nghiên cứu bào chế nhũ tương tiêm truyền lipid phối hợp với dung dịch tiêm truyền glucose, acid amin và chất điện giải - Pdf 23

Lời cảm ơn
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn :
PGS.TS.Phạm Ngọc Bùng, Người Thầy đã tận tình hướng dẫn,
giảng dạy cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian nghiên
cứu, thực nghiệm và hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Th.s. Vũ Ngọc Uyên, người đã giúp
đỡ và truyền đạt những kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt quá trình
thực hiện khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô, Kỹ thuật viên Bộ môn
Vật lý – Hóa lý, cùng toàn thể các thầy cô Trường Đại học Dược Hà Nội,
và Khoa Hóa dầu Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã tạo điều kiện,
giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và hoàn thành khóa
luận này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Dược
Hà Nội, các Bộ môn, Phòng ban trong trường về những giúp đỡ dành
cho tôi.
Tôi cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã
động viên và tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu để hoàn thành
khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2010
Sinh viên
Đỗ Thị Thu Hằng
ĐẶT VẤN ĐỀ
Dịch truyền tĩnh mạch hỗn hợp nuôi dưỡng toàn phần đã được
nghiên cứu và sử dụng rộng rãi trên thế giới. Hiện nay tại bệnh viện một
số nước đã áp dụng kỹ thuật phối chế các dung dịch tiêm truyền với
thành phần đáp ứng theo nhu cầu thể trạng của từng bệnh nhân. Sử dụng
dịch truyền theo cách phối chế theo đơn như vậy đem lại hiệu quả điều
trị cao. Tuy nhiên sự phối chế các chế phẩm dịch truyền với nhau cần
đảm bảo không có tương kỵ, tương tác thuốc.

glucose cung cấp 3.4kcal. Trong thực tế, thường dùng dung dịch glucose
tiêm truyền có nồng độ lớn hơn 5% phối hợp với nhũ tương lipid để
cung cấp năng lượng cho người bệnh [3].
Khi tiêm truyền glucose cần chú ý nồng độ đường huyết, cân bằng
nước và điện giải của bệnh nhân.
1.1.1.2. Dung dịch tiêm truyền acid amin
Acid amin là thành phần cơ bản cấu tạo nên peptid và protein của
cơ thể. Có 20 loại acid amin chuẩn, mà sự kết hợp của chúng tạo ra các
protein thiết yếu cho việc cấu thành cơ thể người. Trong đó có 8 loại
acid amin thiết yếu (lysin, leucin, isoleucin, methionin,
phenylalanin, threonin, tryptophan, valin) đáp ứng nhu cầu sinh lý mà
cơ thể không thể tự tổng hợp được hoặc tổng hợp được với lượng rất
3
nhỏ. Vì vậy, các chế phẩm cung cấp dinh dưỡng phải cung cấp được 8
acid amin thiết yếu và 10 acid amin không thiết yếu. Tỷ lệ các acid amin
thiết yếu so với tổng số các acid amin trong một dung dịch có thể thay
đổi từ 0.39-0.66 [5].
1.1.1.3. Dung dịch tiêm truyền các chất điện giải
Các chất điện giải có vai trò quan trọng trong hoạt động sinh lý
của cơ thể. Bất kỳ sự rối loạn điện giải nào cũng gây ra những phản ứng
bất lợi cho cơ thể.
Thường dùng dung dịch tiêm truyền NaCl 0.9%; CaCl
2
10%; KCl
10%
1.1.1.4. Nhũ tương tiêm truyền lipid
Nhũ tương tiêm truyền lipid là nhũ tương D/ N, dùng theo đường
tĩnh mạch có kích thước giọt dầu thay đổi từ 200 – 500nm, trong đó có
không quá 0.4 % tổng số các giọt có kích thước lớn hơn 5 μm [12,29].
Trong thực tế điều trị cung cấp dinh dưỡng cho bệnh nhân cần

Mỗi loại dầu phải đạt các tiêu chuẩn qui định trong mỗi chuyên
luận riêng trong dược diển châu Âu. Ngoài ra, do tính chất chế phẩm là
dịch tiêm truyền nên mỗi loại dầu phải đạt các tiêu chuẩn về nội độc tố
vi khuẩn: không quá 100CFU/g [13].
Pha nước trong nhũ tương lipid:
Do yêu cầu chế phẩm là dịch truyền nên nước cất sử dụng phải đạt
tiêu chuẩn nước cất pha tiêm.
Ngoài ra, còn có các thành phần điều chỉnh pH và áp suất thẩm
thấu của nhũ tương:
5
- Glycerin được sử dụng làm chất đẳng trương trong mọi công
thức nhũ dịch truyền tĩnh mạch [9,20].Glycerin phải đạt tiêu chuẩn qui
định trong dược điển châu Âu: kim loại nặng: không quá 5 phần triệu;
Clorid không quá 10 phần triệu… [13].
- Điều chỉnh pH bằng NaOH hoặc HCl tùy theo giá trị pH cần đạt
tới. pH của nhũ tương thường từ 7-8, phù hợp với pH sinh lý và duy trì
được độ ổn định vật lý của nhũ tương (bởi ở pH này, sự thủy phân các
este của MCT- LCT và phospholipid là thấp nhất) [15,18].
Một thành phần khác cũng có vai trò ổn định nhũ tương là acid
oleic và muối natri oleat. Acid cholic, acid deoxycholic và muối của
chúng cũng có tác dụng ổn định nhũ tương [18].
Chất nhũ hóa trong nhũ tương lipid:
Là thành phần không thể thiếu và đóng vai trò quan trọng trong
việc hình thành và ổn định nhũ tương. Có 3 loại chất nhũ hóa (CNH):
CNH có nguồn gốc thiên nhiên; CNH có nguồn gốc tổng hợp hoặc bán
tổng hợp; Các chất rắn ở dạng bột mịn [16,17,24,29].
Mặc dù số lượng CNH rất phong phú, tuy nhiên việc sủ dụng
CNH trong chế phẩm tiêm truyền hết sức hạn chế bởi lý do độc tính. Hầu
hết các chất nhũ hóa tổng hợp đều độc khi sử dụng trong thuốc tiêm
truyền bởi nó có khả năng làm tan huyết do thay đổi tính thấm của thành

1/1 ( 10 và 20 )
Lecithin lòng đỏ trứng
( 0.75 và 1.2 )
Lipovenos
( Việt Nam )
Fresenius
Kabi Austria
GmbH
Dầu đậu nành
( 10 và 20 )
Lecithin lòng đỏ trứng
( 0.6 và 1.2 )
Nhà sản xuất Fresenius Kabi đưa ra chỉ tiêu về nhũ tương tiêm
truyền lipid SMOFlipid 10% như sau: nhũ tương trắng, đồng nhất, định
lượng thành phần các acid béo chưa no, glycerin, natri, phosphor, dl-α-
tocopherol, pH, giới hạn các acid béo tự do, độ vô khuẩn và nội độc tố…
đặc biệt là chỉ tiêu 75% KTTP trung bình dưới 350nm, không có tiểu
phân lớn hơn 5μm và không được có hơn 2% lượng tiểu phân có kích
thước từ 1.5μm- 5μm.
1.2. Phương pháp bào chế nhũ tương tiêm truyền lipid
7
1.2.1. Chuẩn bị nguyên liệu và bao bì
Bao bì thủy tinh, nút cao su, nút nhôm: theo quy định của dược
điển cho thuốc tiêm truyền
Nguyên liệu: dầu thực vật, glycerin, lecithin và nước cất đạt tiêu
chuẩn và vô khuẩn
1.2.2. Phương pháp bào chế
Có thể phân loại các phương pháp bào chế nhũ tương nói chung theo
cách phối hợp 2 pha dầu- nước như sau [27]:
1.2.2.1. Phương pháp phân tán pha nội vào pha ngoại

1.2.2.4. Phương pháp thêm cả 2 pha dầu – nước vào chất nhũ hóa
Phương pháp này có ưu điểm trong giai đoạn đầu chất nhũ hóa có
nồng độ cao phát huy tối đa tác dụng. Về nguyên tắc: các chất còn lại tan
trong pha nào thì hòa tan vào pha đó để chuẩn bị từng pha dầu hoặc nước
1.2.2.5. Phương pháp tách pha từ dung môi đồng tan cả 2 pha dầu- nước
Phương pháp này đi từ dung môi alcol thân nước để hòa tan pha
dầu có sự trợ tan của các chất HĐBM hoặc hỗn hợp dung môi. Dung
dịch này phối hợp với pha nước. Một trong hai pha sẽ tách ra thành các
tiểu phân phân tán tạo thành nhũ tương
1.3. Độ ổn định vật lý-hóa lý và các yếu tố ảnh hưởng đến độ bền
trạng thái tập hợp của nhũ tương
1.3.1. Độ ổn định vật lý – hóa lý của nhũ tương
Nhũ tương được đánh giá có độ ổn định vật lý khi các chỉ tiêu chất
lượng của thuốc như độ nhớt, phân bố kích thước tiểu phân , pH… giữ
được trong giới hạn tiêu chuẩn đề ra trong thời gian bảo quản.
9
Các chỉ tiêu trên ảnh hưởng đến độ hòa tan, độ hấp thu thuốc, độ
đồng đều hàm lượng của thuốc, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị
của thuốc. Đặc biệt với nhũ tương tiêm truyền còn ảnh hưởng đến độ an
toàn của thuốc [5,6,23,24].
1.3.1.1. Kích thước tiểu phân trong nhũ tương
Tiểu phân trong nhũ tương thuốc là các giọt dầu trong nước (nhũ
tương D/N) hoặc các giọt nước trong dầu (nhũ tương N/D) [5,23].
Phân bố kích thước tiểu phân trong nhũ tương là một yếu tố quan
trọng quyết định hình thức cảm quan, tốc độ tách lớp… sau thời gian bảo
quản. Các tiểu phân trong nhũ tương có thể có các kiểu phân bố khác
nhau
Kích thước tiểu phân trong nhũ tương thuốc sau thời gian bảo quản có
thể tăng theo chiều hướng tự diễn biến làm giảm diện tích bề mặt tiếp xúc
trong hệ làm giảm năng lượng tự do của hệ. Khi kích thước hạt càng lớn thì

quá trình tách lớp của nhũ tương [23].
1.3.1.3. Điều kiện bền vững trạng thái tập hợp của nhũ tương
Độ ổn định vật lý của nhũ tương, xét về cấu trúc hóa lý của một hệ
phân tán được gọi là độ bền trạng thái tập hợp, là khả năng hệ giữ được
phân bố kích thước tiểu phân như trạng thái ban đầu, hạn chế được sự
tập hợp của các tiểu phân nhỏ thành các tiểu phân lớn [14,23].
Có thể áp dụng lý thuyết khoa học về hệ phân tán keo để chỉ ra
điều kiện bền vững của nhũ tương phụ thuộc vào 5 yếu tố như sau: Lực
hút Van der Waals; lực đẩy tĩnh điện, lực solvate hóa, Sự giảm của lớp
điện kép, Cầu nối polymer.
Theo thuyết về độ bền của hệ keo của các nhà khoa học Deryagin,
Landau, Verway và Ovebeek (thuyết DLVO) thì lực tương tác giữa hai
tiểu phân ( F
T
) bằng tổng hợp của lực đẩy (F
R
) và lực hút (F
A
):
F
T
= F
R
+ F
A
Bề mặt tiểu phân trong nhũ tương tích điện tạo ra lớp điện kép trên
bề mặt tiểu phân bao gồm lớp hấp phụ và lớp khuếch tán. Khi tiểu phân
di chuyển luôn kéo theo lớp hấp phụ, lớp hấp phụ được di chuyển trượt
trên bề mặt phân cách của lớp này với lớp khuếch tán.
Điện thế trên bề mặt trượt được gọi là thế điện động Zeta, nó

Nhiệt độ tăng ảnh hưởng đến sự tích điện bề mặt tiểu phân do tăng
quá trình phản hấp phụ các ion tạo điện thế bề mặt, làm giảm độ nhớt
môi trường, dẫn đến giảm độ bền nhũ tương.
12
Nhiệt độ cao khi tiệt khuẩn cũng như trong quá trình bảo quản làm
tăng động năng của các tiểu phân dễ gây ra sự tập hợp kết vón các tiểu
phân.
1.3.2.3. Độ nhớt của môi trường phân tán
Khi độ nhớt của môi trường phân tán càng cao, sự chuyển động
của các tiểu phân càng giảm nên xác suất chúng va chạm, tiếp xúc với
nhau để kết hợp thành hạt lớn dần, rồi tách hẳn thành lớp riêng cũng
giảm đi, độ bền của nhũ tương tăng lên. Độ nhớt của nhũ tương luôn lớn
hơn môi trường phân tán [8].
Theo Smolukhosly độ nhớt của nhũ tương có tiểu phân mang điện
cao hơn độ nhớt của nhũ tương có tiểu phân không mang điện. Sự tăng
độ nhớt này là kết quả của sự tồn tại lớp điện kép trên bề mặt đã gây ra
hiệu ứng điện nhớt [16].
1.3.2.4. pH
Nhũ tương D/N tồn tại bền vững ở một khoảng pH thích hợp. Khi
pH thay đổi làm thay đổi tỷ lệ nồng độ các ion trong dung dịch, dẫn đến
ảnh hưởng tới điện thế bề mặt, bề dày lớp khuếch tán và thế Zeta. Nếu
chất kiềm thêm vào hệ, các tiểu phân có khuynh hướng thu được nhiều
điện tích âm. Ngược lại nếu acid được thêm vào hệ, các tiểu phân sẽ thu
được nhiều điện tích dương. Do đó cần duy trì pH của nhũ tương ở giá
trị xác định nào đó bằng cách dùng hệ đệm thích hợp. Ở mỗi mẫu đều có
một điểm mà đường cong thế Zeta đi qua giá trị 0, điểm này được gọi là
điểm đẳng điện, là điểm mà hệ ở trạng thái kém ổn định nhất. Với nhũ
tương tiêm truyền, ngoài vai trò ổn định nhũ tương, cần điều chỉnh pH
về giá trị thích hợp với pH của máu, đảm bảo an toàn khi tiêm truyền[6].
13

2.1.1. Nguyên vật liệu
STT Hóa chất Nguồn gốc Tiêu chuẩn
1 Dầu đậu nành Viện công nghệ thực
phẩm
NSX
2 Dầu vừng Viện công nghệ thực
phẩm
NSX
3 Dầu đậu nành tinh chế Đức BP 2005
4 Lecithin Trung Quốc BP 2005
5 Glycerin Trung Quốc BP 2005
6 Nước cất pha tiêm Việt Nam DĐVN 4
7 Nhũ dịch tiêm truyền
Lipovenoes 10%
Áo( Fresenius Kabi
Austria GmbH)
NSX
8 Dung dịch tiêm truyền
Vaminolact 6.5%
Áo( Fresenius Kabi
Austria GmbH)
NSX
9 Dung dịch tiêm CaCl
2
10%
Việt Nam ( DPTW 1) BP 2005
10 Dung dịch tiêm truyền
Glucose 10%
Việt Nam
(B.BRAUN)

kiểm nghiệm khác.
2.2. Nội dung nghiên cứu
2.2.1. Khảo sát sơ bộ lựa chọn nguyên liệu và phương pháp bào chế
nhũ tương tiêm truyền lipid
2.2.2. Nghiên cứu lựa chọn pH và phương pháp bào chế nhũ tương
tiêm truyền lipid
2.2.3. Xây dựng qui trình bào chế nhũ tương tiêm truyền lipid
- Xây dựng qui trình bào chế nhũ tương tiêm truyền lipid trong qui
mô nhỏ thử nghiệm :50ml và 500ml
2.2.4. Nghiên cứu đánh giá tương tác khi phối hợp nhũ tương tiêm
truyền lipid với các dung dịch tiêm truyền: glucose, acid amin và các
chất điện giải
- Sơ bộ đánh giá tương tác khi phối hợp nhũ tương lipid với các
dung dịch tiêm truyền: glucose, acid amin và các chất điện giải bằng cảm
quan và kính hiển vi.
- Nghiên cứu đánh giá độ dẫn điện riêng, kích thước tiểu phân và
pH của các mẫu nhũ tương phối hợp.
- Nghiên cứu đánh giá tương tác hóa học trong mẫu nhũ tương
phối hợp.
16
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp xác định sơ bộ kích thước tiểu phân bằng kính
hiển vi
Nguyên tắc: Sử dụng kính hiển vi vật kính 100 cùng với trắc vi thị kính
Tiến hành : Lấy mỗi mẫu 0.1ml pha loãng trong 20ml nước cất. Dùng pipet
Pasteur chấm một giọt nhỏ lên phiến kính. Dùng lam kính dàn mỏng lớp
mẫu. Soi trên kính hiển vi sơ bộ đếm các giọt ở từng vùng kích thước khác
nhau. Làm như vậy với mỗi mẫu 3 lần, lấy kết quả trung bình [8,31].
2.3.2. Phương pháp xác định kích thước tiểu phân
Tiến hành xác định KTTP trên máy đo KTTP HORIBA LA-950

phân nhiễu xạ, từ đó cho ra các thông tin về kích thước tiểu phân nhờ
một hệ thống có gắn máy tính sử dụng phần mềm chuyên dụng.
Một số mẫu chuẩn đã được nạp sẵn bộ vi xử lý để đối chiếu, so
sánh với mẫu đang cần xác định và cho ra thông tin chính xác về mẫu
tiểu phân cần phân tích. Thông tin về kích thước tiểu phân sẽ được
qua máy thu và hệ thống khuếch đại rồi in ra kết quả.
2.2.3. Phương pháp đo độ dẫn điện riêng
Tiến hành đo theo nguyên tắc nêu trong tài liệu [1]
- Sử dụng chất điện ly chuẩn đã biết độ dẫn điện riêng κ
ch
hiệu
chỉnh máy đo về giá trị chuẩn của chất điện ly.
- Rót mẫu cần đo vào cốc đo của máy. Tiến hành đo độ dẫn điện
của mỗi mẫu. Tiến hành 3 lần lấy kết quả trung bình
2.3.4. Phương pháp bào chế nhũ tương tiêm truyền lipid
Công thức cho 500ml nhũ tương lipid 10% :
Dầu đậu nành 50g
Lecithin 3g
Glycerin 11g
Nước cất pha tiêm vừa đủ 500ml
Phương pháp bào chế nhũ tương tiêm truyền lipid được tiến hành dựa
trên các nghiên cứu trước đó [7,12,23]. Tiến hành theo sơ đồ 2.3 trang 18.
18
Sơ đồ 2.3. Sơ đồ các giai đoạn bào chế nhũ tương lipid
Pha nước
( 70-80ºC )
Nhũ tương đặc
( khuấy từ, 70ºC )
19
Nước cất+Glycerin

- Pha loãng nhũ dịch tiêm truyền 10% bằng glucose 10%, sau đó pha
loãng tiếp bằng glucose 30%, khuấy đều cho đồng nhất.
- Thêm từ từ dung dịch vaminolact 6.5% vào nhũ tương đã pha loãng ở
trên, đồng nhất hóa bằng máy khuấy từ và máy siêu âm.
- Tiếp tục thêm từ từ dung dịch chất điện giải NaCl 0.9%; KCl 10%và
CaCl
2
10% vào hỗn hợp trên, vừa thêm vừ khuấy từ và siêu âm.
- Đồng nhất hóa hỗn hợp bằng khuấy từ và siêu âm.
Các chế phẩm sử dụng đều phải đạt tiêu chuẩn kiểm nghiệm thành phẩm
và các giai đoạn pha chế được thực hiện trong điều kiện vô khuẩn.
2.3.6. Phương pháp định lượng acid amin
Định lượng acid amin bằng phương pháp HPLC
20
Điều kiện sắc ký:
- Thiết bị: máy HPLC Agilent 1200 VKN/VL/06.19; cột Hypersil
ODS, 5 μm ( 250 * 4.6mm )
- Bước sóng phát hiện: 338nm
- Tốc độ dòng: 1μl/ phút
- Tiêm mẫu: 20μl
Pha mẫu chuẩn: Hút 5 ml mẫu chuẩn pha trong 100ml HCl 0.1N. Siêu
âm và lọc, để phản ứng xảy ra. Sau đó tiến hành tiêm mẫu.
Pha mẫu thử: Hút 5ml mẫu thử pha trong 20ml HCl 0.1N. Siêu âm và
lọc, để phản ứng xảy ra. Sau đó tiến hành tiêm mẫu.
Tiến hành: Hút 4 μl dung dịch thử ( chuẩn ), 4 μl dung dịch thuốc thử
OPA, 4 μl dung dịch thuốc thử FMOC, 12 μl đệm borat pH10.4, lắc đều.
Sau 3 phút tiêm vào hệ thống sắc ký
Cách tính:
1
100 1000

: Hàm lượng acid amin trên nhãn
21
CHƯƠNG 3. THỰC NGHIỆM, KẾT QUẢ
VÀ BÀN LUẬN
3.1. Khảo sát sơ bộ lựa chọn nguyên liệu và phương pháp bào chế
nhũ tương tiêm truyền lipid
Công thức cho 50ml nhũ tương lipid:
1.Dầu thực vật 5g
2. Lecithin 0.3g
3. Glycerin 1.1g
4. Nước cất pha tiêm vừa đủ 50ml
Để lựa chọn được thành phần pha dầu, pha nước và phương pháp
bào chế nhũ tương lipid, chúng tôi tiến hành khảo sát các mẫu dầu và
phương pháp bào chế nhũ tương.
Theo các nghiên cứu của các tài liệu đã nghiên cứu , chúng tôi tiến
hành khảo sát lựa chọn pha dầu của nhũ tương lipid từ 3 mẫu dầu nguyên
liệu : Dầu 1: dầu vừng ; Dầu 2 : dầu đậu nành; Dầu 3 : dầu đậu nành
tinh chế
và khảo sát 2 cách phối hợp chất nhũ hóa (Lecithin) vào nhũ tương :
- Cách 1 : phối hợp CNH vào pha nước
- Cách 2 : phối hợp CNH vào pha dầu
với 3 phương pháp bào chế nhũ tương theo trình tự phối hợp hai pha:
Phương pháp a : phân tán pha dầu vào pha nước :
- Chuẩn bị pha nước: cân các thành phần theo lượng ghi trong công thức
+ CNH trong pha nước: phân tán lecithin trong glycerin và nước
cất (5ml), khuấy đến đồng nhất thu được pha nước. Giữ pha nước ở 70-
80ºC.
22
+ CNH trong pha dầu: phân tán glycerin trong nước cất (5ml),
khuấy đến đồng nhất thu được pha nước. Giữ pha nước ở 70-80ºC.

(700 vòng/ phút), chiều dài cánh khuấy 3cm và siêu âm vời tần số f = 60
Hz/ 15 phút, biên độ 0.5mm.
- Điều chỉnh thể tích nhũ tương vừa đủ 50ml.
Sơ đồ các giai đoạn bào chế nhũ tương lipid được trình bày trong
sơ đồ 2.3 mục 2.3.4
Thành phần và phương pháp bào chế của các mẫu nhũ tương lipid
nghiên cứu được trình bày trong bảng 3.1
Bảng 3.1. Thành phần và phương pháp bào chế của các mẫu nhũ tương
lipid nghiên cứu
STT Mẫu Thành phần Cách tiến hành
Pha dầu Pha nước
1 M1.1.a Dầu 1 2+3+4 Phương pháp a
2 M1.2.a Dầu 1+ 2 3+4
3 M1.1.b Dẩu 1 2+3+4 Phương pháp b
4 M1.2.b Dầu 1+ 2 3+4
5 M1.1.c Dầu 1 2+3+4 Phương pháp c
6 M1.2.c Dầu 1+ 2 3+4
7 M2.1.a Dầu 2 2+3+4 Phương pháp a
8 M2.2.a Dầu 2+ 2 3+4
9 M2.1.b Dầu 2 2+3+4 Phương pháp b
10 M2.2.b Dầu 2 + 2 3+4
11 M2.1.c Dầu 2 2+3+4 Phương pháp c
12 M2.2.c Dầu 2 + 2 3+4
13 M3.1.a Dầu 3 2+3+4 Phương pháp a
14 M3.2.a Dầu 3 + 2 3+4
15 M3.1.b Dầu 3 2+3+4 Phương pháp b
16 M3.2.b Dầu 3 + 2 3+4
17 M3.1.c Dầu 3 2+3+4 Phương pháp c
18 M3.2.c Dầu 3+ 2 3+4
24

có kích thước khoảng 500-
700nm, xuất hiện một vài
hạt có kích thước khoảng 1-
3μm
Bảng 3.2 Kết quả sơ bộ đánh giá cảm quan và kích thước tiểu phân của
các mẫu nhũ tương lipid nghiên cứu (tiếp theo)
25

Trích đoạn N2.c Khi vừa phối hợp nhũ tương đồng nhất Sau
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status