một số biện pháp tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử thế giới cho học sinh lớp 10 thpt - Pdf 23


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
DƢƠNG THỊ MINH HUỆ

MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA
VẬT CHẤT TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI
CHO HỌC SINH LỚP 10 THPT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Sơn La, năm 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
DƢƠNG THỊ MINH HUỆ

MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA


DANH MỤC VIẾT TẮT

THPT : Trung học phổ thông
GV : Giáo viên

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 3
2.1. Nguồn tài liệu dịch từ tiếng nước ngoài 3
2.2. Công trình nghiên cứu trong nước 4
3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 5
4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
4.1. Cơ sở phương pháp luận 5
4.2. Phương pháp nghiên cứu 5
5. Phạm vi nghiên cứu đề tài 5
6. Bố cục của đề tài 6
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC TẠO BIỂU TƢỢNG VĂN HÓA
VẬT CHẤT TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƢỜNG THPT 7
1. Cơ sở lí luận chung 7
1.1. Quan niệm 7
1.2. Vai trò, ý nghĩa của việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch
sử ở trường THPT 9
2. Thực tiễn của việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất ở trường THPT 14
2.1. Về phía giáo viên 14
2.2. Về phía học sinh 16
CHƢƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO BIỂU TƢỢNG VĂN HÓA VẬT
CHẤT TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI CHO HỌC SINH
LỚP 10 THPT 18

tranh giai cấp mà còn bồi dưỡng cho các em năng lực đối xử với mọi người
xung quanh, biết yêu quý cái đẹp, yêu lao động, sự căm thù quân cướp nước và
chủ nghĩa anh hùng cách mạng, khơi dậy ở học sinh sự thông cảm sâu sắc và
lòng kính yêu đối với quần chúng nhân dân. Bởi vậy Lịch sử chính là “Cô giáo
của cuộc sống”, giúp các em có ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, và kế tục
xứng đáng sự nghiệp cách mạng của cha ông trong công cuộc xây dựng và bảo
vệ đất nước.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy chất lượng giáo dục nói chung, chất lượng
dạy học Lịch sử nói riêng vẫn chưa đáp ứng được những yêu cầu xây dựng và

2
phát triển đất nước việc đổi mới phương pháp nâng cao chất lượng dạy học Lịch
sử đang là vấn đề cấp thiết đặt ra.
Thông qua lí luận dạy học nói chung và lí luận dạy học lịch sử nói riêng
thì quá trình dạy học lịch sử trước hết là quá trình tổ chức hoạt động nhận thức
lịch sử của học sinh, tuân theo quy luật “từ trực quan sinh động đến tư duy trìu
tượng, từ tư duy trìu tượng đến thực tiễn. Nghĩa là dạy học lịch sử phải dựa trên
cơ sở cung cấp sự kiện, tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, rút ra quy luật bài
học lịch sử phục vụ cho thực tiễn cuộc sống.
Do đặc trưng của kiến thức lịch sử và nhận thức lịch sử là không trực tiếp
quan sát nên việc học tập lịch sử phải dựa trên cơ sở nắm bắt sự kiện và tạo biểu
tượng lịch sử. Vì vậy trong dạy học lịch sử, việc tạo biểu tượng có vai trò rất quan
trọng. Đặc biệt là tạo biểu tượng về văn hóa vật chất, bởi văn hóa vật chất là bức
tranh quá khứ giúp chúng ta hình dung ra quá khứ một cách đầy đủ và chính xác
nhất. Tuy nhiên, trong dạy học lịch sử một bộ phận giáo viên chưa gắn liền sự
kiện lịch sử với các nền văn hóa vật chất, chưa khắc họa sinh động về các loại văn
hóa vật chất đó. Vì vậy thực tế cho thấy hiện tượng học sinh nhầm hoặc không
hiểu thậm chí thường “hiện đại hóa” lịch sử khi học tập lịch sử.
Dạy và học bộ môn lịch sử được xem là một nội dung quan trọng trong
việc giáo dục đạo đức, tình cảm cho học sinh trong nhà trường hiện nay. Tạo

nó một cách có hiệu quả trong dạy học lịch sử ở trường THPT hiện nay.
2. Lịch sử vấn đề
Vấn đề tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử từ lâu đã thu
hút được sự quan tâm đông đảo của các nhà giáo dục học, các nhà giáo dục lịch
sử, các thầy cô đang trực tiếp giảng dạy ở trường phổ thông. Đã có nhiều công
trình trong và ngoài nước đề cập đến vấn đề này với nhiều mức độ khác nhau.
2.1. Nguồn tài liệu dịch từ tiếng nước ngoài
Trong tác phẩm: “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào”, NXB Giáo dục
học, Hà Nội – 1973, Đai ri – Nhà giáo dục học Liên Xô đã đưa ra quan niệm:
việc cảm thụ bằng nghe ở nhiều học sinh phát triển hơn là sự cảm thụ bằng nhìn
thấy, theo tiến sĩ N.G. Đai ri muốn cho học sinh phân biệt được các thời kỳ lịch
sử, không chỉ theo niên đại mà còn qua bộ mặt đời sống xã hội thì điều đó không
thể đạt được nếu không mở rộng tối đa các nguồn kiến thức, cần phải nghiên

4
cứu lịch sử qua các tác phẩm hội họa, kiến trúc, điêu khắc, coi các tác phẩm này
là những nguồn kiến thức lịch sử.
Ngoài ra trong tác phẩm lí luận dạy học của M.N.Sacdacop “Tư duy học
sinh”, NXB GD, HN, 1970 đã đề cập đến việc tạo biểu tượng lịch sử như là một
trong các khâu không thể thiếu của quá trình nhận thức lịch sử.
2.2. Công trình nghiên cứu trong nước
Các nhà giáo dục lịch sử Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng,
Nguyễn Thị Côi trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử”, tập 1, 2, NXB
ĐHSP 2002; đã giành hẳn một phần nói về vấn đề “ tạo biểu tượng văn hóa vật
chất trong đó khẳng định tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử
gây hứng thú trong học tập cho học sinh nâng cao hiệu quả cho bài học lịch sử.
Trần Tuyết Oanh trong cuốn giáo trình “Giáo dục học tập 1”, NXB
ĐHSP, 2006.
Ngoài ra các bài viết trong tạp chí chuyên môn, tạp chí nghiên cứu giáo
dục, tạp chí thông tin khoa học giáo dục cũng đã đề cập đến vấn đề tạo biểu

4.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu một số tác phẩm của chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ tịch Hồ Chí
Minh, chủ trương của Nhà nước ta về nhận thức giáo dục nói chung và giáo dục
lịch sử nói riêng.
Nghiên cứu một số công trình của các nhà giáo dục và các tài liệu có liên
quan.
Nghiên cứu toàn bộ mục tiêu, nội dung của phần 1 Lịch sử thế giới lớp 10
(chương trình chuẩn).
Trên cơ sở khóa luận thuộc chuyên ngành “phương pháp dạy học Lịch
sử”. Bên cạnh những phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung: nghiên cứu
tài liệu, phân tích, tổng hợp, so sánh khái quát hóa đề tài còn sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu chủ đạo:
Phương pháp điều tra.
Thực nghiệm sư phạm: dự giờ, giáo án thực nghiệm.

5. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Do điều kiện thời gian và trình độ có hạn, đề tài chỉ giới hạn ở việc đề
xuất một số một số biện pháp tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch

6
sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại, lớp 10 THPT (chương trình
chuẩn) khi dạy học những bài nội khóa ở trên lớp.
6. Bố cục của đề tài
Đề tài ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phục lục, mục lục và danh
mục tài liệu tham khảo thì nội dung chính gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về việc tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy
học lịch sử ở trường THPT.
Chương 2: Một số biện pháp tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong lịch sử
thế giới nguyên thủy cổ đại và trung đại cho học sinh lớp 10 THPT.


não người về những sự vật và hiện tượng đã được tri giác trước đây.
Do đặc trưng của sự nhận thức lịch sử, việc học tập lịch sử không bắt đầu
từ trực quan sinh động. Vì lịch sử là những cái đã qua, không thể trực tiếp quan

8
sát quá khứ cũng như tái tạo lại nó trong phòng thí nghiệm như toán học, hoá
học hay vật lí. Bởi vậy, việc học lịch sử phải bắt đầu từ việc nắm các sự kiện và
tạo biểu tượng lịch sử. Trong học tập lịch sử không có biểu tượng nảy sinh từ
những trực giác đối với các sự kiện, hiện tượng lịch sử. Mà việc hình thành nên
những biểu tượng lịch sử phải dựa trên những sự kiện, hiện tượng đã được con
người nhận thức từ trước để nhằm tái tạo lại một cách chính xác và sinh động.
Ví dụ, khi tạo biểu tượng lịch sử về không gian địa lí là thung lũng Điện
Biên Phủ trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Chúng ta không được trực
tiếp quan sát trận địa Điện Biên Phủ tại thời điểm đó được bố trí giữa ta và địch
như thế nào. Muốn tạo được biểu tượng, chúng ta phải sử dụng những hình ảnh,
ghi chép của các phóng viên, nhà báo hay nhà kí sự chiến tranh đã từng được
chứng kiến hay nghe kể. Khi đó, biểu tượng lịch sử được hình thành dựa trên cơ
sở của sự tri giác gián tiếp.
Với những quan niệm trên, có thể hiểu biểu tượng lịch sử “Là hình ảnh về
những sự kiện, nhân vật lịch sử, điều kiện địa lí vv được phản ánh trong óc
học sinh với những nét chung nhất, điển hình nhất”.
Cũng như biểu tượng nói chung, biểu tượng lịch sử tái hiện những đặc
trưng cơ bản nhất của sự kiện, hiện tượng lịch sử. Tuy nhiên, việc tạo biểu tượng
lịch sử cho học sinh không chỉ dừng lại ở việc miêu tả bề ngoài mà còn đi sâu
vào bản chất sự kiện, nêu đặc trưng, tính chất của sự kiện để tiến tới việc nắm
khái niệm lịch sử. Vì vậy, biểu tượng lịch sử rất gần với khái niệm sở đẳng (còn
gọi là khái niệm đơn giản). Nói cách khác biểu tượng lịch sử là cơ sở để hình
thành khái niệm.
1.1.2. Quan niệm về biểu tượng văn hóa vật chất
Văn hóa là sản phẩm của con người là quan niệm về cuộc sống, tổ chức

cơ sở để hình thành khái niệm, từ đó phát triển óc phán đoán suy luận của con
người. Học tập lịch sử cũng tuân theo qúa trình nhận thức hiện thực khách quan.
Tuy nhiên, do đặc trưng riêng biệt của nhận thức lịch sử, việc học lịch sử phải
dựa trên cơ sở nắm bắt sự kiện và tạo biểu tượng lịch sử từ đó tiến tới hình thành
khái niệm, rút ra quy luật và bài học lịch sử cho học sinh. Vì vậy, biểu tượng
lịch sử chính là giai đoạn nhận thức cảm tính của qúa trình học tập lịch sử. Nếu

10
như không tạo biểu tượng thì hình ảnh lịch sử mà học sinh thu nhận sẽ nghèo
nàn, hiểu biết lịch sử không sâu sắc, không phát triển tư duy và không có cơ sở
hình thành khái niệm.
Sự thống nhất giữa tạo biểu tượng và hình thành khái niệm trong học tập
lịch sử là một trong những đặc điểm chung của phát triển tư duy. Hai qúa trình
này vừa tiến hành một cách độc lập, vừa hòa vào nhau trong một thể thống nhất.
Biểu tượng là sự minh họa cụ thể cho khái niệm bằng những hình ảnh sinh động.
Nội dung của các hình ảnh lịch sử, của bức tranh quá khứ càng phong phú bao
nhiêu thì hệ thống khái niệm mà học sinh thu nhận được càng vững chắc bấy
nhiêu. Bởi vậy, biểu tượng rất gần với khái niệm sơ đẳng, không chỉ dừng lại ở
đó việc tạo biểu tượng còn đóng vai trò quan trọng trong việc rút ra quy luật và
bài học lịch sử, có vai trò cũng như ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nâng
cao chất lượng giáo dục lịch sử. Bởi thông qua những biện pháp tạo biểu tượng
nó giúp cho học sinh tiếp cận với lịch sử một cách nhanh nhất, chân thực nhất
cũng như những hình ảnh kiến thức được đọng lại trong óc học sinh lâu nhất.
1.2.2. Ý nghĩa
1.2.2.1. Về nhận thức
Biểu tượng văn hóa vật chất có ưu thế trong việc giúp học sinh nắm vững
về những cơ sở văn hóa vật chất, chúng được ra đời ở đâu, trong khoảng thời
gian nào, các địa điểm văn hóa vật chất trong mỗi thời kì lịch sử ra sao. Từ đó
hiểu sâu các vấn đề lịch sử, các thời đại lịch sử. Như vậy, tạo biểu tượng về văn
hóa vật chất có tác dụng cụ thể hoá một số sự kiện lịch sử, làm sáng tỏ những

Biểu tượng văn hóa vật chất là một trong những biện pháp quan trọng làm
cho hoạt động trí tuệ của học sinh không ngừng phát triển. Vì thông qua việc
giáo viên sử dụng kết hợp các đồ dùng trực quan, tư liệu lịch sử, học sinh phải
huy động trí óc quan sát, tư duy và tưởng tượng để có được biểu tượng lịch sử
đúng đắn nhất.
Việc tạo biểu văn hóa vật chất là cơ sở để tiến tới sự nhận thức lý tính của
hiện thực lịch sử, là điều kiện để cho học sinh nhận thức lịch sử đúng đắn, tiến
tới hình thành khái niệm.
1.2.3. Yêu cầu của việc tạo biểu tượng trong dạy học lịch sử

12
Để hình thành khái niệm lịch sử cho học sinh có nhiều con đường khác
nhau, mỗi con đường thực hiện đều có cách thức yêu cầu riêng. Với biện pháp
tạo biểu tượng văn hóa vật chất trong dạy học lịch sử cũng cần một số yêu cầu
cụ thể.
Thứ nhất, phải căn cứ vào nội dung, mục tiêu giáo dục, giáo dưỡng và
phát triển của bài học để lựa chọn cách tạo biểu tượng (tranh ảnh, mô hình, sa
bàn, ) phù hợp và tiêu biểu cho bài học lịch sử.
Ví dụ, khi dạy bài 9 “Vƣơng quốc Campuchia và vƣơng quốc Lào”
phần Lịch sử thế giới lớp 10 giáo viên cần có tranh ảnh về Ăngcovat ở
Campuchia và tháp Thạp Luổng ở Viêng chăn-Lào để tạo biểu tượng văn hóa
vật chất cho học sinh.
Thứ hai, với mỗi loại văn hóa vật chất phải tìm ra biện pháp tạo biểu
tượng hợp lí nhất.
Ví dụ, khi dạy bài 4 “Các quốc gia cổ đại phƣơng Tây Hilap và Rôma”
phần 1 có hình “Xưởng chế biến dầu ôliu ở Nam Italia” với hình này giáo viên
cần có tranh ảnh để tạo biểu tượng cho học sinh, cũng trong bài này phần 2 có
hình 7 “Pê-ri-cret (495-429 TCN)” với hình này giáo viên có thể sử dụng tài
liệu về tiểu sử của nhân vật để tạo biểu tượng.
Thứ ba, sử dụng phương pháp tạo biểu tượng phải kết hợp với các biện

tượng giáo viên cần nắm vững chuyên môn, phải đọc nhiều tài liệu và tìm nhiều
hình ảnh liên quan đến biểu tượng cần tạo sau đó chọn những dữ liệu cần thiết
cho việc tạo biểu tượng
Thời gian chuẩn bị cho một sự kiện, hiện tượng lịch sử khá lâu, mất nhiều
công sức, tiền của. Như chúng ta đã biết để tạo được một biểu tượng văn hóa vật
chất giáo viên cần có các phương tiện kĩ thuật để phục vụ cho việc tạo biểu
tượng, phải chuẩn bị hình ảnh phóng to các hình ảnh mà mình cần tạo biểu
tượng và việc tạo biểu tượng mất rất nhiều thời gian.
Trong giờ học tạo biểu tượng sẽ giúp học sinh hứng thú với giờ học, song
việc tạo biểu tượng sẽ làm mất thời gian của giáo viên và có thể làm cho giờ học
trở thành một cuộc trò truyện của học sinh. Vì khi tạo biểu tượng, nếu giáo viên

14
tạo biểu tượng không đúng mục đích và nội dung cần sử dụng trong bài học thì
đây sẽ trở thành chủ đề để học sinh trò truyện.
Dạy học lịch sử ở nhà trường phổ thông chưa khắc phục được tình trạng
nặng nề về nội dung chương trình, nhiều giáo viên vẫn nặng về cung cấp kiến
thức, chưa áp dụng phương pháp mới tích cực, vẫn nặng về lối truyền thụ một
chiều, đọc chép, thầy dạy thế nào, trò tiếp thu thế ấy. Làm các em trở nên thụ
động khi tiếp nhận kiến thức, không phát huy được các năng lực tư duy, sáng
tạo, khả năng làm việc độc lập khi giải quyết nội dung bài học. Hậu quả của nó
là lối học thụ động, thiếu sáng tạo và hàng loạt các hiện tượng tiêu cực trong
kiểm tra, đánh giá, thi cử, làm chất lượng dạy học bộ môn suy giảm. Chất
lượng môn Lịch sử giảm sút do nhiều nguyên nhân. Một số ý kiến cho rằng
bộ môn Lịch sử vẫn chưa khắc phục được tình trạng nặng nề về nội dung,
trong khi đó thời gian dành cho bộ môn theo chương trình lịch sử là quá ít chỉ
từ 1 - 2 tiết/tuần. Thời gian ngắn nên hầu hết các giáo viên chỉ thiên về thuyết
trình và không có sự phát huy tích cực của học sinh, kết quả là học sinh học
một cách thụ động, thiếu sáng tạo. Điều đặc biệt hơn cả làm cho chất lượng
môn Lịch sử giảm sút.

vùng sâu, vùng xa chưa theo kịp chương trình và sách giáo khoa. Phần lớn giáo
viên phụ thuộc vào sách giáo khoa nhất là phần kênh chữ. Giáo viên chưa khai
thác được các kênh hình trong sách giáo khoa, để khai thác được các kênh hình
một trong những biện pháp để khai thác là giáo viên phải tạo biểu tượng mà việc
tạo biểu tượng cho học sinh trong quá trình dạy học lại chưa được giáo viên áp
dụng vào việc giảng dạy và khai thác kênh hình.
Thứ năm, quan niệm cho rằng bộ môn Lịch sử là một môn học phụ vẫn
còn tồn tại nhiều. Nên đã tác động đến tâm lí cả giáo viên và học sinh yếu tố coi
thường, đối phó dạy và học. Đồng thời, hiện nay nền kinh tế thị trường, thương
mại hóa giáo dục càng tác động to lớn đến chất lượng dạy học. Mà tác động tiêu
cực của nó là việc một số thầy cô chưa trau dồi nghề nghiệp của mình thật tốt.
Mặt khác, về chủ quan nhận thức của giáo viên và học sinh về vị trí và tác
động của bộ môn Lịch sử đều chưa sâu sắc. Dẫn đến việc thiếu trau dồi nội dung
kiến thức của giáo viên, trong đó có tạo biểu tượng văn hóa vật chất nên truyền
đạt không gây được sự hứng thú học tập của các em. Vì vậy, hệ thống các biện

16
pháp tạo biểu tượng văn hóa vật chất để giáo viên vận dụng có hiệu quả vào
giảng dạy là vấn đề quan trọng và hết sức cần thiết, góp phần nâng cao chất
lượng dạy học bộ môn.
2.2. Về phía học sinh
Qua thực tiễn dạy học bộ môn cho thấy không ít học sinh xa rời, coi
thường bộ môn Lịch sử, coi môn Sử là môn học phụ. Do đó, các em đã không
chú ý đến việc học tập bộ môn vì vậy chất lượng học tập bộ môn giảm sút.
Một số học sinh không thích học môn Lịch sử vì cho rằng môn Lịch sử khó
nhớ những mốc thời gian, sự kiện…cho rằng môn này phải học nhiều và là môn học
thuộc nên một số em đặc biệt là các em nam không có hứng thú với môn Lịch sử.
Tuy có nhiều học sinh có hứng thú học tập môn Lịch sử. Xong phần lớn
các em tỏ thái độ thờ ơ, hững hờ với môn học hoặc học một cách thụ động, đối
phó chưa có sự chủ động tích cực trong học tập. Một số em còn cho rằng môn

đã tiếp thu kiến thức một cách căn bản, đáp ứng yêu cầu cuộc sống. 18
CHƢƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO BIỂU TƢỢNG VĂN HÓA VẬT
CHẤT TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI
CHO HỌC SINH LỚP 10 THPT

2.1. Vị trí, mục tiêu, nội dung của phần lịch sử thế giới lớp 10 THPT
2.1.1. Vị trí
Chương trình lịch sử được thực hiện theo nguyên tắc đồng tâm kết hợp
với đường thẳng. Ở trường THPT tiếp tục trang bị cho học sinh những kiến thức
cơ bản mang tính hệ thống và khái quát lịch sử phát triển của nhân loại cũng như
lịch sử thế giới từ quá khứ đến nay.
Trong sách giáo khoa lịch sử lớp 10 gồm có 3 phần, trong đó phần lịch sử
Thế giới có 2 phần, còn 1 phần là phần lịch sử Việt Nam.
Phần một, Lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại. Là phần
mở đầu cho toàn bộ Lịch sử thế giới, là nền tảng để học được Lịch sử thế giới
giai đoạn sau cũng như là học Lịch sử dân tộc.
Học tốt phần Lịch sử thế giới thời nguyên thủy cổ đại và trung đại sẽ trang
bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về nguồn gốc loài người, học sinh nhận
thức được sự ra đời, phát triển, suy vong của các quốc gia cổ đại phương Đông
và phương Tây. Đồng thời hiểu những nét chính về Trung Hoa phong kiến, Ấn
Độ và các quốc gia khác. Cuối cùng là hiểu được sự hình thành và suy vong của
chế độ phong kiến.
2.1.2. Mục tiêu
2.1.2.1. Về nhận thức
Giúp cho học sinh có những hiểu biết về sự kiện, hiện tượng một cách có hệ
thống, cơ bản khái quát về tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại từ nguồn
gốc cho đến hết thời kì thứ nhất của Lịch sử thời cận đại.

Chương trình lịch sử Thế giới lớp 10 giới thiệu những thời kì đầu tiên của
lịch sử loài người được cấu thành 2 phần:
Phần một, gồm 3 thời kì lịch sử: Xã hội nguyên thủy cổ đại và trung đại.
Phần xã hội nguyên thủy học sinh tìm hiểu nguồn gốc loài người, quá trình tiến
hóa từ vượn thành người, những tổ chức xã hội đầu tiên của loài người: thị tộc,
bộ lạc. Về xã hội cổ đại, các em tìm hiểu về những quốc gia cổ đại đầu tiên

20
những đặc điểm về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên thể chế chính trị của các quốc
gia cổ đại. Đồng thời giúp học sinh hiểu được đóng góp thành tựu về văn minh
của các quốc gia này đối với nền văn minh nhân loại.
Về thời phong kiến: Học sinh hiểu được những nét chính về Trung Hoa
phong kiến và những thành tựu vĩ đại về mặt văn hóa của lịch sử Trung Hoa,
ngoài ra còn có lịch sử Ấn Độ và các quốc gia Đông Nam Á khác.
Về phần Châu Âu phong kiến: Cung cấp cho học sinh cái nhìn toàn diện
đến quá trình hình thành và đến khi suy vong của chế độ phong kiến, nó gắn liền
với sự hình thành của chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn Thế giới.
Phần hai, học sinh sẽ tìm hiểu về nguyên nhân bùng nổ, diễn biến, kết quả
và ý nghĩa của các cuộc cách mạng tư sản, quá trình diễn ra cuộc cách mạng
công nghiệp, chủ nghĩa tư bản hình thành trên phạm vi toàn thế giới, gắn với sự
ra đời của chủ nghĩa thực dân đi xâm lược trên quy mô toàn thế giới. Điều đó đã
dẫn đến sự bùng nổ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Á Phi-Mĩ La
Tinh. Đồng thời trong phần này học sinh sẽ tìm hiểu các cuộc đấu tranh của giai
cấp công nhân và sự ra đời của chủ nghĩa cộng sản.
2.2. Các loại văn hóa vật chất cần tạo biểu tƣợng cho học sinh khi
dạy phần Lịch sử thế giới lớp 10 THPT
Tên bài
Biểu tượng cần tạo
Biện pháp cần tạo
Bài 1: Sự xuất hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status