Mở ĐầU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với những thành tựu của công cuộc đổi mới, du lịch Quảng
Nam trong những năm gần đây phát triển mạnh mẽ. Du lịch đã và đang trở
thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Du lịch phát triển tác động tích
cực đến phát triển kinh tế xã hội, khôi phục các làng nghề truyền thống,
tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, mở rộng giao lưu với bên ngoài, quảng
bá giới thiệu đất nước, con người Quảng Nam với bạn bè thế giới.
Ở Quảng Nam, du lịch văn hóa là loại hình có lợi thế so sánh. Quê
hương của hai di sản văn hóa thế giới: Phố cổ Hội An và khu di tích Mỹ
Sơn, với những giá trị văn hóa tiêu biểu của nhân loại; có hàng trăm di
tích văn hóa, lịch sử cách mạng, trong đó có 30 di tích xếp hạng quốc gia.
Quảng Nam còn được thiên nhiên ban tặng và sự sáng tạo độc đáo của con
người đã tạo nên nhiều cảnh đẹp, những danh thắng kỳ thú trên khắp
địa bàn.
Quảng Nam là nơi hội tụ, sinh sống của 6 dân tộc anh em Kinh, Hoa,
Cơ Tu, Xê Đăng, Giẻ Triêng và người Cor, với những sắc màu văn hóa
độc đáo, vừa mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, vừa đặc trưng của văn
hóa xứ Quảng. Những đặc điểm, những giá trị về văn hóa, về sinh thái nêu
trên luôn là tiềm năng to lớn để du lịch văn hóa Quảng Nam phát triển.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển du lịch đã bộc lộ nhiều mặt hạn
chế đáng quan tâm, nhất là phát triển du lịch thiếu tính bền vững, phát
triển du lịch chưa giải quyết tốt vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái, chưa
gắn kết chặt chẽ với việc trùng tu, bảo vệ, phát huy các giá trị văn hóa,
thậm chí xâm hại đến di sản văn hóa.
1
Do đó, "Du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Nam"được chọn làm đề tài
luận văn thạc sĩ này nhằm nhận diện rõ hơn các phương diện lý luận về du
lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng, về thực tiễn phát triển du lịch
văn hóa ở tỉnh Quảng Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Mục đích của luận văn là nghiên cứu du lịch văn hóa, loại hình du lịch có
tiềm năng to lớn và lợi thế so sánh ở tỉnh Quảng Nam, từ đó đề xuất giải pháp
phát triển loại hình du lịch này.
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vô sau:
- Trình bày những vấn đề lý luận và thực tiễn về du lịch, du lịch văn hóa
nói chung và ở tỉnh Quảng Nam nói riêng.
- Khẳng định vai trò, vị trí của du lịch văn hóa trong quá trình phát triển
kinh tế xã hội ở tỉnh Quảng Nam.
- Làm rõ thực trạng phát triển du lịch, du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Nam
trong những năm qua.
- Xác định phương hướng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch văn hóa
ở tỉnh Quảng Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về du lịch
văn hóa ở tỉnh Quảng Nam, nhất là giai đoạn từ năm 2001 đến 2005.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
3
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của nhà nước và của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng
Nam về phát triển du lịch, phát triển văn hóa.
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là kết hợp lý luận với thực tiễn, sử
dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, điều tra, so sánh
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Làm rõ du lịch văn hóa có tiềm năng to lớn và lợi thế so sánh cao trong
quá trình phát triển du lịch nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung ở
tỉnh Quảng Nam.
- Khẳng định trong quá trình phát triển kinh tế, phát triển du lịch phải
gắn với bảo tồn các di sản văn hóa, bảo vệ môi trường sinh thái.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn là tư liệu tham khảo cho việc xây
và tính không hành nghề của hoạt động du lịch. Nhưng không làm bất kỳ hoạt
động nào để kiếm tiền là chỉ nhằm vào du lịch giải trí, chứ chưa tính đến du
lịch thương mại.
5
Các học giả Trung Quốc trên cơ sở phân tích bản chất và thuộc tính của
du lịch đã đưa ra định nghĩa như sau: "Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã
hội nảy sinh trong điều kiện kinh tế xã hội nhất định, là sự tổng hòa tất cả các
quan hệ và hiện tượng do việc lữ hành để thỏa mãn mục đích chủ yếu là nghỉ
ngơi, tiêu khiển, giải trí và văn hóa nhưng lưu động chứ không định cư mà
tạm thời cư trú của mọi người dẫn tới [18, tr.13].
Các định nghĩa trên về du lịch đã tiếp cận khái niệm du lịch theo nghĩa
rộng, bao quát được nội dung, tính chất, mục đích của du lịch.
Luận văn nầy dựa vào khái niệm đã được nêu ra trong Luật Du lịch Việt
Nam:"Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người
ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan,
tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong mét khoảng thời gian nhất định" [19, tr.9].
Định nghĩa nầy đơn giản,đầy đủ nội dung và dễ hiểu.
1.1.1.2. Vai trò của du lịch đối với sự phát triển kinh tế xã hội
Loài người có ba nhu cầu, nhu cầu sinh tồn, nhu cầu hưởng thụ và nhu
cầu phát triển. Sau khi đã thỏa mãn được cơ bản nhu cầu sinh tồn thì hai nhu
cầu sau mới nẩy sinh trong cuộc sống. Hoạt động du lịch phát triển chứng
minh loài người đã bắt đầu vượt ra khỏi sự ràng buộc của nhu cầu sinh tồn, có
điều kiện hướng tới thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ.
Ngày nay trên thế giới, du lịch đã trở thành hiện tượng kinh tế - xã hội
phổ biến là cầu nối hữu nghị, phương tiện gìn giữ hòa bình và hợp tác giữa
các quốc gia, dân tộc. Du lịch hiện được coi là một trong những ngành kinh tế
hàng đầu, phát triển với tốc độ cao; thu hút các quốc gia tham gia vì những lợi
Ých to lớn về nhiều mặt mà nó đem lại. Theo số liệu của Tổ chức Du lịch thế
giới thì năm 1950 toàn thế giới có 25 triệu khách du lịch, đến năm 1990 đã
lên đến 450 triệu, tăng 18 lần, lên 592 triệu năm 1996,637 triệu năm 2000, dự
thời điểm năm 2005, hoạt động du lịch tạo ra trên 70 vạn việc làm trực tiếp và
bổ trợ cho nhiều tầng lớp dân cư.
Du lịch Việt Nam đã thiết lập quan hệ và mở rộng hợp tác với
nhiều tổ chức du lịch quốc tế là thành viên của Tổ chức Du lịch thế
giới (WT0), Hiệp hội Du lịch Châu Á- Thái Bình Dương (PATA),
Hiệp hội Du lịch ASEAN (ASEANTA), ; tích cực tham gia chủ
động hơn trong các diễn đàn và chương trình hợp tác trong và ngoài
khu vực. Kết quả hoạt động hợp tác, hội nhập kinh tế quốc tế đa
phương và song phương trong du lịch đã góp phần thực hiện đường
lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa
của Đảng và Nhà nước; góp phần giới thiệu về cảnh đẹp đất nước,
con người và tiềm năng du lịch Việt Nam, tranh thủ được sự đồng
tình ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp đổi mới đất
nước, tăng cường ngoại giao nhân dân [24, tr.10].
Ngành du lịch những năm qua tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, du
lịch có quy mô quốc gia và quốc tế: "Festival Huế," "Quảng Nam hành
trình di sản"; Năm du lịch Hạ Long 2004; Năm du lịch Điện Biên 2005,
Năm du lịch Quốc gia - Quảng Nam 2006 và nhiều lễ hội văn hóa - du lịch
truyền thống được tổ chức ở khắp các địa phương trong cả nước. Biểu
tượng du lịch với hình ảnh cô gái Việt Nam và tiêu đề "Việt Nam - điểm
đến của thiên niên kỷ mới" tạo nên hình ảnh thân thiện, gần gủi với các dân
tộc trên thế giới.
Có thể khẳng định, sự phát triển vượt bậc của ngành du lịch Việt Nam
trong những năm qua đã góp phần tích cực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế đất nước và các địa phương, giải quyết nhiều vấn đề xã hội thiết thực, giải
quyết việc làm, tăng thu nhập của một bộ phận dân cư, góp phần quảng bá và
8
giới thiệu hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế, mở rộng giao lưu, hội nhập
quốc tế của Việt Nam.
1.1.2. Các loại hình du lịch, du lịch văn hoá
thăm người thân, bạn bè, truy tìm cội nguồn, về lại nơi chôn nhau cắt rốn
Loại hình này chiếm tỷ trọng không lớn trong hoạt động du lịch trên thế giới
song xu thế chung hiện nay là số người du lịch tìm về cội nguồn và thăm
viếng người thân ngày càng tăng.
- Du lịch hội nghị: Một số nước hoặc khu vực tận dụng việc tiếp đãi hội
nghị, gắn hội nghị và du lịch lại với nhau vừa hội nghị vừa du lịch đã thu
được lợi Ých kinh tế nhất định. Đặc điểm của loại hình du lịch này là địa vị
của du khách cao, thời gian lưu trú dài, khả năng mua sắm lớn, số nhân viên
đi theo nhiều, lượng thông tin lớn, thu lợi kinh tế của ngành du lịch tốt, hình
thức du lịch này đang phát triển mạnh trên thế giới, trở thành một bộ phận ưu
tú của thị trường du lịch quốc tế.
- Du lịch Tôn giáo: Đây là hình thức du lịch cổ xưa và vẫn còn tồn tại
đến ngày nay.Nhiều quốc gia ở Châu Á có nhiều chùa chiền cổ, ở Châu Âu có
nhiều nhà thờ lịch sử lâu đời với những kiểu kiến trúc phong phú, đa dạng đã
thu hút các tín đồ tôn giáo thuộc những tín ngưỡng khác nhau, và nhiều du
khách tới tham quan.
1.1.2.2. Loại hình du lịch văn hóa khái niệm và đặc điểm của nó
Du lịch văn hóa là một trong 6 loại hình du lịch đã nêu ở trên mà đề tài
này đi sâu nghiên cứu.
a. Khái niệm du lịch văn hóa
Đến nay chưa có một nhận thức thống nhất, còn nhiều cách tiếp cận khác
nhau về khái niệm du lịch văn hóa. Cách tiếp cận sau đây được coi là phù hợp
10
nhất: "Du lịch văn hóa là du lịch trong đó du khách tìm hiểu văn vật cổ tích, văn
hóa nghệ thuật, kiến trúc dân tộc, khoa học kỹ thuật, giáo dục với mục đích khảo
sát văn hóa và giao lưu văn hóa có lợi cho việc mở mang tầm mắt, tăng cường
kiến thức, phản ánh xu thế phát triển của du lịch hiện đại" [18, tr.50].
Luật du lịch Việt Nam cũng có đưa ra khái niệm du lịch văn hóa: "Du
lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham
gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền
Việt Nam có trên 54 dân tộc sinh sống. Mỗi dân tộc có nền văn hóa
riêng, thể hiện rõ ở phong cách kiến trúc về nhà ở, về lối sống với các dạng
trang phục khác nhau, về phong tục tập quán, về kỹ thuật canh tác, về lễ hội,
âm nhạc, về sản phẩm thủ công mỹ nghệ
Mỗi dân tộc, mỗi vùng trên đất nước Việt Nam có hình thái văn hóa dân
gian truyền thống riêng với những nét đặc sắc hấp dẫn và vô cùng quý giá.
Trong những vốn quý đó, có thể kể đến Nhã nhạc cung đình Huế, âm nhạc
cồng chiêng Tây Nguyên, dân ca quan họ Bắc Ninh, cải lương Nam bé, hát
bội, hát bài chòi ở miền Trung. Hàng ngàn lễ hội dân gian, lễ hội truyền
thống, lễ hội văn hóa du lịch của các dân tộc, các vùng miền của đất nước là
tài nguyên vô tận cho du lịch văn hóa Việt Nam.
b. Đặc điểm của du lịch văn hóa
Du lịch văn hóa vừa có những đặc điểm chung của ngành du lịch, vừa có
những nét đặc thù:
Một là, du lịch văn hóa có tính tổng hợp. Tính tổng hợp của du lịch
văn hóa thể hiện ở hai mặt. Một mặt du lịch văn hóa cũng có những hoạt
động như đi lại, ăn uống, lưu trú, du ngoạn,vui chơi, mua sắm v.v Mặt
khác, quan trọng hơn, du lịch văn hóa đồng thời là nghiên cứu khoa học,
12
khám phá bản sắc văn hóa dân tộc. Hoạt động du lịch văn hóa là hoạt
động xã hội đụng chạm đến mọi mặt về chính trị, văn hóa, khoa học, kinh
tế , sự phát triển của nó phụ thuộc vào sự phát triển tổng hợp của các
ngành, các nghề. Tính tổng hợp của du lịch văn hóa còn thể hiện ở chỗ nó
gắn liền với tôn tạo giá trị của các di sản văn hóa vật thể và văn hóa phi
vật thể. Nhận thức đầy đủ tính tổng hợp nầy có ý nghĩa quan trọng trong
việc quản lý ngành du lịch nói chung và tổ chức phát triển du lịch văn hóa
nói riêng. Các hoạt động trong ngành du lịch đều có mục đích cuối cùng
là đáp ứng nhu cầu của du khách, mọi sự chậm trễ hoặc bỏ lỡ bất kỳ cơ
hội nào đều làm tổn hại đến du lịch.
Hai là, du lịch văn hóa là "du lịch tri thức", khách du lịch văn hóa phần
phú thêm nguồn tài nguyên cho du lịch văn hóa.
1.1.3. Vai trò của du lịch văn hóa trong quá trình phát triển kinh tế
xã hội ở tỉnh Quảng Nam
Tỉnh Quảng Nam có lợi thế để phát triển du lịch, nhất là du lịch văn hóa,
du lịch sinh thái. Với hai di sản văn hóa thế giới, hơn 300 di tích văn hóa, lịch
sử cách mạng, Quảng Nam là nơi đã từng có sự giao hòa giữa các nền văn hóa
Đông - Tây, có 125 km bờ biển sạch đẹp, nhiều hồ nước, nhiều đảo và bán
đảo, nhiều khu rừng nguyên sinh với đặc điểm sinh thái đa dạng và riêng có
của vùng khí hậu giao thoa Nam - Bắc Hải Vân và Đông Tây Trường Sơn, có
nhiều danh lam thắng cảnh, phong cảnh hữu tình, Những tài nguyên phong
phú đó đã tạo cho du lịch Quảng Nam phát triển mạnh mẽ trong những năm
qua, nhất từ năm 2000 đến nay.
Hiện nay, trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Quảng Nam, ngành du lịch còn
chiếm tỷ trọng khiêm tốn. Tuy có tiềm năng to lớn nhưng du lịch chỉ mới phát
14
triển trong những năm gần đây, nhất là từ khi Tổ chức Văn hóa, Khoa học và
Giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO) công nhận Hội An và Mỹ Sơn là hai
di sản văn hóa thế giới, "trong tương lai ngành du lịch sẽ chiếm vị trí xứng
đáng ở Quảng Nam" [15, tr.43], đó là dự báo của các nhà quản lý, các chuyên
gia du lịch trên cơ sở nghiên cứu những điều kiện khách quan để phát triển du
lịch ở Quảng Nam.
Tuy mới phát triển, nhưng phát triển rất nhanh và ngành du lịch đã có
ảnh hưởng tích cực đối với kinh tế, chính trị, văn hóa và đời sống ở Quảng
Nam. Sự phát triển của du lịch đã kéo theo sự phát triển của nhiều ngành
sản xuất kinh doanh như: xây dựng, giao thông vận tải, thông tin liên lạc,
ngân hàng, các ngành dịch vụ phục vụ du lịch, nhất là các ngành thủ công
mỹ nghệ, khôi phục các làng nghê truyền thống. Thông qua việc cung cấp
một khối lượng lớn sản phẩm đa dạng về chủng loại và có chất lượng cao
cho các cơ sở kinh doanh, hoạt động du lịch, các ngành công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp, thủ công mỹ nghệ, tiêu thụ được sản phẩm, mở rộng thị
hoạt động lữ hành, nhưng cũng có những bộ phận trình độ chuyên môn ở
mức độ thấp hơn như nhân viên khách sạn, nhân viên nhà hàng, nhân viên
làm tạp vụ. Chính tính đa dạng, phong phú về chủng loại và đông về số lượng
lao động, đòi hỏi việc đào tạo cán bộ, nhân viên cho du lịch phải được coi
trọng cả về chất lượng, cơ cấu và quy mô.
- Phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa, giúp Ých cho việc cải
thiện và nâng cao vị thế của quốc gia và của tỉnh Quảng Nam trên trường
quốc tế. Du lịch là cầu nối mở rộng các quan hệ đối ngoại, giao lưu kinh tế,
văn hóa giữa các dân tộc, các nước và giữa các địa phương trên phạm vi cả
nước. Thông qua du lịch làm cho du khách quốc tế và nội địa hiểu biết về đất
16
nước con người Việt Nam nói chung và Quảng Nam nói riêng, góp phần tăng
cường tình đoàn kết giữa các dân tộc, các địa phương, vì hòa bình hợp tác và
phát triển cho đất nước và tỉnh Quảng Nam.
Du lịch văn hóa phát triển, nhiều di sản văn hóa, di tích lịch sử cách
mạng, các giá trị văn hóa từng bước được bảo tồn tôn tạo và khai thác phát
huy giá trị. Nhiều giá trị văn hóa phi vật thể như: Lễ hội dân gian, lễ hội
truyền thống, các làng nghề truyền thống được khôi phục. Nhiều dự án đầu tư
có giá trị của các nước Nhật Bản, Italia, vào việc trùng tu các di tích ở hai di
sản văn hóa thế giới, phố cổ Hội An và khu di tích Mỹ Sơn.Thông qua các
chương trình mục tiêu về văn hoá, đầu tư trùng tu, nâng cấp các di sản văn
hóa, di tích lịch sử cách mạng trên địa bàn tỉnh, nhiều nhà khoa học, các
chuyên gia của Ba Lan, Nhật Bản, và các nhà khoa học Việt Nam đã kỳ công
nghiên cứu tìm ra những giải pháp hiệu quả để phục chế các tháp cổ ở Mỹ
Sơn, các nhà cổ ở Hội An, các kiến trúc cổ ở chùa chiền, miếu mạo trên địa
bàn tỉnh, cũng như hoạt động khảo cổ kham phá, luận giải những vấn đề về
văn hóa Hội An, văn hóa Champa cách đây hàng nghìn năm.
Cũng có những mặt trái do hoạt động du lịch đem lại tuy chưa trở thành
vấn đề bức xúc ở Quảng Nam, nhưng đang tiềm Èn những nguy cơ cần phải
dự báo để có giải pháp phòng ngừa từ xa và hạn chế đến mức thấp nhất. Đó là
đề cập một phần đến tài nguyên du lịch tự nhiên tác động đến phát triển du
lịch văn hóa.
Quảng Nam nằm ở chính giữa trung điểm đất nước theo trục Bắc - Nam,
có biển cả mênh mông, đồng bằng trải rộng, trung du, miền núi hùng vĩ. Đặc
điểm đó tạo cho Quảng Nam đa dạng về hệ sinh thái, là nơi giao hòa của
18
những sắc thái văn hóa giữa hai miền Bắc - Nam đất nước và giao lưu văn
hóa với bên ngoài, góp phần làm cho Quảng Nam giàu truyền thống văn hóa,
độc đáo về bản sắc văn hóa. Một tỉnh có hai di sản văn hóa thế giới là điều
hiếm thấy trên thế giới.
- Di sản văn hóa thế giới phố cổ Hội An: Hội An là một đô thị trung cận
đại, nằm trên bờ sông Thu Bồn phía đông bắc tỉnh Quảng Nam, trước kia Hội
An là một thương cảng sầm uất đón tiếp nhiều tàu buôn từ các nước như:
Trung Quốc, Nhật Bản, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, đến giao lưu, buôn bán.
Hội An là một đô thị cổ được bảo tồn khá nguyên vẹn với gần 600 di tích có
giá trị về văn hóa, lịch sử, nghệ thuật. Năm 1999 đô thị cổ Hội An được tổ
chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.
- Di sản văn hóa thế giới Mỹ Sơn: Thuộc địa phận xã Duy Sơn, huyện
Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam. Mỹ Sơn là trung tâm tôn giáo lớn nhất của
vương quốc Chămpa cổ, ra đời vào cuối thế kỷ thứ thứ IV và phát triển hưng
thịnh trong gần 9 thế kỷ. Do tác động của thiên nhiên và chiến tranh tàn phá
nên đến nay Mỹ Sơn không còn nguyên vẹn, nhưng những phần còn lại của
khu di tích nầy vẫn chứa đựng những giá trị quý báu về nghệ thuật kiến trúc,
văn hóa, lịch sử. Năm 1999, Mỹ Sơn được tổ chức UNESCO công nhận là di
sản văn hóa thế giới.
- Kinh đô Trà Kiệu: Cách thị xã Hội An 25 km, trước kia là trung tâm,
kinh tế, chính trị lớn của vương quốc Chămpa, có thời gian nổi tiếng về giá trị
văn hóa, kiến trúc, lịch sử, được nhiều sử sách nói đến.
Các công trình văn hóa nêu trên là tài nguyên du lịch văn hóa tiêu biểu,
đồng thời cũng là trung tâm du lịch của Quảng Nam hiện nay. Ngoài ra,
điểm du lịch sinh thái nổi tiếng. Với đặc điểm khí hậu biển nhiệt đới, ưu thế
về thiên nhiên cảnh quan trên đảo và dưới nước, cách đất liền không xa, Cù
Lao Chàm là một khu bảo tồn thiên nhiên có sức hấp dẫn du khách. Quảng
20
Nam có nhiều hồ với 6000 ha mặt nước, đặc biệt là hồ Phú Ninh ở huyện Phú
Ninh, mét danh thắng có cảnh quan hài hòa, có động thực vật phong phú, có
nguồn nước khoáng có thể khai thác dịch vụ tắm nước khoáng nóng chữa
bệnh. Hướng phát triển du lịch tại khu vực này là khai thác các dịch vụ tham
quan bằng thuyền trên mặt nước, dịch vụ nghỉ dưỡng, chữa bệnh bằng nước
khoáng, ngoài ra còn nhiều hồ nước trên địa bàn tỉnh có thể xây dựng thành
những điểm du lịch hấp dẫn như hồ Việt An ở Hiệp Đức, hồ Khe Tân ở Đại
Lộc, Quảng Nam có 125 km bờ biển sạch đẹp, trong đó có các bãi biển Cửa
Đại ở Hội An, Tam Thanh ở Tam Kỳ, Biển Rạng ở Núi Thành, thích hợp
với loại hình du lịch tắm biển, tắm nắng, lướt ván, câu cá, có khả năng thu
hút khách nội địa và quốc tế. Quảng Nam có nhiều rừng nguyên sinh với
những đặc điểm sinh thái đa dạng, có nhiều phong cảnh đẹp, động thực vật
quý hiếm, ngọn núi Ngọc Linh cao chót vót ở chân phía đông dãy Trường
Sơn, nơi trồng cây dược liệu sâm Ngọc Linh nổi tiếng. Quảng Nam có hơn 60
phong cảnh hữu tình, danh lam thắng cảnh, phân bố trên khắp địa bàn của tỉnh
như Hòn Kẽm Đá Dừng, Suối Tiên ở Quế Sơn, hồ Giang Thơm, Bàn Than -
vòng An Hòa ở Núi Thành, Khe Lim ở Đại Lộc, sông Thu Bồn dọc theo các
huyện ở phía bắc của tỉnh, v. v là những cảnh thiên nhiên kỳ thú, nếu biết
quy hoạch khai thác nó sẽ là nguồn tài nguyên quý cho du lịch phát triển.
1.2.2. Trình độ phát triển kinh tế xã hội
Du lịch là ngành kinh tế gắn bó trực tiếp với con người và đáp ứng
nhu cầu hưởng thụ, phát triển của con người. Do đó trình độ phát triển kinh
tế xã hội của một quốc gia, một vùng tác động đến cung và cầu về du lịch.
Kinh tế xã hội phát triển đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sinh tồn của
con người, đồng thời làm xuất hiện những nhu cầu khác như: nghỉ ngơi,
giải trí, du ngoạn v.v ở những nước có nền kinh tế chậm phát triển, thu
tay nghề của lao động mà có thể đào tạo bố trí cho phù hợp với yêu cầu công
việc của từng loại hình du lịch, cũng như từng khâu công việc của hoạt động
du lịch. Nếu lực lượng lao động có chuyên môn phù hợp, bố trí sử dụng hợp
lý thì sẽ góp phần thúc đẩy du lịch phát triển nhanh chóng và đúng hướng,
còn ngược lại thì sẽ làm trì hoãn sự gia tăng du lịch.
Tỉnh Quảng Nam có dân số đông hơn 1,4 triệu người, phân bố trên một
địa bàn rộng lớn.Người Quảng Nam cần cù, chịu khó, ham hiểu biết, thân
thiện và hiếu khách, song lao động đã qua đào tạo tay nghề chiếm tỷ lệ thấp
(25%), nghề cho du lịch lại càng thấp, khả năng sử dụng ngoại ngữ hạn chế
Đây là một khó khăn về nhân lực tham gia hoạt động du lịch.
1.2.4. Kết cấu hạ tầng và môi trường
Cũng như các ngành kinh tế khác kết cấu hạ tầng là điều kiện để du lịch
phát triển, nhất là hệ thống giao thông vận tải cả đường bộ, đường sắt, đường
hàng không, đường biển và mạng lưới bưu chính viễn thông Đây là lĩnh vực
rất quan trọng, tác động trực tiếp đến hoạt động và phát triển du lịch.
Ở Quảng Nam, hệ thống kết cấu hạ tầng tuy chưa hiện đại nhưng
tương đối đồng bộ. Quảng Nam cách Đà Nẵng về phía nam 65 km với sân
bay quốc tế Đà Nẵng có đường bay đến hầu hết các nước trong khu vực
Đông Nam A, có sân bay Chu Lai, nơi trung chuyển hàng hóa và hành
khách ở miền trung, theo quy hoạch sân bay Chu Lai là sân bay có quy mô
lớn của Việt Nam. Quảng Nam có gần 100km quốc lộ 1A và trên 1500 km
quốc lộ, tỉnh lộ trên địa bàn tỉnh, trong đó có những tuyến rất quan trọng
như quốc lộ 14E từ quốc lộ 1A dọc lên các huyện phía tây của tỉnh qua
đường Hồ Chí Minh và đến cửa khẩu Nam Giang giữa tỉnh Quảng Nam và
tỉnh Sê Công Lào. Đường nam Quảng Nam từ thành phố Tam Kỳ qua các
vùng chiến lược phía tây nam của tỉnh giáp với huyện Đắk Tô, tỉnh Kon
Tum, nối Quảng Nam với Tây Nguyên, vùng có tiềm năng to lớn để phát
23
triển kinh tế, du lịch của Việt Nam. Trên địa bàn Quảng Nam có gần 70 km
đường Hồ Chí Minh, chạy dọc theo phía đông chân dãy Trường Sơn lịch
nghị quyết của Đảng, trong pháp luật của Nhà nước, sự tham gia cụ thể hóa
của các Bộ, ngành, địa phương và sự hưởng ứng thực hiện của cộng đồng dân
cư. Nhà nước cần lập quy hoạch tổng thể phát triển du lịch, xác định vị trí của
du lịch trong nền kinh tế quốc dân; xây dựng các chương trình phát triển du
lịch, xác định những chỉ tiêu, biện pháp cụ thể phát triển du lịch trong từng kỳ
kế hoạch ngắn hạn, dài hạn.
Vấn đề an ninh quốc gia là yếu tố tác động trực tiếp đến phát triển du
lịch, an ninh quốc gia, khu vực ổn định trật tự an toàn xã hội đảm bảo là
môi trường để du lịch phát triển. Yếu tố an ninh quốc gia bao gồm vấn đề
ổn định chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, bài trừ tệ nạn xã hội, bảo
hiểm sinh mạng cho khách du lịch. Một quốc gia, một địa phương muốn có
môi trường tốt để phát triển du lịch phải ổn định chính trị giữ gìn trật tự an
toàn xã hội, tuyệt đối không có tình trạng cướp giật, hành hung khách du
lịch, không có người ăn xin, Ðp buộc khách du lịch mua hàng lưu niệm,
phương tiện vận chuyển phải hiện đại, tuyệt đối an toàn, nơi ăn uống, nghỉ
ngơi phải tiện nghi, an toàn, thân thiện, mến khách; khách sạn phải có nội
quy và được giữ gìn trật tự, đảm bảo cho khách lưu trú tuyệt đối an toàn,
tạo Ên tượng tốt đẹp cho du khách, làm cho khách đến rồi không muốn đi,
đi rồi muốn quay trở lại.
Việt Nam trong những năm gần đây được thế giới công nhận là một
trong những quốc gia ổn định, an toàn nhất trên thế giới. Đây cũng là điều
kiện tốt để phát triển đất nước nói chung và ngành du lịch nói riêng.
25