TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
KHOA KINH TẾ VÀ KẾ TOÁN
ĐỀ ÁN CHUYÊN NGÀNH Ñeà taøi: CÁCH ỨNG XỬ CHI PHÍ VÀ
LẬP CHI PHÍ Ở DOANH NGHIỆP
Sinh viên thực hiện: Võ Quất Tuấn
Giáo viên hướng dẫn: Lê Xuân Quỳnh
Lớp: KT 19A Bình Định, tháng 3/ 2013
PHẦN 1: LỜI MỞ ĐẦU
Bình Định là một tỉnh Duyên Hải miền Trung, là đòn gánh hai
miền Nam, Bắc luôn chịu thiệt hại nặng nề do thiên nhiên để lại. Thế nhưng cùng
với sự nổ lực của Đảng và Nhà nước, Bình Định đã đạt được những thành quả
đáng kể trong sự nghiệp phát triển kinh tế và xã hội. Cùng với sự phát triển của
đất nước tỉnh nhà Bình Định đã và đang không ngừng đầu tư đổi mới mở rộng
sản xuất.
Công cuộc đổi mới và thách thức của thời đại đang đặt ra trước các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế nước ta, những nhiệm vụ hết sức to lớn và
nặng nề. Hoạt động trong cơ chế thị trường buộc các doanh nghiệp muốn đứng
vững và phát triển phải biết phát huy hết khả năng của mình thông qua các công
cụ quản lý mà trong đó kế toán là công cụ rất quan trọng .
Trong nền kinh tế kế toán có vai trò tích cực đối với việc quản lý vốn tаi
tài sản, điều hành các hoạt động sản xuất ở doanh nghiệp. Nó là nguồn thông tin
số liệu đáng tin cậy để Nhà nước điều hành nền kinh tế, kiểm tra, kiểm soát hoạt
động của các ngành, các khu vực.
Theo cách ứng xử thì chi phí biến đổi là chi phí phụ thuộc vào mức độ
hoạt động. Muốn thực hiện loại chi phí này, trước tiên ta phải giả thiết về tính
tuyến tính và tỷ lệ của loại chi phí này.
II. Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí
Theo cách ứng xử chi phí ở doanh nghiệp thì chi phí hoạt động kinh
doanh được chia làm 3 loại đó là: biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp.
1. Biến phí (chi phí biến đổi, chi phí khả biến, VC)
a. Khái niệm 1:
Biến phí là chi phí mà xét về mặt tổng số có quan hệ tỷ lệ thuận với
những thay đổi của một hoạt động cụ thể nào đó.
Mức hoạt động gồm: số lượng sản phẩm sản xuất, số lượng sản phẩm tiêu
thụ, doanh thu, số giờ máy chạy,
Biến phí khi tính cho một đơn vị hoạt động thì ổn định, không thay đổi.
Nếu không có hoạt động thì biến phí bằng không.
b. Khái niệm 2:
Biến phí là những khỏan mục chi phí thay đổi tỷ lệ với mức độ hoạt động
của đơn vị. Mức độ hoạt động có thể là: số lượng sản phẩm sản xuất ra, số lượng
sản phẩm tiêu thụ, số giờ vận hành máy, Các chỉ tiêu này có thể thay đổi tỷ lệ
với mức sản xuất hoặc mức độ hoạt động tiêu dùng.
4
Nếu xét về tổng số, biến phí thay đổi tỷ lệ thuận, ngược lại, nếu xem xét
trên một đơn vị mức dộ hoạt động (ví dụ: một sản phẩm, một giờ máy chạy )
biến phí là 1 hằng số.
Trong một doanh nghiệp sản xuất, biến phí tồn tại khá phổ biến như chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí năng lượng,
Những chi phí này tăng khi mức độ hoạt động của doanh nghiệp tăng và ngược lại.
c. Xét về tính chất tác động, biến phí chia làm 2 loại: Biến phí tỷ lệ và
biến phí cấp bậc
+ Biến phí tỷ lệ (biến phí thực thụ, biến phí tuyệt đối):
Biến phỉ tỷ lệ là biến phí có quan hệ tỷ lệ thuận với mức hoạt động.
i
khác
nhau.
Việc hoạch định, xây dựng và hoàn thiện định mức biến phí tỷ lệ là điều
kiện để các nhà quản trị tiết kiệm, kiểm soát biến phí và giá thành sản phẩm một
cách chặt chẽ hơn.
+ Biến phí cấp bậc:
Biến phí cấp bậc là chi phí thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi nhiều
và rõ ràng. Biến phí loại này không đổi khi mức độ hoạt động căn cứ thay đổi ít.
Nói cách khác, biến phí loại này cũng có quan hệ tỷ lệ nhưng không tuyến tính
với mức độ hoạt động thay đổi, cho phép chi phí thay đổi để tương ứng với mức
độ hoạt động mới.
Xét về mặt toán học, biến phí cấp bậc được biểu diễn theo phương trình sau:
y = a
i
x
i
Trong đó:
a: là biến phí trên một đơn vị mức
độ hoạt động ở phạm vi i.
y: là tổng biến phí cấp bậc
x: là mức độ hoạt động ở phạm vi i.
Theo cách ứng xử này, muốn đối
phó với biến phí cấp bậc thì các nhà quản trị doanh nghiệp phải nắm được toàn
bộ khả năng cung ứng của từng bậc để đánh giá khuynh hướng hoạt động đúng
mức tương xứng với các chi phí trên. Ngoài ra điều này còn nhằm mục đích
tránh khuynh hướng huy động quá nhiều so với nhu cầu. Bởi vì điều này sẽ gây
khó khăn cho doanh nghiệp khi nhu cầu giảm.
2. Định phí (chi phí cố định, chi phí bất biến, FC)
6
không thay đổi theo mức độ hoạt động của đơn vị. Nếu xét về tổng chi phí, định
phí không thay đổi, ngược lại trên một mức độ hoạt động định phí tỷ lệ nghịch
với mức độ hoạt động. Tức là, mức hoạt động càng cao thì định phí cho một đơn
vị mức độ hoạt động càng giảm. Và doanh nghiệp có hoạt động hay không hoạt
động thì định phí vẫn tồn tại.
Trong doanh nghiệp sản xuất hay thương mại, định phí được thể hiện ở
các khỏan mục như: chi phí khấu hao, chi phí thuê nhà xưởng, chi phí quảng cao,
chi phí giao tiếp,
a. Cơ sở phân biệt định phí và biến phí cấp bậc
Điểm khác nhau cơ bản nhất giữa định phí và chi phí biến đổi cấp bậc đó là:
- Chi phí biến đổi cấp bậc thay đổi nhanh chóng khi hoạt động thay đổi.
Còn định phí thì thường bị ràng buộc ít nhất tới hết kỳ kết hoạch mới thay đổi
được.
- Định phí gắn liền với khoảng thời gian nhất định.
b. Cách ứng xử của định phí và biến phí trong mối quan hệ với mức
hoạt động được tóm tắt qua bảng sau:
Chi phí
Ứng xử của chi phí khi hoạt động thay đổi
7
Tổng chi phí Chi phí đơn vị
Biến phí Thay đổi Không đổi
Định phí Không đổi Thay đổi
c. Phân loại định phí:
Chia làm 2 loại: - Định phí tùy ý
- Định phí bắt buộc
+ Định phí tùy ý (định phí không bắt buộc):
Định phí tùy ý là định phí có thể được thay đổi nhanh chóng bằng hành
động quản trị. Các nhà quản trị quyết định mức độ và số lượng định phí này
trong các quyết định hàng năm.
Nói cách khác, định phí tùy ý còn được xem như chi phí bất biến quản trị.
thể hiện qua việc đầu tư dự án của một Công ty X. Đó là dự án đầu tư máy móc
thiết bị của một Công ty X. Muốn đầu tư vào dự án này trước tiên chúng ta cần
phải khảo sát kỹ về vị trí địa lý, công dụng của loại máy móc cần đầu tư, kinh
phí đầu tư, Khi máy móc được đưa vào sử dụng thì khấu hao máy móc thiết bị
là chi phí mà doanh nghiệp phải chịu trong nhiều năm. Khi doanh nghiệp hoạt
động và ngay cả khi ngừng hoạt động. Bên cạnh những ứng xử trên của các nhà
quản trị đối với định phí bắt buộc, muốn tiết kiệm và tăng nhanh khả năng thu
hồi vốn đầu tư, tránh bớt những rủi ro cần phải tận dụng và khai thác hết công
suất của tài sản dài hạn, việc phát huy kiến thức, khả năng, mở rộng quy mô
quản lý của các nhà quản trị cấp cao là việc cần phải thực hiện trong thời gian
phát sinh định phí bắt buộc.
d. So sánh định phí bắt buộc và định phí tùy ý
Định phí bắt buộc và định phí tùy ý thực chất tùy vào cách suy nghĩ của
từng nhà quản trị và có những khoản định phí nằm trên ranh giới của định phí bắt
buộc và định phí tùy ý.
+ Định phí bắt buộc không thể được cắt giảm tùy tiện nhưng định phí tùy
ý nếu bị tùy tiện cắt giảm trong các chương trình cắt giảm chi phí thì sẽ gây ảnh
hưởng lâu dài.
+ Các nhà quản trị doanh nghiệp xử lý định phí bắt buộc và định phí tùy ý
hòan toàn khác nhau. Trong các chương trình cắt giảm chi phí thì định phí tùy ý
9
thường giảm đầu tiên, định phí bắt buộc không đổi, nếu có thì cũng rất ít. Bên
cạnh đó, các nhà quản trị có khuynh hướng xem xét các định phí tùy ý chặt chẽ
và thường xuyên hơn các định phí bắt buộc.
+ Khái niệm định phí bắt buộc và định phí tùy ý tùy thuộc vào cách nhìn
nhận riêng của từng nhà quản trị trong doanh nghiệp. Cụ thể, có những nhà quản
trị nhìn nhận các khỏan định phí này là bắt buộc nên họ rất ngại khi điều chỉnh,
nhưng những người khác lại cho nó là định phí tùy ý. Cho nên thường xuyên
xem xét lại và điều chỉnh khi có điều kiện.
Bên cạnh đó giữa định phí bắt buộc và định phí tùy ý có 2 điểm khác biệt
ổn định hơn, Tức là , thông qua hợp đồng lao động , mức lương được quy định
rõ ràng , thời gian lao động của công nhân được đảm bảo cho sức khỏe. Điều
này, đã làm cho biến động của chi phí lao động giảm so với biến động của sản
xuất .
Hai nguyên nhân này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển lâu
dài và cơ bản của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Nhưng khi định phí có
tỷ lệ cao hơn so với biến phí thì các nhà quản trị doanh nghiệp dễ bị động và rất
ít sự lựa chọn trong các quyết định hàng ngày khi lập kế hoạch.
i. Đồ thị biểu diễn định phí như sau:
11
Chi phí
0
Phạm vi phù hợp
Đường
biểu diễn
định phí
Mức hoạt động
3. Chi phí hỗn hợp (MC)
a. Khái niệm:
Chi phí hỗn hợp là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố biến phí
và định phí. Ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thể hiện các đặc điểm
của định phí, quá mức hoạt động căn bản chi phí hỗn hợp thể hiện các đặc điểm
của biến phí.
Chi phí hỗn hợp = Biến phí + Định phí
Đồ thị biểu diễn chi phí hỗn hợp:
b. Kỹ thuật ước lượng chi phí hỗn hợp: Có 3 phương pháp
* Phương pháp đồ thị điểm (đồ thị phân tán):
Phương pháp này phân tích chi phí hỗn hợp thông qua việc quan sát và
dùng đồ thị biểu diễn tất cả các điểm với chi phí và mức độ hoạt động tương ứng.
Sau đó, kẻ một đường thẳng sao cho
5
y
4
y
3
y
2
y
1
Phương pháp này rất hữu ích cho các nhà quản trị và được sự hỗ trợ của
máy tính. Tuy nhiên cho kết quả khác nhau. Vì thế không chính xác.
* Phương pháp cực đại - cực tiểu (điểm cao - điểm thấp)
Phương pháp này còn được gọi là phương pháp chênh lệch, chúng phân
tích chi phí hỗn hợp dựa trên đặc điểm của chi phí hỗn hợp thông qua khảo sát
chi phí hỗn hợp ở mức cao nhất và thấp nhất. Chênh lệch chi phí của 2 điểm này
được chia cho mức độ gia tăng mức độ hoạt động để xác định định mức biến phí.
Sau đó, loại trừ biến phí, ta được phí trong chi phí hỗn hợp.
Phương pháp điểm cao, điểm thấp có kỹ thuật tính toán đơn giản nhưng
khi chúng ta quan sát và lựa chọn 2 điểm cao nhất và thấp nhất không phù hợp,
không thể hiện được đặc điểm của thành phần chi phí hỗn hợp. Lúc này, khả
năng không chính xác khi phân tích chi phí hỗn hợp tăng, làm cho quyết định về
chi phí hỗn hợp có độ chính xác thấp.
* Phương pháp bình phương bé nhất:
Phương pháp này được sử dụng để phân tích chi phí hỗn hợp. Bởi vì,
phương pháp này tinh vi hơn phương pháp cực đại - cực tiểu và cho ta độ chính
xác cao hơn.
Phương pháp bình phương bé nhất xác định hàm số chi phí hỗn hợp dựa
vào kỹ thuật thống kê, có dạng như sau:
y = a = bx
Trong đó: y: là chi phí hỗn hợp
1. Phương pháp tài khỏan
Phương pháp này phân tích các khỏan mục chi phí phát sinh dựa trên các
tài khỏan chi phí của kế toán.
Muốn thực hiện được phương pháp này, trước tiên chúng ta cần xếp loại
chi phí theo tên gọi, tiếp theo kiểm tra tên gọi bằng cách là lướt qua tài khỏan
của chi phí đó trong vài kỳ kinh doanh. Nếu như số tiền thuộc các tài khỏan biến
động ít và không đáng kể qua các kỳ doanh nghiệp hoặc là có biến động thì qua
đó chúng ta nhận diện được đâu là biến phí, định phí hay chi phí hỗn hợp.
Phương pháp tài khỏan phụ thuộc vào khả năng, tư duy dự đoán chi phí
của các nhà quản trị. Phương pháp này tồn tại một nhược điểm là không nhận
diện được chi phí đã phát sinh từ hoạt động nào.
2. Phương pháp kỹ thuật
Đây là phương pháp dựa trên các thông số kỹ thuật của hàng hóa để định
mức giá và lượng của các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất hàng hóa. Những
chi phí nào biến thiên theo số lượng hàng hóa sản xuất thì nó là biến phí, ngược
14
y
0
x
y=ax+b
(đường thẳng hồi quy)
lại, là định phí. Phương pháp này được sử dụng nhiều ở các doanh nghiệp sản
xuất chế biến hơn ở các doanh nghiệp thương mại và dịch vụ.
3. Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này được sử dụng để phỏng vấn trực tiếp những người có
trách nhiệm điều hành các hoạt động phát sinh ra chi phí ở từng bộ phận quản lý
của doanh nghiệp.
Phương pháp phỏng vấn giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp nhận
diện được các nguồn chi phí dự kiến sẽ phát sinh và có tác dụng khi triển khai
kết quả ước tính cho các quyết định khác nhau. Nhược điểm của phương pháp
=
SLSP tồn cuối kỳ
dự toán
+
SLSP tiêu thụ
dự toán
-
SLSP tồn
đầu kỳ
+ Dự toán cung ứng vật tư cho sản xuất: cần xác định
Lượng nguyên liệu sử
dụng KH
=
Định mức tiêu hao
nguyên liệu
x
Số lượng SPSX theo
dự toán
Chi phí NVLTT dự toán = Lượng NVL sử dụng KH x SLSP sản xuất dự toán
Số lượng NVL
mua vào dự toán
=
Số lượng NVL
sử dụng dự toán
+
Số lượng NVL
tồn cuối kỳ
-
Số lượng NVL tồn
thực tế đầu kỳ dự toán
và đáp ứng các nhu cầu chi tiêu khác. Dự toán vốn bằng tiền là cơ sở giúp cho
doanh nghiệp có dự toán vay kịp thời khi lượng tiền thiếu hoặc đầu tư sinh lời
khi lượng tiền thừa.
b. Báo cáo lãi - lỗ dự toán
c. Lập bảng cân đối kế toán dự toán
d. Lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ dự toán
Khi lập dự toán vốn bằng tiền cần chú ý một số điều sau:
+ Phải dự đoán được khoảng thời gian giữa doanh thu được ghi nhận và
thời điểm thu tiền thực tế.
+ Dự toán khoảng thời gian chi phí được ghi nhận và thời điểm thực tế chi
tiền.
+ Loại trừ các khỏan chi phí không dùng tiền như chi phí khấu hao, chi
phí dự phòng nợ phải thu khó đòi,
+ Xây dựng mức dự trữ tiền tối thiểu.
II. Dự toán linh hoạt
Cách lập dự toán linh hoạt được dựa trên những đặc điểm của chi phí sản
xuất chung, bao gồm:
+ Chi phí sản xuất chung gồm nhiều khoản mục chi phí riêng biệt
+ Các khỏan mục chi phí riêng này thường có giá trị rất nhỏ vì thế không
thực tế.
+ Các khoản mục này do nhiều bộ phận khác nhau trong doanh nghiệp
chịu trách nhiệm.
17
+ Các khỏan mục này thường linh hoạt về cách ứng xử tức là có một số
khỏan là biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp.
Vì những đặc điểm trên của chi phí sản xuất chung, các nhà quản trị
doanh nghiệp phải lập dự toán linh hoạt để lập kế hoạch và kiểm soát chi phí sản
xuất chung.
Dự toán linh hoạt là dự toán được lập dựa trên một phạm vi hoạt động mà
doanh nghiệp có thể đạt được trong kỳ.
2. Chi phí NVL trực tiếp (1000đ) 50.000 42.200 -7.800
3. Chi phí nhân công trực tiếp (1000đ) 75.000 66.000 -9.000
18
4. Biến phí sản xuất chung (1000đ) 25.000 22.000 -3.000
5. Định phí sản xuất chung (1000đ) 60.000 58.000 -2.000
Tổng chi phí sản xuất chung (1000) 210.000 188.200 -21.800
Nếu chỉ dựa vào báo cáo trên chúng ta chưa thể đánh giá hay phân tích về
tình hình chi phí sản xuất của doanh nghiệp.
Vì vậy, các nhà quản trị tiến hành lập dự toán linh hoạt cho các mức hoạt
động lần lượt là 15.000, 20.000 và 25.000 sản phẩm.
Trình tự lập dự toán linh hoạt được tiến hành như sau:
Bước 1: Tính biến phí đơn vị của từng dự toán
Chi phí NVL trực tiếp =
50.000
= 2
25.000
Chi phí nhân công trực
tiếp
=
75.000
= 3
25.000
Biến phí sản xuất
chung
=
25.000
= 1
25.000
Bước 2: Lập dự toán linh hoạt cho mức sản lượng lần lượt là: 15.000,
20.000 và 25.000 sản phẩm.
toán đã lập là cơ sở hay tiền đề giúp cho họ phân tích được các nhân tố ảnh
hưởng đến kết quả hoạt động của một bộ phận hay toàn doanh nghiệp.
- Dự toán điều chỉnh (dự toán linh hoạt):
Dự toán điều chỉnh là loại dự toán có thể điều chỉnh để thích hợp với mức
độ hoạt động đạt được của doanh nghiệp. Một dự toán điều chỉnh là một kế
hoạch xây dựng cho nhiều mức hoạt động sản xuất.
Ví dụ: Một nhân viên kế toán chi phí có thể được quyền yêu cầu lập dự
toán điều chỉnh cho các mức sản xuất 500, 700 và 1000 sản phẩm của Công ty.
Việc so sánh số liệu đạt được với số liệu trong dự toán chỉ có giá trị đối
với một mức hoạt động đã cho. Cách lập dự toán điều chỉnh giúp cho các doanh
20
nghiệp ứng dụng để phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận để
truyền tải và thông tin cho các nhà quản trị doanh nghiệp khác về các rủi ro tài
chính gắn liền với mức độ hoạt động khác nhau.
- Phân biệt dự toán cố định và dự toán điều chỉnh:
Dự toán cố định và dự toán điều chỉnh có 2 điểm khác nhau cơ bản:
Thứ nhất, dự toán cố định chỉ hướng về một mức độ hoạt động cố định.
Còn dự toán điều chỉnh không hạn chế ở một mức độ hoạt động cố định, chúng
được xây dựng theo một phạm vi các mức hoạt động đặc biệt, mà doanh nghiệp
có thể đạt được ở kỳ kế hoạch.
Thứ hai, chi phí được xác định ở dự toán cố định luôn là gốc để so sánh
kết quả thực hiện mặc dù mức độ hoạt động ở kỳ kế hoạch và kỳ thực tế hoàn
toàn khác nhau. Còn dự toán điều chỉnh thì ngược lại, do được xây dựng từ nhiều
mức hoạt động nên chi phí của dự toán này được xác định tương ứng với các
mức hoạt động của các mức hoạt động đó.
Vì vậy, kết quả thực hiện thuộc mức hoạt động nào sẽ được so sánh với
định mức ở mức hoạt động đó. Cho nên kết quả thu được từ quá trình so sánh sẽ
có ý nghĩa phân tích hơn.
Ví dụ: Ta có bảng phân tích tình hình thực hiện kế hoạch biến phí sản
xuất chung của một Công ty X so với kế hoạch cố định và kế hoạch điều chỉnh
nhận định chính xác hoạt động gì đang diễn ra ở Công ty X.
- Lựa chọn hoạt động căn cứ để xây dựng dự toán điều chỉnh:
Thỏa mãn 3 điều kiện sau:
+ Phải có quan hệ trực tiếp với biến phí sản xuất chung, tức là biến phí
sản xuất chung phải là kết quả biến động của hoạt động căn cứ đã lựa chọn.
Ví dụ: ở cửa hàng thương mại, chi phí sản xuất chung biến động theo mức
hàng hóa tiêu thụ nên hoạt động căn cứ sẽ là mức tiêu thụ, trong phân xưởng sản
xuất thì các khỏan phí nguyên vật liệu, nhân công, sẽ biến động theo thời gian
sử dụng máy móc thiết bị nên hoạt động căn cứ sẽ là tổng số giờ máy hoạt
động,
+ Đơn vị tính không là tiền tệ để hạn chế biến động do chịu ảnh hưởng
của giá trị thay đổi.
+ Đơn giản và dễ hiểu vì nhà quản trị cần sử dụng thường xuyên.
22
PHẦN 3: KẾT LUẬN
Tóm lại, cách ứng xử chi phí và lập dự toán chi phí ở doanh nghiệp là hai
hoạt động luôn luôn tồn tại và là cơ sở thiết thực giúp các nhà quản trị trong
doanh nghiệp đưa ra các quyết định sáng suốt.
Để làm rõ quá trình xử lý thông tin, kế toán đã tổ chức để sử dụng cho kế
toán quản trị nghiên cứu tài liệu tại một Công ty như sau: Muốn cạnh tranh trên
thị trường thành công thì kế toán quản trị phải thiết kế một hệ thống thông tin tốt,
tức là các thông tin này đưa về làm chi phí trong kinh doanh phải được chia
thành định phí và biến phí. Các thông tin này sẽ được sử dụng trong báo cáo của
doanh nghiệp.
Dự toán không chỉ đơn thuần là tổng thể các số liệu dự toán mà chúng còn
cung cấp thêm thể thức thực hiện dự án. Lập dự toán là quá trình lập kế hoạch từ
từ từng bước một tiến hành thực hiện dự án của doanh nghiệp. Nói cách khác,
đây là việc chuẩn bị chiến lược và chi phí cho dự án của doanh nghiệp.
Thật vậy, việc phân loại chi phí, phân tích chi phí hỗn hợp, nhận diện về
cách ứng xử của chi phí và lập dự toán tổng thể hay dự toán linh hoạt. Tất cả
a. Khái niệm: 12
b. Kỹ thuật ước lượng chi phí hỗn hợp: Có 3 phương pháp 12
III. Nhận diện về cách ứng xử của chi phí 14
1. Phương pháp tài khỏan 14
2. Phương pháp kỹ thuật 14
3. Phương pháp phỏng vấn 15
B. CÁCH LẬP DỰ TOÁN THEO CÁCH ỨNG XỬ CỦA CHI PHÍ 15
I. Nội Dung của dự toán tổng thể doanh nghiệp 15
a. Dự toán bán hàng (dự toán tiêu thụ) 15
b) Dự toán sản xuất, (dự toán mua hàng) 16
c. Dự toán chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp 16
a. Dự toán vốn bằng tiền 17
b. Báo cáo lãi - lỗ dự toán 17
c. Lập bảng cân đối kế toán dự toán 17
d. Lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ dự toán 17
Trang: 24
II. Dự toán linh hoạt 17
PHẦN 3: KẾT LUẬN 23
Trang: 25