BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
TRẦN THỊ PHƢƠNG ĐÁNH GIÁ KHẨU PHẦN CỦA TRẺ EM TRƯỜNG MẦM NON
CHIỀNG SINH - CHIỀNG SINH - SƠN LA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Sơn La, năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
TRẦN THỊ PHƢƠNG ĐÁNH GIÁ KHẨU PHẦN CỦA TRẺ EM TRƯỜNG MẦM NON
CHIỀNG SINH - CHIỀNG SINH - SƠN LA MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Đối tượng nghiên cứu 3
5. Phương pháp nghiên cứu 3
6. Đóng góp của đề tài 3
7. Cấu trúc của đề tài 4
NỘI DUNG 5
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1. Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ em 5
1.1.1. Nhu cầu dinh dưỡng 5
1.1.2. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em 7
1.1.2.1. Suy dinh dưỡng 8
1.1.2.2. Béo phì trẻ em 13
1.1.3. Thực trạng thiếu dinh dưỡng trẻ em 16
1.1.3.1. Xu hướng về tỷ lệ thiếu dinh dưỡng trên thế giới 16
1.1.3.2. Xu hướng thực trạng của SDD trẻ em ở Việt Nam. 17
1.2. Khẩu phần và các yếu tố liên quan 19
1. 2.1. Các khái niệm cơ bản về khẩu phần 19
1.2.2. Yêu cầu của khẩu phần 19
1.2.2.1. Yêu cầu chung 19
1.2.2.2. Yêu cầu cụ thể 19
1.2.3. Mục đích xây dựng khẩu phần 20
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 3.1. Biểu đồ biểu diễn tình trạng dinh dưỡng của trẻ mầm non 46
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Nhu cầu năng lượng và protein của trẻ mầm non 5
Bảng 1.2. Tỷ lệ mắc SDD theo chỉ tiêu CN/T các khu vực của các nước đang
phát triển từ 1975 - 2010 17
Bảng 1.3. Tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi ở Việt Nam qua các cuộc điều tra quốc gia
17
phẩm cho trẻ mẫu giáo vào mùa hè 53
Bảng 3.19. Thực đơn ở trường cho trẻ nhà trẻ 53
Bảng 3.20. Bảng tính cụ thể khối lượng và thành phần dinh dưỡng từng thực
phẩm cho trẻ nhà trẻ 54 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CN/T : Cân nặng/tuổi
CC/T : Chiều cao/tuổi
CN/CC : Cân nặng/chiều cao
SDD: Suy dinh dưỡng
CNSS: Cân nặng sơ sinh
BMI: Số khối cơ thể
P - L - G: Protein - lipit - gluxit
dưỡng còn gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế của đất nước. Có rất
nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng, một trong những nguyên
nhân đó là thiếu hoặc thừa dinh dưỡng. Với mỗi bữa ăn, không những trẻ phải
được ăn no mà khẩu phần còn phải đầy đủ và cân đối giữa các chất dinh dưỡng,
sự thiếu hoặc thừa một chất dinh dưỡng này cũng sẽ ảnh hưởng tới sự tiêu hóa
và sử dụng các chất dinh dưỡng khác. Mặt khác, nếu ăn uống theo đúng nhu cầu
dinh dưỡng thì thể lực và trí lực của trẻ sẽ phát triển tốt để đảm bảo cho các hoạt
động sống hàng ngày.
2
Những năm gần đây, khi nền kinh tế Việt Nam đã có những bước nhảy vọt,
chúng ta lại càng quan tâm hơn nữa đến sự phát triển của con người đặc biệt là
trẻ em. Nhưng qua thực tế, bữa ăn của trẻ em Việt Nam vẫn mang đặc điểm
chung của bữa ăn gia đình Việt Nam có nghĩa là đang thiếu về số lượng, mất cân
đối về chất lượng. Năng lượng trong khẩu phần vẫn còn thấp, lượng protein
động vật ít, đặc biệt là năng lượng do lipit cung cấp chỉ chiếm 6 - 7% nhu cầu
năng lượng.
Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về khẩu phần
ăn cho trẻ ở trường mầm non. Các nghiên cứu này không những đã góp phần
nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ mà còn góp phần làm giảm tỷ lệ mắc các
bệnh liên quan đến dinh dưỡng cho trẻ em Việt Nam. Tuy nhiên, việc thực hiện
chỉ được tiến hành ở một số địa điểm nhất định, thường là các thành phố lớn, rất
ít được tiến hành ở các khu vực nông thôn, đặc biệt là các khu vực miền núi.
Trường mầm non Chiềng Sinh là một trường của thành phố Sơn La, tuy
trường nằm ở gần trung tâm thành phố nhưng do điều kiện kinh tế còn gặp
nhiều khó khăn cho nên người dân nơi đây chưa quan tâm đầy đủ đến khẩu
phần ăn hợp lí cho trẻ. Mặc dù, nhà trường đã xây dựng được chế độ ăn cho
từng độ tuổi để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cần thiết cho trẻ song chất lượng
của các bữa ăn còn chưa đảm bảo. Chính vì vậy, tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em
của trường vẫn còn rất cao.
có liên quan đến khẩu phần, thực đơn, nhu cầu dinh dưỡng, tình trạng dinh dưỡng
theo các độ tuổi của trẻ mầm non để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phỏng vấn sử dụng phiếu điều tra kết
hợp với phỏng vấn giáo viên, phụ huynh học sinh ở trường mầm non Chiềng
Sinh - Chiềng Sinh - Sơn La.
- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học: Các số liệu thu thập
được sẽ được nhập vào máy tính và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel và
phần mềm Arthro, Arthro Plus.
6. Đóng góp của đề tài
- Xác định được chế độ ăn hợp lý cho trẻ ở trường mầm non Chiềng Sinh -
Chiềng Sinh - Sơn La.
4
- Xác định được khẩu phần hợp lý cho trẻ ở trường mầm non Chiềng Sinh
- Chiềng Sinh - Sơn La.
- Xác định được mối tương quan giữa chất lượng khẩu phần với tình trạng
dinh dưỡng của trẻ.
- Xây dựng một số khẩu phần hợp lý nhằm cải thiện chế độ ăn cho trẻ ở
trường mầm non Chiềng Sinh - Chiềng Sinh - Sơn La.
7. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1. Tổng quan tài liệu
Chương 2. Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 3. Kết quả nghiên cứu
1 - 3 tuổi
1300 kcal/ngày
28 g/ngày
4 - 6 tuổi
1600 kcal/ngày
34 g/ngày
Mỗi giai đoạn khác nhau của cuộc đời, trẻ có những nhu cầu về dinh dưỡng
khác nhau, tùy thuộc vào độ tuổi, giới tính, chiều cao, cân nặng, thói quen hoạt
động thể lực khác nhau. Ngoài sự khác biệt về lượng năng lượng, thành phần chất
dinh dưỡng trong khẩu phần cũng không giống nhau, vì ở mỗi giai đoạn khác nhau
thì sự phát triển về cấu trúc cơ thể và hoạt động của hệ tiêu hóa, chuyển hóa chất
dinh dưỡng cũng như hoạt động của cơ thể đều hoàn toàn khác biệt.
Trừ giai đoạn bào thai, 6 tháng đầu tiên sau sinh là giai đoạn phát triển cơ
thể nhanh nhất trong cuộc đời của trẻ. Tất cả các cơ quan trong cơ thể đều tăng
trưởng mạnh mẽ, nhất là hệ xương và hệ thần kinh, đặc biệt là não. Vì vậy,
thành phần dinh dưỡng quan trọng trong độ tuổi này là protein, chất béo, canxi,
cùng với các vitamin tan trong chất béo như A, D, K.
6
Không có loại thực phẩm nào phù hợp với nhu cầu này hơn sữa, nhất là sữa
mẹ, loại thực phẩm có gần 50% năng lượng khẩu phần từ chất béo, giàu canxi và
vitamin A, nuôi dưỡng vi khuẩn đường ruột tốt để tăng nguồn cung cấp vitamin
K. Nhu cầu năng lượng trung bình trong giai đoạn này vào khoảng 300 - 700
kcal/ngày, tương đương với khoảng 500 - 1000 ml sữa/ngày. Số lượng nước
cung cấp từ sữa thường vượt quá nhu cầu hàng ngày của trẻ (chỉ vào khoảng 400
- 700 ml/ngày), nhưng cũng phù hợp với khả năng cô đặc nước tiểu còn kém ở
trẻ. Chính vì vậy, trẻ không cần thêm bất kỳ thực phẩm hay nước uống nào khác
cho nhu cầu phát triển của giai đoạn này.
Trẻ 6 - 12 tháng đã lớn hơn, ngồi được, bò được Cơ quan phát triển
Các bữa ăn của trẻ luôn phải đủ lượng chất bột (cơm, bún, mì, ) và rau
quả tươi hơn là quan trọng các thức ăn giàu đạm như thịt, cá. Trẻ 2 tuổi cần
lượng thức ăn bằng một nửa người trưởng thành, và có thể ăn đầy đủ các thức ăn
của người lớn, nhưng do kích thước hệ tiêu hóa nhỏ, nên phải cho trẻ ăn làm
nhiều bữa, ít nhất 3 bữa chính và 2 - 3 bữa phụ với đủ loại thực phẩm khác nhau,
trong đó có ít nhất 500 ml sữa.
Có nhiều loại thức ăn, nhiều loại thực phẩm, nhiều cách ăn, nhiều xu
hướng ẩm thực khác nhau tùy thuộc dân tộc, tôn giáo, ý thích cá nhân và kiến
thức về dinh dưỡng. Với trẻ em, điều quan trọng đôi khi không phải là cho trẻ ăn
thật nhiều, mà phải cho trẻ ăn sao để cung cấp chất dinh dưỡng thật cân đối và
phù hợp với nhu cầu của trẻ.
1.1.2. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em
Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm về chức phận, cấu trúc và
hóa sinh, phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể.
Tình trạng dinh dưỡng là kết quả tác động của một hay nhiều yếu tố như:
Tình trạng an ninh thực phẩm hộ gia đình, thu nhập, điều kiện vệ sinh môi
trường, công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ - trẻ em.
Tình trạng dinh dưỡng phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình
trạng sức khỏe. Khi cơ thể có tình trạng dinh dưỡng không tốt (thiếu hoặc thừa
dinh dưỡng) là thể hiện có vấn đề về sức khỏe hoặc dinh dưỡng hoặc cả hai.
Tình trạng dinh dưỡng của cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các
chất dinh dưỡng của cơ thể. Cơ thể sử dụng các chất dinh dưỡng có trong thực
8
phẩm không những phải trải qua quá trình tiêu hoá, hấp thu, mà còn phụ thuộc
vào các yếu tố khác như sinh hoá, sinh lý trong quá trình chuyển hoá. Việc sử
dụng thực phẩm phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của cá thể.
Tình trạng dinh dưỡng của một quần thể dân cư được thể hiện bằng tỷ lệ
của các cá thể bị tác động bởi các vấn đề về dinh dưỡng. Tình trạng dinh dưỡng
của trẻ em dưới 5 tuổi thường được coi là đại diện cho tình hình dinh dưỡng và
hao hụt các chất dinh dưỡng, khi đó trẻ ăn kém hơn do giảm ngon miệng. Người
ta ước đoán rằng nhiễm trùng ảnh hưởng đến 30% sự giảm chiều cao ở trẻ [5].
Nguyên nhân tiềm tàng: Đó là sự yếu kém trong dịch vụ chăm sóc bà
mẹ, trẻ em, kiến thức của người chăm sóc trẻ, yếu tố chăm sóc của gia đình, các
vấn đề nước sạch, vệ sinh môi trường và tình trạng nhà ở không đảm bảo, mất
vệ sinh, tình trạng đói nghèo, lạc hậu về các mặt phát triển nói chung, bao gồm
cả mất bình đẳng về kinh tế. Ba yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến suy dinh
dưỡng là an ninh thực phẩm, thiếu sự chăm sóc và bệnh tật, và các yếu tố này
chịu ảnh hưởng lớn của đói nghèo [9].
Nguyên nhân cơ bản: Đó là kiến trúc thượng tầng, chế độ xã hội, chính
sách, nguồn tiềm năng. Cấu trúc chính trị - xã hội - kinh tế, môi trường sống
(các điều kiện văn hoá - xã hội là những yếu tố ảnh hưởng đến suy dinh dưỡng
trẻ em ở tầm vĩ mô).
- Hậu quả của suy dinh dưỡng: SDD trẻ em thường để lại những hậu quả
nặng nề. SDD ảnh hưởng rõ rệt đến phát triển trí tuệ, hành vi khả năng học
hành của trẻ, khả năng lao động đến tuổi trưởng thành. SDD thể vừa và nhẹ
thường gặp và có ý nghĩa sức khoẻ quan trọng nhất vì ngay cả SDD nhẹ cũng
làm tăng gấp đôi nguy cơ bệnh tật và tử vong ở trẻ em. Trẻ có cân nặng theo
tuổi thấp thường hay bị bệnh như tiêu chảy và viêm phổi [17]. SDD làm tăng
tỷ lệ tử vong và làm tăng gánh nặng cho xã hội. Ước tính mỗi năm trên toàn
thế giới có khoảng 2,1 triệu cái chết ở trẻ dưới 5 tuổi vì lý do SDD. Sự phân
bổ tỷ lệ tử vong không đều giữa các vùng miền, trong đó khu vực Trung Nam
Á chiếm tỷ lệ cao nhất, với chỉ riêng Ấn Độ đã có đến 600.000 ca tử vong trẻ
dưới 5 tuổi mỗi năm, đồng thời SDD cũng gây ra 35% gánh nặng bệnh tật ở
trẻ dưới 5 tuổi [13].
10
Gần đây, nhiều bằng chứng cho thấy, SDD ở giai đoạn sớm, nhất là trong
thời kỳ bào thai có mối liên hệ với mọi giai đoạn của chu kỳ vòng đời. Hậu quả
của thiếu dinh dưỡng có thể kéo dài qua nhiều thế hệ. Phụ nữ đã từng bị suy
tình trạng dinh dưỡng của một cá thể hay của cộng đồng.
Chúng ta đều biết hậu quả của một chế độ ăn thiếu dinh dưỡng dẫn tới
giảm khả năng hoạt động của các cơ quan trong cơ thể. Điều này đặc biệt quan
trọng đối với trẻ em. Cơ thể trẻ em đáp ứng với chế độ ăn thiếu dinh dưỡng đó là
giảm khả năng hoạt động thể lực và chậm tăng trưởng. Khi thiếu dinh dưỡng ở
mức vừa thì các ảnh hưởng trên tăng lên và đồng thời các biểu hiện như gầy
còm (wasting) bắt đầu xuất hiện. Ở mức thiếu dinh dưỡng nặng thì các biểu hiện
ngừng trệ tăng trưởng, kém hoặc mất khả năng hoạt động thể lực, gầy còm nặng
hơn và các biểu hiện lâm sàng xuất hiện (như phù dinh dưỡng, các biến đổi ở da
và tóc…) được thấy một cách rõ ràng.
Như vậy, việc sử dụng các chỉ số nhân trắc dinh dưỡng trong đánh giá tình
trạng dinh dưỡng có tầm quan trọng đặc biệt. Trong hoạt động giám sát dinh
dưỡng hay theo dõi liên tục diễn biến tình trạng dinh dưỡng của một cá thể hay
của cộng đồng qua các chỉ số nhân trắc dinh dưỡng có một ý nghĩa khoa học và
thực tiễn rất lớn. Hơn thế nữa, phép đo nhân trắc dinh dưỡng không đòi hỏi
phương tiện dụng cụ quá đắt tiền và có thể thực hiện dễ dàng.
Chỉ tiêu nhân trắc: Những chỉ số nhân trắc thường được sử dụng để đánh
giá tình trạng dinh dưỡng là chiều cao, cân nặng, vòng đầu, vòng ngực, vòng
cánh tay Tuy nhiên, đối với trẻ em dưới 5 tuổi, chỉ số quan trọng nhất là chiều
cao và cân nặng. Các chỉ số này nói lên sự tăng trưởng và tốc độ tăng trưởng của
cơ thể từ khi mới sinh ra cho đến lúc chết, chúng thường mang tính di truyền.
Chiều cao: Chiều cao của cơ thể con người là một trong những chỉ tiêu rất quan
trọng trong hầu hết các điều tra cơ bản về nhân trắc học, nhân chủng học và y học.
Chiều cao còn được xem như một trong những chỉ tiêu quyết định để phân biệt các
chủng tộc trên thế giới. Chiều cao biểu hiện tầm vóc của một người. Do đó, các nhà
y học thường dựa vào chiều cao để đánh giá sức lớn của trẻ em và tầm vóc của một
người. Chiều cao thường thay đổi theo chủng tộc, theo giới tính và chịu một phần
ảnh hưởng của môi trường, hoàn cảnh sống. Ngoài ra, chiều cao còn giúp đánh giá
thể trạng liên quan đến chất lượng cuộc sống của con người.
ss
- khối lượng sơ sinh
n - tháng tuổi
500 (600)
g
- trung bình cân nặng tăng lên mỗi tháng.
* Trẻ trên 1 tuổi trung bình mỗi năm tăng 1,5 kg.
P = 9 kg + 1,5 kg ( N – 1 ) 13
Trong đó: P - Cân nặng trung bình của trẻ (kg)
N - Số tuổi tính theo năm
9kg - Cân nặng trung bình của trẻ 1 tuổi
1,5kg - Cân nặng trung bình mỗi năm.
1.1.2.2. Béo phì trẻ em
- Khái niệm: Béo phì là tình trạng tích tụ quá nhiều mỡ trong cơ thể do dư
thừa năng lượng trong khẩu phần ăn hàng ngày so với nhu cầu tiêu hao của cơ
thể trong thời gian dài.
- Nguyên nhân của béo phì:
Khẩu phần và thói quen ăn uống dư thừa năng lượng kéo dài: Khi chế độ
ăn cung cấp năng lượng vượt quá nhu cầu, nếp sống làm việc tĩnh lại, ít tiêu hao
năng lượng sẽ làm cân nặng cơ thể tăng lên. Các nhà nghiên cứu cho rằng chỉ
cần ăn dư ra 70 kcal mỗi ngày sẽ dẫn tới tăng cân mặc dù số kcal này nhỏ có thể
không nhận ra dễ dàng, nhất là khi ta ăn những thức ăn giàu năng lượng. Các
loại thức ăn giàu chất béo thường ngon miệng nên trẻ dễ bị ăn quá thừa mà ta
không biết. Mỡ có độ năng lượng cao gấp 2 lần đường, lại cần ít kcal hơn để dự
trữ dưới dạng triglyxerit, trong khi đó đường cần năng lượng để chuyển thành
axit béo tự do trước khi dự trữ. Vì vậy, khẩu phần ăn nhiều mỡ dẫn đến thừa
kcal và tăng cân.
những bằng chứng kết luận rằng: béo phì thường do yếu tố môi trường tác động lên
những cá thể có khuynh hướng di truyền. Và dinh dưỡng giữ vai trò hàng đầu trong
số các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến hiện tượng thừa cân - béo phì.
Yếu tố kinh tế: Trẻ em ở các nước đang phát triển, kinh tế còn nghèo, tỉ
lệ bị béo phì ở thường thấp. Nguyên nhân chính là do nguồn cung cấp thực
phẩm còn hạn chế, nhiều gia đình còn gặp nhiều khó khăn nên chưa có điều kiện
quan tâm tới dinh dưỡng và khẩu phần ăn của trẻ. Ngược lại, ở cộng đồng có
điều kiện kinh tế - xã hội tốt hơn, tỷ lệ trẻ bị béo phì thường cao hơn. Tuy nhiên,
điều này không nhất thiết như vậy. Hiện tượng "gánh nặng kép" đã xuất hiện ở
nhiều nước Châu Á nghĩa là tồn tại đồng thời cả tình trạng thừa cân - béo phì và
cả suy dinh dưỡng, thậm chí thừa cân - béo phì gặp không ít ở các cộng đồng
nghèo. Điều này gắn liền với quá trình đô thị hóa đã quan sát thấy ở nhiều nước
đang phát triển.
15
Mặt khác, ở các nước công nghiệp phát triển, sự thiếu ăn không còn phổ
biến nữa, tỷ lệ béo phì lại thường cao ở tầng lớp nghèo, ít học so với các tầng
lớp khá giả hơn. Nguyên nhân là do tầng lớp nghèo vẫn giữ thói quen ăn uống
có nguy cơ đối với thừa cân, còn tầng lớp khá giả lại có xu hướng kiểm soát tốt
hơn tình trạng béo phì so với tầng lớp nghèo.
- Hậu quả của béo phì: Các nguy cơ do bệnh béo phì gây ra ở trẻ em tùy
mức độ có thể dẫn tới những bất lợi ít nhiều nghiêm trọng có thể ảnh hưởng đến
chất lượng cuộc sống và tương lai của trẻ.
Điều bất lợi đầu tiên thuộc về lĩnh vực tâm lý - xã hội. Trẻ quá béo sẽ
chịu đựng những “cái nhìn” thiếu thiện cảm của mọi người, điều có thể đưa tới
một sự khó chịu, khổ tâm sâu sắc.
Khi đến tuổi trưởng thành, các vấn đề liên quan đến sự rối loạn lipit (mỡ)
sẽ xuất hiện bên cạnh những triệu chứng khác như: tăng cholesterol, mỡ máu
cao (hypercholestérolémie) hoặc một sự tiết dư thừa quá mức chất insulin có thể
dẫn đến tiểu đường sau này.
1.1.3. Thực trạng thiếu dinh dưỡng trẻ em
1.1.3.1. Xu hướng về tỷ lệ thiếu dinh dưỡng trên thế giới
Hậu quả tất yếu của tình trạng thiếu ăn là suy dinh dưỡng. Tình trạng thiếu
ăn ảnh hưởng trước hết đến các đối tượng bị đe dọa nhất, đó là phụ nữ có thai,
phụ nữ đang cho con bú và trẻ em trước tuổi học đường. Điều đó được thể hiện
qua các số đo nhân trắc của cơ thể. Trong điều kiện thực địa người ta dựa chủ
yếu vào các chỉ tiêu nhân trắc dinh dưỡng gồm cân nặng theo tuổi, chiều cao
theo tuổi, cân nặng theo chiều cao, vòng cánh tay để phân loại tình trạng suy
dinh dưỡng.
Người ta coi những trẻ sinh đủ tháng có cân nặng lúc đẻ dưới 2.500 g là
những trẻ bị suy dinh dưỡng bào thai (SDDBT). SDDBT là thể suy dinh dưỡng
sớm nhất. Ở những trẻ này, các cơ quan như da, cơ, xương, não, gan, thận đều
bị ảnh hưởng mà điều dễ nhận thấy nhất là trẻ sinh ra nhẹ cân.
Theo Tổ chức Y tế thế giới, hiện nay tỷ lệ suy dinh dưỡng theo chỉ tiêu cân
nặng theo tuổi ở trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển có xu hướng giảm
đi. Từ năm 1975 đến 1995, tỷ lệ này giảm từ 4.6% xuống còn 34.6%, từ năm
1995 đến năm 2010 tỷ lệ giảm xuống còn khoảng 25%. Suy dinh dưỡng trẻ em