triệu chứng lâm sàng điển hình
- Xét nghiệm: Kết quả soi trực tiếp cho kết quả dương tính 80 - 90%, trong đó
đa phần (89%) cho hình ảnh điển hình là “mì ống và thịt viên”. Theo dữ liệu của
một số nghiên cứu gần đây về nuôi cấy, định loại và kỹ thuật ADN đã khẳng định
M. globosa là loài gây bệnh phổ biến nhất trong bệnh lang ben; một nghiên cứu năm
2000 do F.Sanchez F thực hiện đã chỉ ra rằng căn nguyên gây lang ben là
M.globosa [32]. Nghiên cứu …. M.globosa chiếm khoảng 53,3%, tiếp theo M.
furfur 25,3%, M. sympodialis 9,3%, còn M. obtusa 8,1% và M. slooffiae 4,0%
[…?]. Bên cạnh đó, Gupta et al cũng tìm thấy M. sympodialis là tác nhân chủ yếu
trong lang ben đối với vùng khí hậu ôn đới, còn M. globosa là tác nhân chính ở các
vùng nhiệt đới [41].
1.7.2.Viêm da dầu
12
Viêm da dầu (seborrheic dermatitis) là bệnh da mạn tính thường gặp. Bệnh
chủ yếu ở trẻ sơ sinh, tuổi dậy thì và độ tuổi ngoài 50, nam gặp nhiều hơn nữ [31].
Tác nhân gây bệnh viêm da dầu còn đang tiếp tục được làm rõ, tuy nhiên

bệnh VDD là những nơi tiết bã nhiều như da đầu, trán, rãnh mũi má, mi mắt, cung
mày, sau tai, ống tai ngoài, vùng trước xương ức, vùng liên bả vai. Trong nghiên
cứu Nguyễn Thị Phượng (2009) vị trí tổn thương thường gặp nhất là rãnh mũi má
93%. Các vị trí ít gặp hơn là kẽ nách, nếp lằn vú, rốn, vùng bẹn sinh dục và kẽ liên
mông. Tuy nhiên, khi bệnh nặng tổn thương có thể lan toả khắp cơ thể. Từ sự phân bố
tổn thương trong bệnh VDD có thể thấy rằng có sự liên quan rất mật thiết giữa vị trí da
dầu với bệnh [20]
* Chẩn đoán xác định
- Chủ yếu dựa vào lâm sàng
- Để xác định căn nguyên có nhiễm nấm Malassezia ssp cần thiết phải xét
nghiệm soi tươi tìm nấm. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng M.
furfur là loài gây bệnh chính. Tuy nhiên, gần đây người ta đã khẳng định vai trò chủ
yếu do loài M. restricta, kế đến M.globosa, sau đó mới đến các loài khác trong đó
có M.furfur. [Tìm tai lieuj cụ the- Anh Tuấn, 32]
1.7.3. Gầu da đầu
Các biểu hiện trên da đầu mà thường được gọi là "gàu" gây ra bởi nhiều yếu tố
của cơ thể kết hợp với hệ vi nấm Malassezia ssp. Thật vậy, các nghiên cứu lâm sàng
đã chỉ ra rằng chính tác dụng của thuốc kháng nấm tương quan với một tình trạng
lâm sàng được cải thiện, khi da khô gặp không khí lạnh trong suốt mùa đông là
nguyên nhân phổ biến nhất của ngứa, bong vẩy gàu ở đầu. Đó là một trong những
nguyên nhân thường gặp nhất của gàu. Theo Flakes những người da khô thường tiết
ít dầu hơn so với những người da bình thường nên dễ bị kích thích tăng tiết nhiều bã
14
nhờn trên da. Khi da tăng tiết bã là tức là bệnh ảnh hưởng không chỉ đến da đầu mà
còn xuất hiện trên các bộ phận khác của cơ thể, chẳng hạn như lông mày của bạn, hai
bên mũi và lưng, xương ức, vùng nách, vùng háng đôi khi gặp ở cánh tay và chân. Nếu
bạn không gội đầu thường xuyên thì dầu và các tế bào da từ da đầu của bạn có thể phát
triển ở các vùng da khác của cơ thể.(13, 35, 63)
Một loại nấm men Malassezia spp ký sinh trên da đầu của hầu hết người
trưởng thành khỏe mạnh mà không gây ra vấn đề gì. Nhưng đôi khi nó phát triển

chủ yếu gặp ở tuổi vị thành niên [12], phổ biến nhất ở những người khoảng 13-45
tuổi với tỷ lệ nữ / nam là 1,5:1
Ngoài ra, những người có thói quen dùng các sản phẩm dưỡng da, chăm sóc
tóc cùng với nhiều loại mỹ phẩm, sữa, kem chống nắng, chất làm mềm, dầu ôliu.
Ngay cả chất liệu của trang phục, quần áo cũng tạo điều kiện thuận lợi cho vi nấm
Malssezia viêm nang lông, Một số yếu tố liên quan thuận lợi tạo điều kiện cho vi
nấm gây viêm nang lông bao gồm: đái tháo đường, suy giảm miễn dịch, và nhiễm
Candida hệ thống [50]. Khi quan sát vi thể Malassezia trong nang lông qua các
phương pháp nhuộm PAS và nhuộm Grocott-Gomori methenamine, đa phần chỉ
quan sát hình thái nấm men, không có hình thái sợi nấm. Thông thường khi phát
hiện có vi nấm thì tiên lượng và điều trị không khó khăn. Nhưng nếu không điều trị,
vi nấm xâm nhập sâu nang lông có thể là viêm mạn tính và hoại tử nang lông [15]. .
1.7.5. Nấm móng do Malassezia.sp
Mặc dù hầu hết các trường hợp của nấm móng gây ra bởi các chủng nấm da.
Tuy nhiên, gần đây có nhiều báo cáo trong y văn đã phân lập được Malassezia.sp là
căn nguyên gây bệnh nấm móng . Tuy móng không phải là một nguồn thức ăn lý
tưởng của vi nấm nhưng do nấm men thiếu khả năng sừng hóa (keratolytic) đồng thời
xuất hiện những biến đổi không bình thường trong quá trình sinh trưởng nên chúng
xâm chiếm và phá hủy móng, chủ yếu móng tay. Tuy nhiên, vẫn có những báo cáo
16
trái ngược nhau xoay quanh vấn đề vi nấm Malassezia là một tác nhân gây bệnh thực
sự ở móng hay không [56].
Chowdhary đã cô lập Malassezia furfur từ vẩy móng tay thu được ở tổn thương
nấm móng tăng sừng trên bàn tay và bàn chân của nam bệnh nhân 13 tuổi [65]. Crespo-
Erchiga đã khẳng định rằng họ đã từng gặp phải Malassezia spp và Candida spp gây
bệnh ở móng. Nhưng bởi vì tỉ lệ nhiễm Malassezia ssp rất thấp trong các mẫu
bệnh phẩm, nên họ đã tranh luận và tìm hiểu rất nhiều. Nhưng bằng chứng rõ
ràng nhất là khi điều trị bệnh nấm ở móng đã thuyên giảm cả về lâm sàng và
xét nghiệm. Sau đó, họ đã đi đến việc tuyên bố rằng Malassezia là một tác
nhân gây bệnh thực sự trong nấm móng [15, 61]

thường, U nhú thể mảng, Gaiden, Bạch biến
- Xâm nhập cơ quan, hệ thống: Người ta đã phát hiện bệnh nhân nằm điều trị
hồi sức tích cực bị nhiễm Malassezia.sp huyết. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu khác đã
cùng nhận định Malassezia.sp là tác nhân gây bệnh ở phổi, viêm màng bụng, nhiễm
khuẩn huyết qua đặt Catheter [23, 63,50]. Sau đó, các nhà khoa học thuộc đại học
Amsterdam đã tiến hành nuôi cấy, định loại nấm và thực hiện kỹ thuật sinh học
phân tử đã xác định có hai loài gây bệnh hệ thống hay gặp: M.pachydermatis chiếm
khoảng 46% và M.furfur chiếm 63% [54].
- Theo nghiên cứu CDC (1984) nhận thấy vi nấm Malassezia.sp gây bệnh
nhiều nơi. Khi người ta tiến hành lấy các mẫu từ bệnh phẩm: máu, nước tiểu, đờm,
phân đều có thể phân lập được Malassezia.sp với tỷ lệ khá cao [29, 13 ?].
1.8 Chẩn đoán bệnh do nấm Malassezia
1.8.1 Triệu chứng lâm sàng
Thông thường các triệu chứng biểu hiện rất đa dạng và không đặc hiệu.
- Dát đỏ, bong vẩy da
- Da tăng tiết bã nhờn
- Gầu da đầu
- Dát tăng, giảm sắc tố
- Sẩn đỏ kèm ngứa vùng lông, tóc
19
- Vị trí chủ yếu: Da đầu, vùng mặt (rãnh mũi má, vùng trán, cằm, giữa hai
cung mày), lưng ngực, Một số vị trí khác ít gặp hơn như: móng tay, chân, các nếp
kẽ (kẽ cổ, kẽ bẹn, kẽ nách, kẽ tai,).
- Triệu chứng cơ năng: chủ yếu là ngứa
1.8.2 Cận lâm sàng
Có nhiều phương pháp phát hiện nấm Malassezia.sp như: xét nghiệm trực tiếp
bằng kỹ thuật KOH + Parker ink, nuôi cấy phân loại, PCR…
Gần đây, tại phòng nấm khoa Xét nghiệm Bệnh viện Da liễu TW, được sự giúp đỡ các
chuyên gia CDC/Hoa Kỳ chúng tôi đã cập nhật phương pháp soi tìm Malassezia.sp bằng
kỹ thuật KOH kết hợp Parker Ink với tỷ lệ là 2:1. Đây là kỹ thuật giúp ích nhiều cho

(72).
● Mức độ 1+ : < 5 tế bào nấm/VT
● Mức độ 2+ : 5 - 9 tế bào nấm/VT
● Mức độ 3+ : 10 - 19 tế bào nấm/VT
● Mức độ 4+ : ≥ 20 tế bào nấm/VT
* Nuôi cấy định loại
Đây là vi nấm khó nuôi cấy ở môi trường Sabouraud thông thường mà đòi hỏi
những điều kiện đặc biệt.
Ngoài ra, trên thực tế chúng tôi có tiến hành kỹ thuật nuôi cấy và định loại
Malassezia.spp nhiều lần theo những công thức pha chế môi trường đặc biệt ưu tiên
vi nấm phát triển. Tuy nhiên, cho đến nay chúng tôi chưa thành công và trong thời
gian tới chúng tôi tiếp tục tiến hành thử nghiệm nhằm định loại vi nấm này. Bởi
thực tế khi nuôi cấy phải đòi hỏi nhiều điều kiện:
21
- Môi trường: Sabouraud phủ dầu oliu với tỷ lệ đặc biệt
- Nhiệt độ: 37ºC
- Độ ẩm và pH phù hợp
- Thời gian mọc chậm 7-10 ngày
+ M.furfur dễ phân loại hơn các loài khác
+ M.restricta & M.obtusa khó phân loại nhất
22
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Đối tương nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng
- Tất cả các bệnh nhân, không phân biệt tuổi, giới trên lâm sàng nghi nhiễm
nấm Malassezia.spp đến khám tại phòng khám bệnh viện Da liễu TW.
- Địa điểm: Khoa Khám bệnh và khoa Xét nghiệm BVDLTW
- Thời gian: Từ tháng 01 đến tháng 12 năm 2012
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

- KOH 20%
- Parker Ink + KOH 20%
- Giá để lam
- Lá kính
- Hộp đựng dụng cụ khử khuẩn
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu.
2.3.2 Kỹ thuật thu thập số liệu
Thu thập số liệu theo mẫu bệnh án thống nhất (phụ lục kèm theo)
2.3.3 Mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu: Lấy mẫu thuận tiện; tất cả bệnh nhân đến khám với các biểu hiên
như trên nghi nhiễm vi nấm Malassezia.sp
-Công thức tính:
24
n = Z
2
1-α/2

( )
2
)(
1
ε
p
pp

n: cỡ mẫu cho nghiên cứu tỷ lệ nhiễm nấm Malassezia.sp
p: tỷ lệ bệnh nhân nhiễm nấm Malassezia.sp ở da và có xét nghiệm dương tính (p=0,50
theo các báo cáo đã công bố).
ε: độ chính xác tương đối (0,1)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status