Xây dựng bài giảng điện tử học phần lý thuyết động cơ ô tô - Pdf 23

Khoa cơ khí động lực
Đồ án tốt nghiệp Trang 1
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN


CHƯƠNG 2. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ĐỀ RA CÁC GIẢI PHÁP
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP HỌC PHẦN. 14
PHẦN II: XÂY DỰNG NỘI DUNG MÔN HỌC 16
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ ĐỘNG CƠ ĐỐT TRONG 16
1.1. Động cơ đốt trong 16
1.2. So sánh động cơ đốt trong với các loại động cơ nhiệt khác 16
1.3. Phân loại động cơ đốt trong 17
1.4. Nguyên lý làm việc của động cơ đốt trong loại trục khuỷu – thanh truyền 20
1.4.1. Sơ đồ nguyên lý và cấu trúc cơ bản 20
1.4.2. Các khái niệm và thông số cơ bản của động cơ đốt trong 21
1.4.3. Nguyên lí làm việc của động cơ 4 kỳ không tăng áp 22
1.4.3.1. Nguyên lí làm việc của động cơ xăng 1 xylanh 22
1.4.3.2. Nguyên lí làm việc của động cơ diesel 1 xylanh 24
1.4.2. Nguyên lí làm việc của động cơ 2 kì 24
1.4.3. Nguyên lí làm việc của động cơ nhiều xylanh 26
Khoa cơ khí động lực
Đồ án tốt nghiệp Trang 3
1.4.3.1 Nguyên lí làm việc của động cơ 4 kì 4 xylanh thẳng hàng 27
1.4.3.2. Nguyên lí làm việc của động cơ 6 xylanh thẳng hàng 27
1.4.4. Nguyên lí làm việc của động cơ có tăng áp 28
1.5. Nguyên lí làm việc của động cơ piston quay (đông cơ Walken) 30
CHƯƠNG II: CHU TRÌNH CÔNG TÁC CỦA ĐỘNG CƠ ĐỐT TRONG 32
2.1. Chu trình lý tưởng 32
2.1.1. Khái niệm chu trình lý tưởng 32
2.1.2. Các loại chu trình lí tưởng 33
2.1.3. Các chỉ tiêu đánh giá chu trình lí tưởng 34
2.1.4. Khảo sát ảnh hưởng đến hiệu suất nhiệt và áp suất trung bình của chu trình
35
2.1.4.1. Chu trình đẳng tích 35
2.2. Chu trình thực tế của động cơ đốt trong 38

3.2.1.1. Nhiên liệu khí 64
3.2.1.2. Nhiên liệu lỏng 65
3.2.2. Tính chất cơ bản của nhiên liệu lỏng 66
3.2.2.1. Tính chất vật lý của nhiên liệu lỏng 66
3.2.2.2. Tính chất hoá học của nhiên liệu lỏng 69
3.2.2.3. Đánh giá tính tự cháy của nhiên liệu diesel 70
3.2.2.4. Đánh giá tính chống kích nổ của nhiên liệu xăng 71
CHƯƠNG IV: HÌNH THÀNH HỖN HỢP TRONG ĐỘNG CƠ ĐỐT TRONG 73
4.1. Sự hình thành hòa khí trong động cơ đốt trong 73
4.1.1. Khái niệm sự hình thành hòa khí 73
4.1.2. Phân loại sự hình thành hòa khí 74
4.2. Hình thành hòa khí trong động cơ xăng 74
4.2.1. Yêu cầu thành phần khí hỗn hợp động cơ xăng 74
4.2.2. Hình thành hỗn hợp trong bộ chế hòa khí 75
4.2.2.1. Nguyên lí tạo hỗn hợp 75
4.2.2.2. Đặc tính của bộ chế hòa khí lí tưởng 77
4.2.3.3. Các tuyến xăng trong bộ chế hòa khí 78
4.2.3. Hình thành hỗn hợp trong động cơ phun xăng 79
4.2.3.1. Hệ thống phun xăng đơn điểm 80
4.2.3.2. Hệ thống phun xăng đa điểm 80
4.2.3.3. Hệ thống phun xăng trực tiếp 81
4.2.3.4. Lý thuyết chung về phun xăng 83
4.2.4. So sánh hệ thống phun xăng và hệ thống dùng chế hòa khí 93
4.3. Hình thành hỗn hợp trong động cơ Diezel 93
4.3.1. Chất lượng tia phun và các nhân tố ảnh hưởng 94
4.3.2. Cấu trúc và sự phát triển của tia phun nhiên liệu 96
4.2.3. Các phương pháp hình thành hòa khí trong động cơ diezel 97
4.2.3.1. Buồng cháy thống nhất 97
4.2.3.2. Hỗn hợp thể tích- màng 99
4.2.3.3. Hỗn hợp màng 100

6.2.3.3. Hệ thống thay đổi chiều dài đường nạp ACIS 135
KẾT LUẬN 137

Khoa cơ khí động lực
Đồ án tốt nghiệp Trang 6
LỜI NÓI ĐẦU
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thì nền
công nghiệp nói chung và đặc biệt là công nghiệp ôtô đã có những bước phát triển
nhảy vọt. Ôtô là một trong những phương tiện giao thông không thể thiếu đối với sự
phát triển của nền kinh tế – xã hội hiện nay.
Môn “Lý thuyết động cơ ô tô” là một trong những môn học đóng vai trò quan
trọng trong việc thiết lập những cơ sở khoa học để nghiên cứu, thiết kế động cơ. Nó
đã đề ra được những phương hướng nghiên cứu, thí nghiệm động cơ, tìm ra những
phương hướng, giải pháp điều khiển tối ưu nhất cho động cơ ô tô để nâng cao chất
lượng cũng như hiệu suất động cơ.
Môn học này làm nền tảng cơ bản của ngành kỹ thuật ôtô, nó biểu hiện rõ hơn về
lý thuyết tổng quát của động cơ.
Môn lý thuyết động cơ ôtô này xây dựng nhằm hai nhiệm vụ chính:
+ Giới thiệu tổng quan về động cơ đốt trong dùng trên xe ô tô
+ Nghiên cứu về chu trình làm việc của động cơ ô tô, quá trình hình thành hòa
khí trong động cơ.

“Lý thuyết động cơ ôtô” áp dụng cho sinh viên đại học, cao đẳng tại khoa Cơ Khí
Động Lực trường ĐHSPKT Hưng Yên.
- Xây dựng hệ thống đề cương học tập học phần “lý thuyết động cơ ôtô” dùng
cho việc đào tạo sinh viên tại khoa Cơ Khí Động Lực trường ĐHSPKT Hưng Yên.
- Đề xuất các giải pháp nhằm đổi mới phương pháp dạy học học phần “ Lý thuyết
động cơ ôtô” áp dụng cho sinh viên Đại học, Cao đẳng tại khoa Cơ Khí Động Lực
trường ĐHSPKT Hưng Yên.
2. Đối tượng và khách thể nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: Học phần “Lý thuyết động cơ ôtô”.
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình giảng dạy và học tập học phần “Lý thuyết
động cơ ôtô”.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Tìm hiểu thực trạng tình hình giảng dạy và học tập học phần “ Lý thuyết động
cơ ôtô” cho đối tượng sinh viên ĐH-CĐ.
- Tổng hợp tài liệu trong nước vào nước ngoài cùng tài liệu của các hãng xe để
xây dựng lên hệ thống đề cương học tập học phần “ Lý thuyết động cơ ôtô”.
- Đề xuất phương pháp nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập học phần “Lý
thuyết động cơ ôtô”.

- Mối quan hệ thầy trò cũng có những biến đổi quan trọng, ngày nay mối quan hệ
này đang chuyển dần từ quan hệ phụ thuộc, người thầy luôn đóng vai trò chủ đạo với
chức năng cơ bản là tổ chức, hướng dẫn, chỉ đạo toàn bộ quá trình dạy - học và người
học có vị trí trung tâm, tham gia tích cực, chủ động và sáng vào quá trình dạy - học.
Những nhu cầu, lợi ích và khả năng của người học được quan tâm thích đáng trong
quá trình dạy - học. Đặt người học vào vị trí trung tâm quá trình dạy học có nghĩa là
làm cho người học làm chủ mình hơn, có khả năng lựa chọn, tìm hiểu, sáng tạo những
phương pháp học tập tích cực trong quá trình tiếp thu kiến thức.
Khoa cơ khí động lực
Đồ án tốt nghiệp Trang 9
2. Cơ sở sư phạm để xây dựng và biên soạn nội dung môn học.
2.1. Theo yêu cầu xã hội.
- Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đổi mới - thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã
hội, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đất nước trong quá trình công nghiệp hoá-
hiện đại hoá cần một nguồn nhân lực có trình độ văn hoá, có kỹ năng nghề nghiệp,
luôn làm chủ được những tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Vấn đề này đang được Nhà
nước ta quan tâm và có những chính sách thích hợp đối với ngành giáo dục nói chung
và lĩnh vực đào tạo nghề nói riêng. Về cơ bản nguồn nhân lực qua đào tạo đã đáp ứng
được yêu cầu cơ bản về nhu cầu của nền kinh tế đất nước.
Ngày nay, khoa học kỹ thuật - công nghệ phát triển không ngừng và được ứng
dụng ngày càng rộng rãi vào trong lao động sản xuất, điều đó là nhân tố thúc đẩy nền
kinh tế nước ta cũng như các nước khác trên thế giới phát triển mạnh mẽ. Để theo kịp
nhịp độ phát triển của nền kinh tế thì giáo dục đào tạo nghề phải lấy yêu cầu thực tế
của nền kinh tế xã hội làm cơ sở để xây dựng mục tiêu đào tạo và thời gian đào tạo từ
đó làm cơ sở để xây dựng chương trình môn học.
2.2. Theo mục tiêu đào tạo.
- Khi xây dựng nội dung chương trình cho một môn học ta cần phải dựa vào mục
tiêu của môn học, mục tiêu được hiểu là cái đích cần đạt tới sau mỗi môn học. Mục
tiêu được cụ thể hoá qua từng chương, từng bài học. Sự kết hợp nhiều mục tiêu cụ thể
trong từng nội dung học tập sẽ tạo thành mục tiêu lớn - mục tiêu tổng quát. Mục tiêu

tượng mình đang tiếp xúc.
+ Nội tâm hoá: Cảm thông, đưa vào bên trong ý thức của bản thân một hiểu biết,
một nhận định, tình cảm… về đối tượng tiếp xúc.
- Ở mỗi một bậc học đều có mục tiêu đào tạo và chương trình môn học riêng, để
xác định được mục tiêu của môn học ta cần phải căn cứ vào mục tiêu đào tạo chung
của bậc học đó. Mục tiêu đào tạo của bậc học cao đẳng và đại học trong trường Đại
học Sư phạm kỹ thuật Hưng Yên là đào tạo ra một đội ngũ lao động phát triển toàn
diện có đạo đức, có sức khoẻ, nâng cao chất lượng tay nghề gắn liền với nâng cao ý
thức kỷ luật và tác phong hiện đại trong lao động, đáp ứng được những yêu cầu của sự
phát triển kinh tế xã hội và sự nghiệp giáo dục đào tạo nghề của đất nước.
2.3. Các nguyên tắc giáo dục.
- Qua nghiên cứu các Nhà giáo dục đã tổng kết về các nguyên tắc giáo dục là:
“Học đi đôi với hành - Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất - Nhà trường gắn liền
với xã hội”.
- Về nguyên tắc thứ nhất “ Học đi đôi với hành”: Theo chủ nghĩa Mác - Lênin
“từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng là quá trình duy vật biện chứng”. Như
vậy, mối tương quan giữa “học” và “hành” phải tương hỗ, bổ sung cho nhau, thúc đẩy
nhau phát triển trong quá trình tư duy. Ta biết rằng bản chất của sự học là quá trình
truyền thụ và lĩnh hội các kinh nghiệm lịch sử xã hội. Từ kinh nghiệm lịch sử của
người đi trước truyền lại, qua sự “học”, con người tìm ra các cách thức giải quyết công
việc. Ngược lại, phải từ thực tế, trong thực tế, qua thực tế sinh động con người mới rút
ra kinh nghiệm lịch sử. Đây là quá trình “hành”. Có nghĩa là qua “hành” bổ sung, hoàn
thiện cho “ học”, từ “ học” con người tìm ra cách thức “ hành” nhanh nhất. Hai quá
trình này luôn song song, tương hỗ nhau.
Khoa cơ khí động lực
Đồ án tốt nghiệp Trang 11
- Về nguyên tắc thứ hai “Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất”: Ta thấy rằng
nhân cách của một con người được thể hiện qua lao động, trong lao động và bằng lao
động. Như vậy là quá trình giáo dục không chỉ dạy nghề mà còn phải dạy người - tức
là rèn đức cho người học. Một điểm cần quan tâm nữa là yếu tố tự giáo dục ở người

- Ta biết rằng, dù là phương pháp nhận thức hay phương pháp sản xuất cũng bao
gồm trong bản thân nó sự nhận thức những qui luật khách quan. Trên cơ sở những qui
luật này mới xuất hiện những thủ thuật hay hệ thống thủ thuật để nhận thức và để hành
Khoa cơ khí động lực
Đồ án tốt nghiệp Trang 12
động. Những qui luật khách quan mà con người nhận được tạo nên mặt khách quan
của phương pháp, những thủ thuật hay thao tác nảy sinh ra trên cơ sở những qui luật
đó mà con người sử dụng nhận thức và cải biến các hiện tượng, thúc đẩy các quá trình
tiến lên tạo nên mặt chủ quan của phương pháp. Bản thân các quy luật khách quan
không trực tiếp tạo nên phương pháp nhưng nó lại là yếu tố không thể thiếu được đối
với phương pháp. Nó là cơ sở chỉ ra cho con người biết rằng nên dùng những thủ
thuật, thao tác gì trong trường hợp nào để đạt được mục đích đã dự định, làm thế nào
để tìm ra cái mới trong nhận thức… Trong thực tiễn, phương pháp không phải là bản
thân sự hoạt động mà là các cách thức, tính chất, phương hướng và trình tự tiến hành
các hoạt động đó. Vì vậy phương pháp là hệ thống các hoạt động có mục đích rõ rệt
của người dạy, đảm bảo cho người học nắm vững kiến thức, hình thành kỹ năng và tạo
ra kỹ xảo, từ đó phát triển hơn nữa năng lực nhận thức và trau dồi thêm phẩm chất đạo
đức.
- Các phương pháp dạy học được các nhà sư phạm đưa ra gồm:
+ Nhóm phương pháp dạy học bằng lời:
* Phương pháp thuyết trình: Giảng thuật, giảng diễn, giảng giải)
* Phương pháp đàm thoại: Đàm thoại tái hiện, đàm thoại giải thích, minh hoạ.
+ Nhóm các phương pháp dạy học trực quan ( sử dụng mô hình, vật thật, sử dụng
phương tiện kỹ thuật hỗ trợ: máy chiếu – phim chiếu, máy vi tính…)
+ Nhóm phương pháp luyện tập.
+ Phương pháp ôn tập, phương pháp dạy học chuyên biệt.
+ Phương pháp làm việc với sách giáo khoa và tài liệu tham khảo…
- Về phương tiện: Phương tiện là toàn bộ các dụng cụ, các thiết bị kỹ thuật và tài
liệu hướng dẫn dùng để trang bị cho quá trình dạy học. Việc sử dụng phương tiện dạy
học vừa là phương pháp giảng dạy vừa là công cụ hỗ trợ cho người dạy, trợ giúp đắc

- Như chúng ta đã biết mỗi ngành nghề trong một trường đào tạo đều tuyển sinh
nhiều đối tượng khác nhau điều đó có nghĩa là mặt bằng kiến thức và khả năng nhận
thức của từng đối tượng là khác nhau. Do đó khi xây dựng chương trình môn học ta
cũng cần chú ý đến đặc điểm này. Ta cần phải biết mình đang xây dựng chương trình
môn học đối tượng nào.Từ đó ta có những định hướng cần thiết để nội dung môn học
ta biên soạn phù hợp với yêu cầu và khả năng nhận thức của đối tượng đó nhằm nâng
cao hiệu quả trong đào tạo. Khoa cơ khí động lực
Đồ án tốt nghiệp Trang 14
CHƯƠNG II. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ĐỀ RA CÁC GIẢI PHÁP
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP HỌC PHẦN.
1. Thực trạng giảng dạy và học tập học phần “lý thuyết động cơ ôtô” tại khoa cơ
khí động lực trường ĐH SPKT Hưng Yên.
- Đội ngũ cán bộ giảng dạy học phần “Lý thuyết động cơ ôtô” còn thiếu so với
yêu cầu, dẫn đến tình trạng quá tải giờ dạy của giảng viên, thiếu thời gian đầu tư cho
nghiên cứu khoa học.
- Trong khi giảng dạy hầu hết giảng viên sử dụng phương pháp truyền thống,
diễn giảng, thuyết trình, độc thoại là chủ yếu. Cách thức giảng dạy còn thiên về lý
luận, chưa tìm ra những phương thức hiệu quả giúp sinh viên chủ động hơn trong tiếp

tuyển dụng lưc lượng giảng viên từ bên ngoài. Đủ giảng viên là điều kiện tiên quyết
đảm bảo cho việc nâng cao chất lượng giảng dạy.
- Song song với việc chú ý số lượng, việc chú trọng chất lượng của đội ngũ cán
bộ giáo viên là vô cùng quan trọng. Phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn
cũng như nâng cao trình độ lý luận sư phạm, khả năng nghiên cứu khoa học cho đội
ngũ giáo viên. Để giảng dạy tốt, giảng viên trước hết cần có kiến thức sâu rộng cho
nên việc có ý thức tự trau dồi, tích lũy kiến thức qua việc tự học, tự nghiên cứu, nhằm
làm giàu tri thức phục vụ chuyên môn phải được coi trọng. Ngoài ra, việc cập nhật
thông tin qua các phương tiện thông tin đại chúng đóng vai trò hết sức quan trọng,
giúp cho giảng viên có nhiều kiến thức mới phong phú.
- Đổi mới mạnh mẽ sâu rộng phương pháp dạy và học, phương pháp kiểm tra,
đánh giá.
- Tiến hành trang bị thêm số lượng các trang thiết bị dạy học tiên tiến, tiến hành
ứng dụng rộng rãi, phổ biến các phương pháp, phương tiện giảng dạy hiện đại nhằm
đánh thức sự đam mê nguyên cứu và học tập trong sinh viên.
- Tiến hành ứng dụng các phương pháp học tập và giảng dạy mới lấy người học
làm trọng tâm như: tiến hành học tập nhóm, dạy học theo mô đun, nghiên cứu khoa
học… Bên cạnh đó kết hợp với những hình thức kiểm tra đánh giá kết quả tiên tiến
nhằm kích thích người học chú tâm học tập, chủ động được những kiến thức đặt ra với
người học.
- Xây dựng lại hệ thống đề cương học tập học phần, sơ lược những nội dung đã
cũ không còn phù hợp với thực tiễn, cập nhật những nội dung mới đáp ứng nhu cầu đề
ra của xã hội cũng như đối với người học.


Do giới hạn của giáo trình, chúng ta chỉ xét động cơ đốt trong kiểu piston và từ
đây gọi vắn tắt là động cơ đốt trong (ĐCĐT). Trong thực tế, động cơ kiểu tuabin là đối
tượng khảo sát của chuyên ngành máy tuabin.
1.2. So sánh động cơ đốt trong với các loại động cơ nhiệt khác

Động cơ nhiệt
Động cơ đốt ngoài
Động cơ đốt trong
Kiểu piston
Kiểu tuabin
Kiểu piston
Kiểu tuabin
Khoa cơ khí động lực
Đồ án tốt nghiệp Trang 17
Ưu điểm
Nhược điểm
- Hiệu suất có ích 
e
lớn nhất,
có thể đạt tới 50% hoặc hơn nữa.
Trong khi đó, máy hơi nước cổ điển
kiểu piston chỉ đạt khoảng 16%,
tuabin hơi nước từ 22 đến 28%, còn
tuabin khí cũng chỉ tới 30%.
- Kích thước và trọng lượng
nhỏ, công suất riêng lớn. Do đó,
động cơ đốt trong rất thích hợp cho
các phương tiện vận tải với bán kính
hoạt động rộng.
- Khởi động, vận hành và chăm

Các loại động cơ
Theo cách thực
hiện chu trình
công tác

Động cơ bốn kỳ: Là động cơ có chu trình công tác thực hiện
sau bốn hành trình của piston hay hai vòng quay của trục
khuỷu.
Động cơ hai kỳ: Là động có chu trình công tác thực hiện sau
Khoa cơ khí động lực
Đồ án tốt nghiệp Trang 18
hai hành trình của piston hay một vòng quay của trục khuỷu.
Theo nhiên liệu
Động cơ nhiên liệu lỏng: như xăng, diesel, cồn pha xăng hoặc
diesel, dầu thực vật
Động cơ nhiên liệu khí: Nhiên liệu khí bao gồm: khí thiên
nhiên (Compressed Natural Gas - CNG), khí hoá lỏng
(Liquidfied Petroleum Gas - LPG), khí lò ga, khí sinh vật
(Biogas)
Động cơ nhiên liệu kép (Dual Fuel) ví dụ như động cơ gas+
xăng, ga + diesel…
Động cơ đa nhiên liệu (Multi Fuel) như động cơ có thể dùng
được cả diesel và xăng, hoặc động cơ dùng cả xăng và khí đốt.
Theo phương pháp
hình thành khí hỗn
hợp
Hình thành hỗn hợp bên ngoài xylanh như động cơ xăng dùng
bộ chế hòa khí hoặc hệ thống phun xăng gián tiếp (phun vào
đường nạp).
Hình thành hỗn hợp bên trong xylanh như động cơ diesel hay

Động cơ tốc độ trung bình
6,5 m/s  c
m
 9 m/s
Động cơ cao tốc
c
m
 9 m/s
Khoa cơ khí động lực
Đồ án tốt nghiệp Trang 19
Theo dạng chuyển động của
piston
Động cơ piston tịnh tiến thường gọi ngắn gọn là động
cơ piston. Đa số động cơ đốt trong là động cơ piston.
Động cơ piston quay hay động cơ rôto do Wankel
phát minh năm 1954 nên còn gọi là động cơ Wankel.
Theo cách bố trí xi lanh
Động cơ thẳng hàng
Động cơ chữ V
2. Bộ phận chuyển động và dự trữ năng lượng: Trục khuỷu, thanh
truyền, bánh đà.
b. Các hệ thống và cơ cấu trong động cơ:
1. Cơ cấu phối khí: Cụm xupap hút và xả, trục cam, cơ cấu dẫn động trục
cam.
2. Hệ thống bôi trơn: Cácte dầu, bơm dầu, lọc dầu, các tuyến dầu, két
làm mát dầu…
3. Hệ thống làm mát: Két nước, bơm nước, áo nước, van hằng nhiệt,
đường ống nước…
4. Hệ thống cung cấp nhiên liệu: Hệ thống nhiên liệu dùng chế hòa khí
hoặc phun xăng, hệ thống nhiên liệu đông cơ diesel.
5. Hệ thống điện động cơ: Hệ thống khởi động, hệ thống cung cấp
điện…
Khoa cơ khí động lực
Đồ án tốt nghiệp Trang 21
Hình cấu trúc cơ bản
Lược đồ

1.4.2. Các khái niệm và thông số cơ bản của động cơ đốt trong
Dựa vào lược đồ hình 1-7. Ta có thể đưa ra một số khái niệm cơ bản sau:
Quá trình công tác là tổng hợp tất cả biến đổi của môi chất công tác xảy ra trong
xylanh của động cơ và trong các hệ thống gắn liền với xylanh như hệ thống nạp - thải.
Chu trình công tác là tập hợp những biến đổi của môi chất công tác xảy ra bên
trong xylanh của động cơ và diễn ra trong một chu kì.
Kỳ là một phần của chu trình công tác xảy ra khi piston dịch chuyển một hành
trình.
Điểm chết: Là điểm mà tại đó piston có vận tốc bằng 0 hay là vị trí mà đường tâm
thanh truyền nằm trong mặt phẳng chứa đường tâm trục khuỷu. Có 2 điểm chết là
điểm chết trên (ĐCT) và điểm chết dưới (ĐCD).
1
2
3
4
5
6
§CT
§CD
S
D
Hình 1-7: Lược đồ động cơ bốn kỳ
1. Trục khuỷu 2. Thanh truyền,
3. Piston 4. Xu páp thải,
5. Vòi phun (động cơ diesel) hay bugi (động

c
h
c
ch
min
max
V
V
1
V
VV
V
V



(1.1)
1.4.3. Nguyên lí làm việc của động cơ 4 kỳ không tăng áp
Động cơ bốn kỳ có chu trình công tác được thực hiện sau bốn hành trình của
piston hay hai vòng quay của trục khuỷu.
1.4.3.1. Nguyên lí làm việc của động cơ xăng 1 xylanh

, bugi bật
tia lửa điện. Góc 
s
được gọi là góc đánh lửa sớm (động cơ
xăng). Sau một thời gian chuẩn bị rất ngắn, quá trình cháy
thực sự diễn ra làm cho áp suất và nhiệt độ trong xylanh
tăng lên rất nhanh.
Hành trình thứ ba: hành trình cháy- giãn nở.
Piston đi từ ĐCT xuống ĐCD. Sau ĐCT, quá trình
cháy tiếp tục diễn ra nên áp suất và nhiệt độ tiếp tục tăng,
sau đó giảm do thể tích xylanh tăng nhanh. Khí cháy giãn
nở sinh công. Gần cuối hành trình, xupáp thải mở sớm một
góc 
3
tại điểm b’ để thải tự do một lượng đáng kể sản vật
cháy ra khỏi xylanh vào đường thải.
Hành trình thứ tư: hành trình thải
Piston đi từ ĐCD lên ĐCT, sản vật cháy bị thải cưỡng bức
do piston đẩy ra khỏi xylanh. Để tận dụng quán tính của
dòng khí nhằm thải sạch thêm, xupáp thải đóng muộn sau
ĐCT một góc 
4
ở hành trình nạp của chu trình tiếp theo.
Hình 1-12: Hành trình
cháy trong động cơ xăng
Hình 1-13: Hành trình
xả trong động cơ xăng

nhiệt độ buồng cháy động cơ
diesel lúc này khoảng 500-
800
0
C. Cuối hành trình nén, vòi
phun phun nhiên liệu vào trong
buồng cháy của động cơ.
Hành trình cháy- giãn nở
- Nhiên liệu được phun vào trong buồng cháy kết hợp với không khí được nén ở
nhiệt độ và áp suất cao nên tự bốc cháy. Quá trình cháy sinh công đẩy piston đi xuống
ĐCD. Cuối hành trình cháy, xupap thải mở sớm 1 góc 
2
trước ĐCT nhằm tận dụng
quán tính của dòng khí để thải 1 phần khí cháy.
Hành trình thải
- Piston đi từ ĐCD đến ĐCT, xupap thải mở, khí cháy được đẩy ra ngoài qua
xupap thải. Xupap thải đóng sau ĐCT 1 góc 
3
nhằm mục đích thải hết sản vật cháy ra
ngoài
1.4.2. Nguyên lí làm việc của động cơ 2 kì
Động cơ hai kỳ, như đã nêu trong phần phân loại, có chu trình công tác thực hiện sau
hai hành trình của piston hay một vòng quay của trục khuỷu.
Hình 1-14: Hành trình
hút trong động cơ diesel
Hình 1-15: Hành trình
nén trong động cơ diesel
Hình 1-17: Hành trình
xả trong động cơ diesel
Hình 1-16: Hành trình

Piston đi chuyển từ ĐCT đến ĐCD, khí
đã cháy và đang cháy trong xylanh giãn
nở sinh công. Khi piston mở cửa thải A,
khí cháy có áp suất cao được thải tự do
ra đường thải. Từ khi piston mở cửa quét
B cho đến khi đến điểm chết dưới, khí
nạp mới có áp suất cao nạp vào xylanh
đồng thời quét khí đã cháy ra cửa A.
Như vậy trong hành trình thứ nhất
gồm các quá trình: cháy giãn nở, thải tự
do, quét khí và nạp khí mới.
Hành trình thứ hai:
Piston di chuyển từ ĐCD đến ĐCT,
quá trình quét nạp vẫn tiếp tục cho đến
khi piston đóng cửa quét B. Từ đó cho
đến khi piston đóng của thải A, môi chất
trong xylanh bị đẩy qua cửa thải ra
ngoài, vì vậy giai đoạn này gọi là giai
đoạn lọt khí. Tiếp theo là quá trình nén
bắt đầu từ khi piston đóng cửa thải A cho
tới khi nhiên liệu phun vào xylanh (động
cơ diesel) hoặc bugi (động cơ xăng) bật
tia lửa điện. Sau một thời gian cháy trễ
rất ngắn quá trình cháy sẽ xảy ra.
Như vậy trong hành trình thứ hai
gồm có các quá trình: quét và nạp khí, lọt
khí, nén và cháy.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status