Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Nền kinh tế nớc ta sau nhiều năm chìm trong cơ chế tập trung quan liêu bao
cấp đã kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của các doanh nghiệp
nói riêng. Nền kinh tế đó tất yếu gây lãng phí nghiêm trọng dẫn đến hậu quả
khủng hoảng kinh tế xã hội mà muốn vợt qua phải đổi mới nền kinh tế.
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị tr-
ờng các doanh nghiệp muốn phát triển tốt phải tính đến hậu quả. Nói cách khác
để tồn tại và phát triển nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong nền kinh tế thị trờng thì
các doanh nghiệp phải chú trọng tới mục tiêu lợi nhuận, là mục tiêu kinh tế hàng
đầu đối với bất kỳ doanh nghiệp nào.
Với suy nghĩ trên em đã lựa chọn đề tài nghiên cứu là:
"Lợi nhuận - Các biện pháp nâng cao lợi nhuận trong doanh nghiệp".
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
I. Lợi nhận và nguồn hình thành lợi nhuận :
1. Lợi nhuận :
1.1. Các quan điểm về lợi nhuận :
Từ trớc tới nay, có rất nhiều các quan điểm khác nhau về lợi nhuận. Ta có
thể thấy đợc điều này qua các quan điểm về lợi nhuận sau :
+ Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản chênh lệch giữa thu nhập về tiêu
thụ hàng hoá và dịch vụ với chi phí đã bỏ ra để đạt đợc thu nhập đó. Việc tính
toán thu nhập hay chi phí đã chi ra là theo giá cả của thị trờng mà giá cả thị tr-
ờng do quan hệ cung cầu hàng hoá và dịch vụ quyết định.
+ Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động SXKD, là chỉ
tiêu chất lợng tổng hợp đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động SXKD của
doanh nghiệp.
+ Thu nhập của doanh nghiệp hay chính là doan thu bán hàng hoá và dịch
vụ trừ đi toàn bộ chi phí sản xuất ( chi phí về tiền thuê lao động, tiền lơng, tiền
thuê nhà cửa, tiền mua vật t ... ) thuế hàng hoá và các thứ thuế khác hầu nh còn
lại đợc gọi là lợi nhuận. Có thể biểu diễn qua biểu sau :
kinh tế trên.
Lợi nhuận giữ vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của bất
kỳ một doanh nghiệp nào. Vì trong điều kiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế
thị trờng doanh nghiệp có tồn tại và phát triển hay không thì điều quyết định là
doanh nghiệp đó phải tạo ra lợi nhuận. Vì thế lợi nhuận đợc coi là một trong
những đòn bẩy kinh tế quan trọng, đồng thời là một chỉ tiêu cơ bản để đánh giá
hiệu quả sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận tác động đến tất cả các mặt hoạt động
của doanh nghiệp. Việc thực hiện các chỉ tiêu lợi nhuận là điều kiện quan trọng
đảm bảo cho tình hình tài chính của doanh nghiệp đợc vững chắc.
Lợi nhuận của quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp công ng hiệp là
chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh toàn bộ kết quả và hiệu quả của quá trình
kinh doanh, của tất cả các mặt hoạt động trong quá trình kinh doanh ấy, nó phản
ánh cả về mặt lợng và mặt chất của quá trình kinh doanh, của hoạt động kinh
doanh. Công việc kinh doanh tốt sẽ đem lại lợi nhuận nhiều từ đó lợi nhuận có
khả năng tiếp tục quá trình kinh doanh có chất lợng và hiệu quả hơn. Trong tr-
ờng hợp ngợc lại doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả dẫn đến thua lỗ nếu kéo dài
có thể dẫn đến phá sản.
II. Phơng pháp xác định lợi nhuận của doanh nghiệp và
phân phối lợi nhuận trong doanh nghiệp :
Nh ta đã biết lợi nhuận là chỉ tiêu phản án số lợng và chất lợng của các mặt
hoạt động sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu này phụ thuộc vào tổng mức tiêu thụ
sản phẩm hàng hoá và chi phí đã chi ra để đạt đợc kết quả đó.
Ta có thể xác định đợc lợi nhuận theo công thức sau :
Tổng lợi nhuận
trớc t huế
=
Tổng doanh
thu
-
Tổng chi phí sản xuất
-
Tổng chi phí sản xuất
kinh doanh
+
Chi phí biến
đổi
Các khoản thuế phải nộp bao gồm :
- Thuế doanh thu = Tổng doanh thu x tỷ lệ thuế doanh thu phải nộp
- Thuế tài nguyên
(nếu có)
=
Giá thành khối lợng
sản phẩm
x
Tỷ lệ thuế tài nguyên
phải nộp
- Thuế xuất nhập
(nếu có)
=
Doanh thu xuất nhập
khẩu
x
Tỷ lệ thuế
xuất nhập khẩu
- Thuế vốn =
Vốn sản xuất do ngân
sách nhà nớc cấp
x
Tỷ lệ thuế
vốn phải nộp
m : Số loại thuế
4
n m m
i=li=li=l
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Qua công thức xác định lợi nhuận trên ta có thể thấy rõ đợc sự ảnh hởng
của từng nhân tố sản lợng tiêu thụ, cơ cấu mặt hàng, giá thành sản phẩm và các
loại thuế đến tổng số lợi nhuận đạt đợc của doanh nghiệp. Ta có thể xét sự ảnh
hởng của các nhân tố trên qua việc phân tích dới đây.
1. Nhân tố sản lợng sản phẩm tiêu thụ :
Trong trờng hợp các nhân tố khác không biến động ( nhân tố về giá cả, giá
thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá dịch vụ tiêu thụ, thuế ...) thì sản lợng tiêu thụ
tăng giảm bao nhiêu lần tổng số lợi nhuận tiêu thụ cũng tăng giảm bấy nhiêu.
Nhân tố này đợc coi là nhân tố chủ quan của doanh nghiệp trong công tác quản
lý kinh doan nói chung và quản lý tiêu thụ nói riêng. Việc tăng sản lợng tiêu thụ
phản ánh kết quả tích cực của doanh nghiệp từ khâu sản xuất đến khâu chuẩn bị
tiêu thụ và tiêu thụ sản phẩm.
2. Nhân tố kết cấu mặt hàng tiêu thụ :
Việc thay đổi tỷ trọng mặt hàng tiêu thụ có liên quan đến việc xác định
chính sách sản phẩm, cơ cấu mặt hàng của doanh nghiệp. Mỗi loại mặt hàng có
tỷ trọng mức lãi lỗ khác nhau do đó nếu tăng tỷ trọng những mặt hàng có mức
lãi cao, giảm tỷ trọng tiêu thụ những mặt hàng có mức lãi thấp thì mặc dù tổng
sản lợng tiêu thụ có thể không đổi nhng tổng số lợi nhuận có thể vẫn tăng.
Việc thay đổi tỷ trọng mặt hàng tiêu thụ lại chịu ảnh hởng của nhu cầu thị
trờng. Về ý muốn chủ quan thì doanh nghiệp nào cũng muốn tiêu thụ nhiều
những mặt hàng mang lại lợi nhuạan cao song ý muốn đó phải đặt trong mối
quan hệ cung cầu trên thị trờng và những nhân tố khách quan tác động.
3. Nhân tố giá bán sản phẩm :
Trong điều kiện bình thờng đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
bình thờng, giá bán sản phẩm do doanh nghiệp xác định. Trong trờng hợp này
triển sản xuất, qũy phúc lợi và qũy khen thởng theo các tỷ lệ sau :
Qũy khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh > 35%.
Qũy phúc lợi và khen thởng < 65%.
Việc trích lợi nhuận vào qũy khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh
giúp cho doanh nghiệp có tích lũy tạo khả năng tái sản xuất mở rộng nhằm phát
triển quy mô sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp sẽ có khả
năng đầu t đổi mới máy móc thiết bị, cải tiến chất lợng sản phẩm, nâng cao khả
năng cạnh tranh ... từ đó có điều kiện tiêu thụ đợc nhiều sản phẩm hơn, đạt lợi
nhuận cao hơn.
Còn phần trích vào qũy phúc lợi và qũy khen thởng nhằm mục tiêu tạo ra
công cụ khuyến khích ngời lao động không ngừng nâng cao tay nghề và trình
độ, tăng năng suất lao động, cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao đời sống của
ngời lao động, là động lực giúp cho ngời lao động gắn bó với doanh nghiệp hơn.
III. Các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận và các biện pháp tăng
lợi nhuận
1. Các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận :
a. ý nghĩa của các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận :
Khi tính toán hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh chúng ta không
thể coi lợi nhuận là chỉ tiêu duy nhất để đánh giá chất lợng của hoạt động sản
xuất kinh doanh và cũng không chỉ dùng chỉ tiêu này để so sánh chất lợng hoạt
động của các doanh nghiệp khác nhau. Trớc hết lợi nhuận là kết quả tài chính
cuối cùng nó chịu ảnh hworng bởi nhiều nhân tố khách quan và chủ quan, đồng
6