sưu tầm, giới thiệu và đánh giá những phát minh tiêu biểu về khoa học tự nhiên và kĩ thuật của nền văn minh trung quốc - Pdf 23

MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC…………………………………………………………………… 0
MỞ ĐẦU……………………………………………………………………… 1
NỘI DUNG……………………………………………………………………. 1
I - Khái quát về cơ sở hình thành nền văn minh Trung Hoa…………… 1
1. Điều kiện tự nhiên…………………………………………………… 1
2. Lịch sử………………………………………………………………… 1
3. Dân tộc………………………………………………………………… 2
II - Thành tựu khoa học tự nhiên – kĩ thuật của nền văn minh Trung
Quốc……………………………………………………………………………
2
1. Kĩ thuật làm giấy………………………………………………………. 2
2.Kĩ thuật in………………………………………………………………. 4
3.Kim chỉ nam……………………………………………………………. 5
4.Thuốc súng…………………………………………………………… 7
KẾT LUẬN…………………………………………………………………… 8
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………… 9
MỞ ĐẦU
Trung Quốc là quốc gia có lịch sử lâu đời - một trong những phát minh lớn của nền
văn minh nhân loại. Trung Quốc là một nước do một dân tộc chủ thể là dân tộc Hoa
(sau gọi là dân tộc Hán) lập nên và tồn tại liên tục lâu dài trong lịch sử. Kể từ khi dựng
nước về sau, nhân dân Trung Quốc đã sáng tạo ra một nền văn hóa vô cùng rực rỡ, như:
Chữ viết, văn học, sử học, nghệ thuật, trong đó nổi bật nhất là về lĩnh vực khoa học tự
nhiên và kĩ thuật. Vì vậy, em xin chọn đề bài số 14: “Sưu tầm, giới thiệu và đánh giá
những phát minh tiêu biểu về khoa học tự nhiên và kĩ thuật của nền văn minh
Trung Quốc”
NỘI DUNG
I - Khái quát về cơ sở hình thành nền văn minh Trung Hoa
1. Điều kiện tự nhiên
Trung Quốc trong suốt chiều dài lịch sử là một nước lớn ở Đông Á. Địa hình Trung

người Trung Hoa cổ đại cho rằng nước họ là một quốc gia văn minh ở giữa xung quanh
là các tộc người lạc hậu gọi là Man, Di, Nhung, Địch. Vì vậy, đất nước của họ còn được
gọi là Trung Hoa hoặc Trung Hoa. Điều đó chứng tỏ tinh thần tự hào dân tộc sớm hình
thành từ thời cổ đại.
II – Thành tựu khoa học tự nhiên – kĩ thuật của nền văn minh trung quốc
Trung Quốc cổ đại đã đạt được rất nhiều thành tựu trong nghiên cứu khoa học và
kỹ thuật. Trong số những thành tựu về khoa học của Trung Quốc cổ đại phải kể đến la
bàn, thuốc súng, kỹ thuật làm giấy và kỹ thuật in ấn, được coi là tứ đại phát minh.
1. Kĩ thuật làm giấy
a. Sự ra đời và phát triển
Từ thời xa xưa, người Trung Quốc vẫn dùng thẻ tre, lụa để ghi chép. Đến khoảng
thế kỉ II TCN, người Trung Quốc đã phát minh ra phương pháp dùng sơ gai để chế tạo
giấy. Tuy nhiên, giấy thời kì này còn xấu, mặt giấy không phẳng, khó viết, chủ yếu là
dùng để gói.
3
Năm 105, một viên quan tên là Thái Luân đã dùng vỏ cây, lưới cũ, giẻ rách …làm
nhiên liệu, và được cải tiến kỹ thuật, do đó đã làm được loại giấy có chất lượng, từ đó
giấy được thay thế các vật liệu khác và dùng phổ biến. Do công lao ấy, Thái Luân được
tôn làm tổ sư của nghề giấy.
Vào khoảng giữa thế kỷ III, kỹ thuật làm giấy lưu truyền qua Việt Nam, thế kỷ IV
truyền qua Triều Tiên, thế kỷ V truyền sang Nhật Bản, thế kỷ VIII truyền qua Ấn Độ.
Giữa thế kỉ VIII,kĩ thuật làm giấy truyền sang Ả Rập. Năm 1150, lại được truyền
sang Tây Ban Nha, sau đó là Ý (1276), Đức (1320)… và được truyền bá rộng rãi khắp
hơn nữa, thay thế các chất liệu trước kia.
b. Ý nghĩa
Đóng góp của Thái Luân được coi là một trong các sáng chế quan trọng nhất trong
lịch sử loài người. Nó đã cho phép Trung Quốc phát triển nền văn minh của mình
nhanh hơn trước đây khi còn dùng tre hay trúc để lưu chữ viết và nó cũng kích thích sự
phát triển của châu Âu khi kỹ thuật giấy đến đây vào khoảng thế kỷ XII hay thế kỷ
XIII. Với phát minh này, Thái Luân đã được xếp hạng thứ 7 trong danh sách 100 người

Nhật Bản, Việt nam, Philippin, Arập rồi truyền dần sang châu Phi, châu Âu. Cuối thế
kỷ XIV, ở Đức đã biết dùng phương pháp in bằng ván khắc để in tranh ảnh tôn giáo,
kinh thánh và sách ngữ pháp. Năm 1448, Gutenbe người Đức dùng chữ rời bằng hợp
kim và dùng mực dầu để in kinh thánh. Việc đó đã đặt cơ sở cho việc in chữ rời bằng
kim loại ngày nay.
b. Ý nghĩa
Nghề in ra đời đã hỗ trợ cho việc phát triển ngôn ngữ và văn học dân tộc, tăng
cường ý thức dân tộc, dân chủ hóa việc giáo dục học hành, xóa nạn mù chữ và các hàng
rào xã hội.
5
Việc in ấn hàng loạt đã tăng cường khả năng bảo tồn lâu dài các văn bản, lưu
truyền cho các thế hệ đời sau, giảm bớt nguy cơ mất mát tiêu vong bởi sự thờ ơ quên
lãng hoặc do các sưu tập riêng lẻ bị phát tán. Nhưng không chỉ có thế. Việc phổ cập các
ấn phẩm và diện quần chúng độc giả thế tục được mở rộng – các thương gia, người
buôn bán nhỏ, luật sư, thợ thủ công đã là những người tiêu thụ sách quan trọng – đã là
sự tuyên chiến độc quyền về tri thức của giới giáo sĩ. Đồng thời, văn chương tôn giáo
cho tới tới lúc đó vẫn chiếm vị trí ưu thế, đã dần dần bị thay bởi sách của các tác giả
mang tư tưởng nhân văn trước sự hoan nghênh của các đọc giả mới mẻ. Độc giả mới,
đề tài mới, tất cả những cái đó đã thúc đẩy người có học dễ dàng phát hiện ra những
chỗ mâu thuẫn trái ngược với các văn bản tôn giáo, từ đó nảy sinh sự thẩm duyệt lại các
quan điểm cũ, mở đường cho những tiến bộ mới trong tri thức.
Với việc phổ cập giáo dục và thanh toán nạn mù chữ đã gắn bó rất chặt chẽ với sự
tiến bộ của nghề in. Sách bán giá rẻ và dễ kiếm sẽ cho phép đông đảo người đọc tìm
đến với những kiến thức đã được in ra, và điều này cũng sẽ tác động nhân sinh quan
của họ đối với thế giới xung quanh và vị trí của họ trong xã hội. Và lẽ tự nhiên, ấn
phẩm đẽ kiếm sẽ làm tăng thêm số người biết chữ, và ngược lại nhu cầu đối với sách vở
cũng từ đó mà tăng thêm lên.
Cuối thế kỷ XV và đầu thế kỷ VXI, nghề in tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản
xuất và lưu hành sách với số lượng giá rẻ, do đó đã gây được ảnh hưởng đáng kể đối
với tư tưởng và đời sống xã hội ở châu Âu. Nó góp phần phổ biến và cổ vũ tinh thần

các tài nguyên hải sản được người dân Trung Quốc phát hiện và đánh bắt, từ đó cải
thiện đời sống hằng ngày.
Chính nhờ hệ thống la bàn này mà người châu Âu mới thực hiện được những cuộc
phát kiến địa lý, tìm ra được các vùng đất mới, mở rộng lãnh thổ.
7
4.Thuốc súng
a. Sự ra đời và phát triển
Vào khoảng thế kỷ thứ VI, các nhà Giả Kim thuật (còn gọi là nhà Luyện đan, kiêm
đạo sĩ, chiêm tinh, chuyên tìm tòi, pha chế các dược liệu, hoá chất… mong tìm ra
phương thuốc “Trường sinh bất tử” dâng lên Hoàng đế) trong khi mày mò, vô tình tạo
ra thuốc nổ từ diêm tiêu và lưu huỳnh.
Bấy giờ, thuốc nổ chỉ ứng dụng làm pháo đốt, pháo bông phục vụ cho lễ hội vui
chơi ở cung đình, sản xuất từ các công xưởng thuộc triều đình.
Năm 682, nhà Giả Kim thuật Tôn Tư Mạc đã đưa ra công thức thuốc nổ trộn từ lưu
huỳnh, diêm tiêu (Kali Nitrat) và bột gỗ.
Năm 808, nhà Giả Kim thuật Xin Xui Sử lại chế thuốc súng từ lưu huỳnh, diêm
tiêu, than gỗ, và thuốc súng được sử dụng cho quân sự từ đó
Mãi đến đời nhà Tống (thế kỷ XII) họ mới chế ra hoả khí bằng ống tre hoặc quả
cầu bằng giấy bồi, nhồi thuốc súng với đá, mảnh sành, mảnh gang, bịt sắt, gắn ngòi nổ,
châm cháy rồi ném vào địch quân hoặc chôn ở chiến trường, đó chính là loại mìn, lựu
đạn, súng sơ khai có tên gọi là “Hoả Thương” và “Chấn Thiên lôi”.
Thế kỷ XIII, giặc Nguyên – Mông tấn công Trung Quốc, học được thuật chế thuốc
súng. Rồi họ viễn chinh sang Tây Á, kỹ thuật này lan truyền dần từ Ả Rập sang Hy
Lạp, Tây Ban Nha và khắp châu Âu, cuối cùng phổ biến khắp toàn cầu
8
b. Ý nghĩa
Sự phát triển không ngừng của thuốc súng đã giúp Trung Quốc giữ vững được lãnh
thổ, bảo tồn và phát huy được những giá trị dân tộc. Và với sự ra đời này, những cuộc
xâm lược lãnh thổ để mở rộng bờ cõi ngày càng được tiến hành, kéo theo đó là sự thay
đổi lớn về trật tự xã hội.

8. />%91c
9. />Quoc
10. />10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status