Xây dựng quy trình thử nghiệm hoạt tính rhg CSF (recombinant humangranulocyte colony stimulating factor) và mô hình khảo sát tác động của rhg CSF theo phác đồ điều trị - Pdf 23

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN VƯƠNG CÁT KHÁNH XÂY DỰNG QUY TRÌNH THỬ NGHIỆM HOẠT
TÍNH rhG-CSF (Recombinant Human
GRANULOCYTE COLONY STIMULATING
FACTOR) VÀ MÔ HÌNH KHẢO SÁT TÁC ĐỘNG
CỦA rhG-CSF THEO PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ Chuyên ngành: DI TRUYỀN
Mã số: 60 42 70

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐẶNG THỊ PHƯƠNG THẢO TP. Hồ Chí Minh – Năm 2011 i

MỤC LỤC
MỤC LỤC i

ii

2.2.1. Xây dựng quy trình đánh giá hoạt tính G-CSF in vitro 31
2.2.2. Xây dựng quy trình đánh giá hoạt tính G-CSF in vivo 35
KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 40
3.1. Xây dựng quy trình đánh giá hoạt tính G-CSF in vitro 41
3.1.1. Quan sát hình thái và mật độ tế bào M-NFS-60 dưới tác động của protein
G-CSF 41
3.1.2. Khảo sát mối tuơng quan giữa khả năng tăng trưởng của tế bào và nồng
độ G-CSF 42
3.1.3. Khảo sát mật độ tế bào tiến hành thử nghiệm sinh học 43
3.1.4. Khảo sát thời gian tiến hành thử nghiệm sinh học 45
3.1.4. Đề xuất quy trình xác định hoạt tính G-CSF 47
3.1.5. Đánh giá quy trình xác định hoạt tính G-CSF 50
3.2. Áp dụng quy trình để xác định hoạt tính G-CSF tái tổ hợp 52
3.2.1. Mẫu protein trước tinh chế 53
3.2.2. Mẫu protein sau tinh chế 57
3.2.3. Mẫu protein đông khô 58
3.3. Khảo sát xây dựng quy trình thử nghiệm hoạt tính G-CSF in vivo 60
3.3.1. Khảo sát xây dựng mô hình chuột suy giảm miễn dịch bằng thuốc
Cyclophosphamide (CPA) 60
3.3.2. Khảo sát nồng độ G-CSF tối ưu dùng cho thử nghiệm hoạt tính in vivo . 64
3.3.3. Xây dựng mô hình đánh giá tác động của G-CSF theo phác đồ điều trị . 67
3.4. Áp dụng quy trình để đánh giá hoạt tính G-CSF tái tổ hợp in vivo 69
3.4.1. Đánh giá hoạt tính G-CSF tái tổ hợp 69
3.4.2. Đánh giá tác động G-CSF tái tổ hợp theo phác đồ điều trị 71
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 73
4.1. Kết luận 74
4.2. Đề nghị 75
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 76


iii DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Vai trò kích thích tạo máu của các nhân tố tăng trưởng 5
Hình 1.2. Một số sản phẩm G-CSF thương mại 8
Hình 1.3. Nguyên tắc chung của phương pháp thử nghiệm sinh học in vitro 11
Hình 1.4. Quy trình phát triển thuốc tại Mỹ 12
Hình 1.5. Giá trị Hill slope chuẩn trong thử nghiệm sinh học kích thích 15
Hình 1.6. Đường cong tương quan giữa nồng độ mẫu và mức đáp ứng của tế bào .16
Hình 1.7. Giá trị ED99, ED90, ED50 biểu thị trên đường cong tương quan giữa sự
tăng trưởng tế bào và nồng độ mẫu 17
Hình 1.8. Các động vật được sử dụng làm mô hình thí nghiệm 19
Hình 2.9. Phản ứng dehydrogenase ở tế bào sống biến đổi WTS-8 thành sản phẩm
màu (formazan) 27
Hình 2.10. Đường cong tăng trưởng tế bào trong nuôi cấy in vitro 33
Hình 2.11. Quy trình tiêm thuốc và khảo sát số lượng bạch cầu ở chế độ tiêm một
lần. 36
Hình 2.12. Quy trình tiêm thuốc và khảo sát số lượng bạch cầu ở chế độ tiêm liên
tục. 37
Hình 2.13. Quy trình tiêm thuốc và khảo sát số lượng bạch cầu ở chế độ tiêm không
liên tục 37
Hình 3.14. Tác động kích thích tăng sinh dòng tế bào M-NFS-60 của các mẫu 41
Hình 3.15. Xác định mật độ tế bào bằng CCK-8 42
Hình 3.16. Đồ thị thể hiện mối tương quan giữa khả năng tăng trưởng tế bào và
nồng độ G-CSF 43
Hình 3.17. Đồ thị thể hiện sự tăng trưởng của dòng tế bào M-NFS-60 tương ứng
dãy nồng độ G-CSF với mật độ tế bào ban đầu là 5.10
4

Hình 3.17. Đồ thị biểu diễn sự thay đổi lượng bạch cầu trung tính sau khi tiêm
Leukocim theo phác đồ điều trị 68
Hình 3.18. Đồ thị biểu diễn sự thay đổi lượng bạch cầu trung tính tương ứng với
các mẫu thử nghiệm 70
Hình 3.19. Đồ thị biểu diễn sự thay đổi lượng bạch cầu trung tính sau khi tiêm theo
phác đồ điều trị tương ứng với các mẫu thử nghiệm 72

Trang 1
Lời mở đầu Luận văn Thạc sĩ Sinh học

LỜI MỞ ĐẦU
Neutropenia là hiện tượng suy giảm bạch cầu trung tính, gây suy yếu hệ
thống miễn dịch của cơ thể. Trong số các nguyên nhân gây neutropenia, hóa trị và
xạ trị ung thư là nguyên nhân chủ yếu nhất. Hiện nay, ung thư là một trong những
nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới. Tỷ lệ mắc bệnh ung thư đang có xu
hướng gia tăng dẫn đến con số bệnh nhân mắc phải neutropenia sẽ tăng cao đột biến
trong tương lai sắp tới. Ngoài những tác hại chủ yếu như làm suy giảm hệ thống
miễn dịch của cơ thể, khiến cho bệnh nhân dễ dàng bị nhiễm khuẩn, mắc phải các
căn bệnh cơ hội, neutropenia còn gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc điều trị ung
thư. Trước tiên neutropenia làm gián đoạn phác đồ trị liệu ung thư, kéo dài thời gian
bệnh. Sau đó, sẽ làm tăng chi phí chữa trị, nhất là chi phí nằm viện.
Trong các phương pháp điều trị neutropenia như cấy ghép tủy, sử dụng
kháng sinh…, việc sử dụng nhân tố kích thích tạo dòng bạch cầu hạt G-CSF đang là
một liệu pháp hữu hiệu và phổ biến với các ưu điểm: chi phí thấp, tác dụng tốt, thời

xuất thuốc.
Với mục tiêu trên, chúng tôi thực hiện luận văn gồm các nội dung sau:
- Khảo sát xây dựng quy trình đánh giá hoạt tính G-CSF in vitro.
- Áp dụng quy trình để đánh giá hoạt tính G-CSF tái tổ hợp trong các giai
đoạn sản xuất.
- Khảo sát xây dựng mô hình chuột suy giảm miễn dịch dùng cho thử
nghiệm in vivo.
- Khảo xát xây dựng quy trình đánh giá hoạt tính G-CSF in vivo và mô
hình đánh giá tác dụng điều trị bệnh của G-CSF.
- Áp dụng quy trình để đánh giá hoạt tính và tác dụng điều trị bệnh của
thuốc trên cơ thể động vật.
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
bào tiền thân thành tế bào bạch cầu hạt trung tính (Hình 1.1). Trang 5
Tổng quan tài liệu Luận văn Thạc sĩ Sinh học Hình 1.1. Vai trò kích thích tạo máu của các nhân tố tăng trưởng [36]
Trong phản ứng viêm nhiễm
Những bạch cầu trung tính là nhân tố chính trong phản ứng kháng vi khuẩn.
G-CSF giúp giải phóng các tế bào bạch cầu trung tính tiền trưởng thành từ tủy
xương và tăng cường khả năng thực bào, sản sinh các anion superoxide và tiêu diệt
vi khuẩn của các tế bào này. Do đó G-CSF đóng vai trò gián tiếp trong quá trình bảo
vệ cơ thể chống lại nhiễm khuẩn [19].
Bảo vệ tế bào thần kinh
Thụ thể G-CSFR có ở nhiều vùng của não bộ như ở các tế bào hình chóp của
lớp vỏ não, tế bào purkkinje của tiểu não, vùng phụ cận não thất SVZ. Các chức Trang 6
Tổng quan tài liệu Luận văn Thạc sĩ Sinh học

năng chính của G-CSF trong quá trình bảo vệ thần kinh bao gồm kháng viêm, kích
thích biệt hóa thần kinh, huy động các tế bào gốc tạo máu, bảo vệ tế bào thần kinh
chống lại sự chết theo chương trình [18].
1.1.3. Ứng dụng của protein G-CSF trong trị liệu
Đầu những năm 1990, các nhà khoa học và các bác sĩ đã chấp nhận sử dụng
G-CSF trên người, giúp chữa trị các bệnh liên quan đến giảm số lượng bạch cầu
trung tính. G-CSF dùng trong trị liệu dưới nhiều dạng khác nhau, có thể được tiêm
dưới da hay vào tĩnh mạch. Khi tiêm dưới da, G-CSF sẽ giúp kích thích sự tăng sinh

> 1000/µl trong 3 ngày liên tục
- Khi số lượng bạch cầu vẫn >
1000 /µl trong hơn 3 ngày liên tiếp
- Khi số lượng bạch cầu < 1000/
µl.
-
Giảm liều xuống 5 µg/kg

- Ngưng không dùng

- Tiếp tục tiêm ở liều 5 µg/kg/ngày
Nếu số lượng bạch cầu trung tính giảm dưới 1000/µl máu trong quá trình
điều trị ở liều 5 µg/kg/ngày, phải tiến hành tăng liều lên 10µg/kg/ngày, quá trình
điều trị tiếp theo thực hiện như bảng trên.
Bệnh nhân ung thư được chữa trị bằng liệu pháp ghép tự thân các tế
bào tiền thân tạo máu trong nguồn máu ngoại vi
Liều G-CSF được khuyến cáo nên sử dụng là 10µg/kg/ngày, được tiêm dưới
da hoặc truyền liên tục. Sử dụng G-CSF vào 4 ngày trước khi bắt đầu quá trình lọc
máu đến khi kết thúc quá trình lọc máu. Có thể thay đổi liều G-CSF đến khi lượng
bạch cầu tổng trong máu nhiều hơn 10.000/µl.
Bệnh nhân giảm bạch cầu mãn tính nặng
Liều khởi đầu :
- Giảm bạch cầu bẩm sinh: 12µg/kg/ngày, chia làm một hoặc nhiều lần.
- Giảm bạch cầu tự phát hoặc có chu kỳ: 5µg/kg/ngày, chia làm một hoặc
nhiều lần.
Điều chỉnh liều :
- Liều phải được xác định cho từng bệnh nhân và đảm bảo duy trì số lượng
bạch cầu đa nhân trung tính tối thiểu là 1000/µl.
Dùng liều hàng ngày trong thời gian dài được chỉ định để đạt được số lượng
bạch cầu đa nhân trung tính ở mức cần thiết. Có thể tăng liều gấp đôi nếu sau 2 tuần

cũng thấp và sẽ tăng ngay khi bạch cầu hạt trung tính phục hồi [25].

Hình
1.
2
.
Một số sản phẩm G-CSF thương mại[31], [37] Trang 9
Tổng quan tài liệu Luận văn Thạc sĩ Sinh học

Các tính chất đặc trưng của G-CSF thương mại
1.1.4.1. Tính chất vật lý và hóa học
G-CSF có tính acid, kị nước và dạng có hoạt tính là dạng monomer.
Điểm đẳng điện của G-CSF nằm trong khoảng từ 5,5 đến 6,1. G-CSF bền ở
pH acid, do đó để bảo quản, G-CSF thường được giữ trong các dung dịch đệm có
pH thấp. Ở pH bằng 4, G-CSF đạt được trạng thái ổn định cao nhất về cấu hình và
thời gian tồn tại.
Trong phân tử G-CSF có năm cystein, trong đó bốn cystein tạo thành hai cầu
nối disulfide là Cys36-Cys42 và Cys64-Cys74 làm cho G-CSF có hoạt tính. Cys thứ
17 còn lại ở dạng tự do liên quan đến sự kết tụ protein, hình thành dạng dimer hay
polymer. Ở điều kiện sinh lý bình thường, G-CSF dễ bị kết tụ do đó sẽ gây cản trở
nếu sử dụng làm tác nhân điều trị. Tỷ lệ kết tụ phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng
quan trọng nhất là nồng độ G-CSF và số cầu nối disulfide liên phân tử. Người ta
nhận thấy rằng nếu nồng độ G-CSF ít hơn 1mg/ml thì sự kết tụ giảm đáng kể. Ngoài
ra, còn có một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến sự kết tụ như nhiệt độ, pH bảo
quản [26].
Độ tan của G-CSF chịu ảnh hưởng bởi nồng độ muối và nhiệt độ. Nhiệt độ
thấp làm tăng tính ổn định của protein nhưng làm giảm độ tan. Ngược lại, nhiệt độ

nghiệm sinh học định lượng.
Thử nghiệm sinh học có thể được phân loại dựa trên điều kiện thực hiện thử
nghiệm. Thử nghiệm sinh học in vitro thực hiện ở phòng thí nghiệm, cô lập và nuôi
cấy tế bào không nằm trong điều kiện và vi môi trường tự nhiên của nó và thử
nghiệm sinh học in vivo thực hiện trực tiếp trên cơ thể sống [21].
1.2.1. Thử nghiệm sinh học in vitro
Trong các nghiên cứu cytokine mới hoặc để chuẩn bị cho các thử nghiệm
lâm sàng, người ta sử dụng phương pháp thử nghiệm sinh học in vitro để đánh giá
hoạt tính của thuốc. Đây là phương pháp hiệu quả để đo đạc mức độ đáp ứng của
dòng tế bào chuyên biệt đối với cytokine. Nguyên tắc của phương pháp này dựa trên
việc sử dụng dòng tế bào có các receptor đáp ứng hiệu quả với cytokine, từ đó gây
ra chuỗi truyền tín hiệu nội bào, kết quả là một số gen quan trọng được hoạt hóa dẫn
đến các đáp ứng có thể đo đạc được [28]. Trang 11
Tổng quan tài liệu Luận văn Thạc sĩ Sinh học

Tế bào Hoạt hóa
receptor
Tín hiệu
nội bào
Gen
biểu hiện Đáp ứng
Tế bào Hoạt hóa
receptor
Tín hiệu
nội bào
Gen
biểu hiện Đáp ứng


Hình 1.4. Quy trình phát triển thuốc tại Mỹ [1]
Có nhiều nguyên nhân cho việc bắt buộc này:
- Quá trình tạo máu là quá trình xảy ra trong cơ thể sống và được kiểm soát
bởi nhiều tác nhân khác nhau. Chính vì vậy, các mô hình thử nghiệm in vitro vẫn
không đáp ứng được yêu cầu mô phỏng cơ chế chính xác như trong cơ thể.
- G-CSF là một cytokine kích thích tạo máu, với bản chất là glycoprotein
nên G-CSF chịu nhiều ảnh hưởng của lực động học trong cơ thể cũng như các quá
trình biến dưỡng của cơ thể sống.
Chính vì vậy, thử nghiệm in vivo nhằm vào hai mục đích chính là: (1) khảo
sát hoạt tính G-CSF và (2) khảo sát khả năng tương tác sinh học của G-CSF đối với
cơ thể.
→ Thử nghiệm sinh học
Trang 13
Tổng quan tài liệu Luận văn Thạc sĩ Sinh học

Mặc dù cung cấp nhiều thông tin về hoạt tính sinh học cytokine, phương
pháp thử nghiệm này khá đắt tiền, sử dụng số lượng lớn động vật, và đòi hỏi các
công cụ hỗ trợ đặc biệt cũng như chuyên môn cao.
Nhìn chung, thử nghiệm sinh học được coi là “tiêu chuẩn vàng” để đánh giá
hoạt tính cytokine.
1.3. Phương pháp thử nghiệm sinh học G-CSF in vitro
1.3.1. Các dòng tế bào được sử dụng cho thử nghiệm sinh học G-CSF in vitro
Dạng tái tổ hợp G-CSF có khả năng cảm ứng sự biệt hóa đến tận cùng dòng
tế bào bệnh bạch cầu ở chuột như WEHI 3B (D+), cảm ứng biệt hóa dòng tế bào
bệnh bạch cầu ở người như HL-60, và cảm ứng sự tăng sinh dòng NFS-60 ở chuột.
1.3.1.1. Dòng WEHI-3B

) có khả năng
đáp ứng G-CSF, năm 1986, Weistein và đồng nghiệp đã phát hiện một dòng nguyên
tủy bào ở chuột, dòng NFS-60 cũng có khả năng tương tự. Dòng tế bào này được
thiết lập sau khi cho xâm nhiễm chuột trưởng thành (NFS X DBA/2) với virus bệnh
bạch cầu dòng tủy Cas Br-M. Các tế bào NFS-60 có sự tái sắp xếp locus c-myb do
sự sát nhập một vùng gen từ retrovirus vào exon thứ 6 của locus này; từ đó, sản xuất
protein myb với đầu C bị cắt một đoạn và đầu N bình thường. Đây là dòng tế bào
phát triển và tồn tại phụ thuộc G-CSF và có thể đáp ứng biệt hóa với IL-3 [23].
Theo các nghiên cứu, cơ chế G-CSF kích hoạt các quá trình truyền tín hiệu ở
dòng tế bào NFS-60 thông qua nồng độ cAMP, tyrosine kinase và protein kinase C.
Trên mỗi tế bào NFS-60 có khoảng 400 vị trí gắn G-CSF với hằng số gắn kết
khoảng 100pmol/l. Khả năng đáp ứng của tế bào NFS-60 phụ thuộc vào yếu tố thời
gian, sự đáp ứng diễn ra từ 2-5 phút sau khi thêm G-CSF vào môi trường, mạnh
nhất ở phút thứ 10-15 và tiếp tục tăng đến phút 60 khi ủ ở 37
0
C. Bên cạnh đó, khả
năng hoạt hóa con đường p21Ras MAP kinase nhờ G-CSF ở dòng NFS-60 cũng
phụ thuộc vào nồng độ G-CSF với ngưỡng nồng độ thấp nhất từ 10-50U/ml và kích
thích mạnh nhất ở khoảng 100-500U/ml.
Trong các dòng tế bào ưa chuộng cho thử nghiệm sinh học G-CSF, dòng
NFS-60 được sử dụng phổ biến và hiệu quả nhất để xác định hoạt tính G-CSF do có
độ nhạy cao. Một số dòng tế bào con của NFS-60 cũng được thiết lập. Dòng M-
NFS-60 là các tế bào dạng nửa bám dính, phát triển nhanh và liên tục khi có mặt M-
CSF, tuy nhiên cũng có khả năng đáp ứng G-CSF [30].
1.3.2. Phương pháp phân tích kết quả thử nghiệm in vitro
Trong thử nghiệm sinh học in vitro, phương pháp phân tích dữ liệu dựa vào
đường hồi quy không tuyến tính, đường cong biểu thị mối tương quan giữa mức độ
tăng trưởng tế bào và nồng độ G-CSF.
mô tả mối tương quan hợp lý khi tăng nồng độ dẫn đến tăng số lượng tế bào. Khi
các đáp ứng không tạo ra dạng đường cong dốc, các bước phân tích về sau không
được tiến hành. Trang 16
Tổng quan tài liệu Luận văn Thạc sĩ Sinh học

1.3.2.2. Phân loại thử nghiệm sinh học G-CSF in vitro theo phương pháp phân
tích
Dựa theo phương pháp phân tích kết quả, thử nghiệm sinh học G-CSF in
vitro có thể phân thành một số loại như sau:
- Phương pháp thử nghiệm trực tiếp: Mỗi đối tượng thực hiện thử nghiệm
(dòng tế bào sử dụng) được khảo sát với dãy nồng độ thuốc tăng liên tục cho đến
khi đạt đến nồng độ thích hợp có thể tạo ra đáp ứng. Nồng độ thích hợp này được
đo một cách trực tiếp và lặp lại thí nghiệm nhiều lần để tìm giá trị ED50 và độ chính
xác. Đây là phương pháp ít có tính thực tế và khó khăn cho việc áp dụng.
- Phương pháp thử nghiệm định lượng: Đối tượng thực hiện thử nghiệm
được khảo sát với dãy nồng độ chất chuẩn và chất cần định lượng, sau đó so sánh
mức độ tăng trưởng giữa hai lô thí nghiệm, tìm ra giá trị ED50 và sai số chuẩn.
Phương pháp thử nghiệm định lượng giúp loại trừ các sai số và chênh lệch thường
gặp khi thực hiện assay đối với hai mẫu khác nhau do điều kiện thí nghiệm. Để thực
hiện điều này, ta dựa vào đường cong tương quan giữa nồng độ và khả năng đáp
ứng của cả hai mẫu: mẫu chuẩn và mẫu kiểm tra. Về cơ bản, cơ chế tác động sinh
học của hai mẫu này là giống nhau, do đó đường cong của hai mẫu là tương tự, có
đoạn tuyến tính song song hoặc trùng với nhau (Hình 1.6).


Việc định lượng hoạt tính sinh học một cytokine có thể thay đổi ở từng hệ
thống thử nghiệm sinh học và từng điều kiện nuôi cấy khác nhau ở các phòng thí Trang 18
Tổng quan tài liệu Luận văn Thạc sĩ Sinh học

nghiệm. Do đó, để chuẩn hóa quá trình định lượng các cytokine cũng như chất kích
thích tăng trưởng sinh học, Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) và Viện Quốc gia về
Tiêu chuẩn và Kiểm soát Sinh học Vương Quốc Anh (NIBSC) tạo các mẫu protein
với hoạt tính định sẵn, nhờ đó các phòng thí nghiệm có thể xác định nhiều mẫu
protein khác nhau. Mục đích của việc này nhằm cung cấp một tiêu chuẩn quốc tế
cho việc kiểm tra và trong sản xuất các dược phẩm sinh học. Theo định nghĩa của
WHO, mẫu chuẩn quốc tế (IS - International Standard) là mẫu của một hợp chất
sinh học, công nghệ sinh học hoặc được tổng hợp, có hoạt tính được xác định bởi
WHO theo đơn vị hoạt tính quốc tế (IU - International Unit). Dựa vào mẫu IS, các
phòng thí nghiệm xác định đơn vị hoạt tính LU (LU - Laboratory Unit) và sử dụng
các tính toán đơn giản để suy ra giá trị IU của mẫu cần kiểm tra [20].
1.3.3. Ưu - khuyết điểm của thử nghiệm hoạt tính in vitro
1.3.3.1. Ưu điểm
Thử nghiệm hoạt tính in vitro là một phương pháp đơn giản, ít tốn kém và
hiệu quả để xác định hoạt tính của thuốc. Điều kiện tiến hành thử nghiệm dễ dàng,
nhanh chóng, có thể tiến hành cùng lúc một số lượng mẫu lớn.
Do tiến hành trên từng dòng tế bào nên thuận lợi trong việc phân tích đánh
giá kết quả thử nghiệm cũng như kiểm soát và điều chỉnh quy trình.
1.3.3.2. Khuyết điểm
Đối tượng thử nghiệm là dòng tế bào nên không thể đánh giá được tác động
của thuốc bên trong cơ thể cũng như hiệu quả điều trị, các tác dụng phụ của thuốc.
Chỉ có thể xác định thông số duy nhất là đơn vị hoạt tính mà không thể xác
định được các đặc tính sinh học khác của thuốc như các thông số dược động học,

lần sinh tương đối nhiều (khoảng 7 con), chính vì vậy có thể khảo sát ảnh hưởng
của thuốc qua các thế hệ khác nhau.
- Bộ gen của chuột và người có mức độ tương đồng cao, khoảng 85%,
tương ứng với 20.000 – 25.000 gen.
- Có nhiều vị trí khác nhau trên cơ thể để thu nhận nguồn máu, thực
hiện các xét nghiệm khác nhau.
Việc lựa chọn mô hình động vật thử nghiệm còn phụ thuộc vào mục đích của
thử nghiệm. Quá trình thử nghiệm thuốc trong điều kiện in vivo phải tuân theo một
quy tắc chung là thử nghiệm từ những động vật đơn giản đến các động vật phức tạp.
Những thử nghiệm ban đầu thường được thực hiện trên chuột. Tiếp đến là các động
vật lớn hơn, ví dụ như sử dụng thỏ hoặc chó để khảo sát dược động học của thuốc.

Trích đoạn Mẫu protein đông khô Khảo sát xây dựng mô hình chuột suy giảm miễn dịch bằng thuốc Khảo sát nồng độ G-CSF tối ưu dùng cho thử nghiệm hoạt tính in vivo Đánh giá hoạt tính G-CSF tái tổ hợp Đánh giá tác động G-CSF tái tổ hợp theo phác đồ điều trị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status