PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TP. PLEIKU
TÊN ĐỀ TÀI
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢTHẢO
LUẬN NHÓM TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở
TRƯỜNG THCS
Họ và tên người viết: CHU VĂN BÌNH
Chuyên môn: CAO ĐẲNG SƯ PHẠM SỬ - ĐỊA
Đơn vò: TRƯỜNG THCS ANH HÙNG WỪU
Năm học: 2008-2009
1
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TP. PLEIKU
TÊN ĐỀ TÀI
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢTHẢO
LUẬN NHÓM TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở
TRƯỜNG THCS
Năm học: 2008-2009
2
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Đổi mới phương pháp dạy học hiện nay chú trọng đến các phương
pháp lấy học sinh làm trung tâm. Thảo luận nhóm là một trong những
phương pháp học tập có hiệu qủa trong việc tổ chức hoạt động nhận thức
cho học sinh. Phương pháp hoạt động nhóm còn gọi là phương pháp Semi
na. Đây cũng là một trong những hình thức dạy học phát huy được tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, giúp học sinh có cơ hội bàn bạc, trao
đổi, đóng góp ý kiến của mình vào nội dung bài học. Khi học theo nhóm
học sinh sẽ được thảo luận theo từng vấn đề của bài học, đó là cơ hội cho
mọi học sinh tham gia hoạt động học tập, cơ hội cho các em học hỏi lẫn
nhau, hỗ trợ lẫn nhau về cách tìm kiếm những giải pháp để giải quyết
những tình huống trong bài học, ngoài ra khi học theo nhóm học sinh còn
có thể cùng nhau đạt được những điều mà các em không làm được một
mình, cần phải bằng cách cùng mọi người trong nhóm đóng góp một phần
luận nhóm là thảo luận những vấn đề nhỏ trong từng bài dạy, nhưng đó là
những vấn đề khó yêu cầu cần phải có sự hợp tác, trao đổi giữa các học
sinh trong nhóm để đưa ra câu trả lời. Trong đề tài này chúng tôi chỉ đề
cập đến một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong phương pháp thảo
luận nhóm.
Qua thực tế đi dự giờ học hỏi kinh nghiệm ở đồng nghiệp tôi thấy
các giáo viên tiến hành các hoạt động thảo luận nhóm còn ít, đôi khi còn
mang tính hình thức, chưa phát huy được hiệu quả của nó.
Bản thân tôi là một giáo viên giảng dạy đòa lí đã được 10 năm, qua
thời gian giảng dạy và áp dụng các hoạt động theo nhóm tôi thấy nảy sinh
một số vấn đề cần giải quyết như sau:
- Học sinh còn thụ động trong quá trình thảo luận nhóm, đặc biệt là
các em học sinh yêú.
- Một số học sinh còn bò động và lúng tùng trong quá trình thảo luận.
- Nhiều học sinh còn nhút nhát, chưa động não, chưa hoạt động tích
cực (chủ yếu là các em học yếu), trong khi đó các em học khá, giỏi thì làm
hết phần việc của nhóm.
- Thời gian thảo luận chưa đảm bảo, vượt quá thời gian quy đònh làm
ảnh hưởng đến thời gian các hoạt động khác của bài dạy.
Ø - Học sinh trong nhóm và học sinh giữa các nhóm nhận xét, bổ sung
nội dung thảo luận chưa hiệu quả.
Từ thực tế trên, trong các năm qua tôi đã luôn trăn trở để tìm ra các
biện pháp tiến hành hoạt động thảo luận nhóm nhằm mang lại hiệu quả
cao hơn trong từng tiết dạy. Qua từng tiết dạy áp dụng hoạt động nhóm ở
các khối lớp đối với đòa bàn trường tôi đang công tác, tôi đã đúc kết và rút
ra được một số kinh nghiệm nhằm mang lại hiệu quả cao hơn trong các giờ
lên lớp có nội dung cần thảo luận nhóm.
4
PHẦN II: CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1/ Chuẩn bò hoạt động thảo luận nhóm:
Các câu hỏi thảo luận nên cân nhắc kỹ và chuẩn bò trước trong phiếu
học tập (in vi tính ), hoặc tiện nhất là viết sẵn trong bảng phụ ( loại bảng
5
xếp , thảo luận đến câu nào thì mở ra đến câu đó ). Những câu hỏi cần
phải tham khảo nhiều tài liệu mới trả lời được thì giáo viên nên phổ biến ở
cuối
tiết trước (trong phần dặn dò) và giới thiệu cụ thể tên tài liệu tham khảo.
Cần lưu ý là mức độ và dung lượng kiến thức trong mỗi câu hỏi phải
tương đối đồng đều nhau, tránh trường hợp giao cho nhóm này câu hỏi quá
dễ còn nhóm kia thì quá khó .
3/ Cách xếp nhóm :
Vấn đề đặt ra là xếp bao nhiêu học sinh vào một nhóm là vừa? Cần
phải suy nghó cẩn thận khi chia học sinh thành nhóm. Nếu chia nhóm
không hợp lí thì hoạt động nhóm sẽ thất bại ngay từ đầu vì giáo viên bò
mất khả năng kiểm soát lớp.
Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy xếp từ 4 đến 8 học sinh vào một
nhóm là hoạt động có hiệu quả nhất và nhanh nhất vì khi giáo viên yêu
cầu thảo luận nhóm thì từng cặp bàn (loại 4 chổ ngồi = nhóm 8 HS ; loại 2
chổ ngồi = nhóm 4 HS ) quay lại với nhau là xong, ít tốn thời gian di
chuyển và không gây mất trật tự. Mặt khác nhóm có ít học sinh thì càng có
ít học sinh “ăn theo” nên mỗi học sinh đều phải hoạt động, không có học
sinh đứng xớ rớ bên ngoài và có ít học sinh thì sự thống nhất ý kiến càng
nhanh, đỡ tốn thời gian.
Số lượng nhóm ít nhất phải gấp đôi số lượng câu hỏi thảo luận.
Nghóa là một câu hỏi thì ít nhất phải có hai nhóm cùng thảo luận câu hỏi
đó, như vậy mới thực hiện được khâu quan trọng tiếp theo là nhận xét
đánh giá lẫn nhau giữa các nhóm. Nhóm này có ý kiến thảo luận khác với
nhóm bạn, hoặc đề xuất kết quả hợp lý hơn nhóm bạn thì cuộc thảo luận
mới sôi nổi.
4/ Để hoạt động thảo luận nhóm đạt hiệu quả, giáo viên phải
nhóm trình bày kết quả thảo luận. Tuỳ nội dung câu hỏi, tuỳ điều kiện
từng trường, học sinh có thể trình bày bằng nhiều cách khác nhau (dùng
đèn chiếu, bảng phụ, giấy khổ to, phiếu học tập ). Khi học sinh các nhóm
lên trình bày, giáo viên không nên đưa ra các câu hỏi chất vấn làm học
sinh lúng túng hoặc đưa ra câu trả lời đúng, sai lập tức mà phải để ngỏ cho
các nhóm khác nhận xét .
Để tiết kiệm thời gian, mỗi câu hỏi giáo viên có thể chỉ yêu cầu một
vài nhóm trình bày kết quả (nếu các nhóm cùng thảo luận một câu hỏi),
các nhóm không được yêu cầu trình bày kết quả thì có nhiệm vụ nhận xét,
bổ sung phần trình bày của nhóm bạn nhằm đảm bảo tất cả đều có cơ hội
đóng góp ý kiến, qua đó giáo viên cũng đánh giá được kết quả thảo luận
của các nhóm này. Khi học sinh các nhóm khác nhận xét bổ sung, giáo
viên phải lắng nghe cẩn thận và ghi tóm tắt lên bảng những điểm cơ bản
của mỗi ý kiến phát biểu để phát hiện những mâu thuẩn giữa các ý kiến,
nếu có ý kiến khác nhau thì kòp thời nêu vấn đề cho học sinh tiếp tục giải
quyết, tuy nhiên không nên để cuộc thảo luận chệch hướng hoặc kéo dài vì
một vấn đề nhỏ.
Khi các nhóm không còn ý kiến bổ sung, giáo viên phải dành đủ một
khoảng thời gian thích đáng trong giờ giảng để nhận xét các ý kiến của
học sinh và thực hiẹân một quá trình phản hồi đầy đủ và hoàn chỉnh các
7
thông tin học sinh cần ghi nhớ mà giáo viên đã chuẩn bò trước trong bài.
Sau đó giáo viên đặt câu hỏi kiểm tra một số em xem các em đã nắm được
vấn đề chưa. Cuối cùng giáo viên cũng nên khuyến khích, động viên học
sinh tiếp tục tham gia phát biểu trong những lần sau bằng cách tỏ thái độ
hài lòng, thích thú, khen ngợi kòp thời những câu trả lời của học sinh, hoặc
cho điểm những học sinh xuất sắc.
5/ Biện pháp khuyến khích mọi thành viên trong nhóm tham gia
thảo luận:
Trong các tài liệu hướng dẫn yêu cầu giáo viên cho mỗi nhóm tự
Sau khi nghiên cứu mục tiêu bài học chúng tôi thấy một trong các
kiến thức và kó năng mà học sinh cần đạt đựơc là phải biết sử dụng, phân
tích lược đồ phân bố mưa để thấy được sự ảnh hưởng của đòa hình đối với
sự phân bố lượng mưa trong khu vực. Để đạt được mục tiêu đó ở phần 2
(khí hậu) chúng tôi chọn phương pháp cơ bản là thảo luận nhóm.
Ở bước chuẩn bò :
+ Chúng tôi chọn câu hỏi mở đầu là “Bằng kiến thức đã học ở bài 2
hãy nhắc lại khu vực Nam Á chủ yếu nằm trong đới khí hậu nào? Có lượng
mưa ra sao?”
+ Chọn câu hỏi thảo luận là “Dựa vào lược đồ hình 10.2 hãy nhận
xét và giải thích lượng mưa ở 3 đòa điểm : Se-ra-pun-đi, Mum-bai, Mun-
tan?”.
+ Dự kiến thời gian cho hoạt động này là 5 phút.
+ Phương tiện thực hiện là bảng xếp (dành cho giáo viên) và phiếu
học tập in sẵn (dành cho học sinh) có nội dung như sau :
PHIẾU HỌC TẬP
Nhóm :
- Đòa điểm :
- Lượng mưa :
- Giải thích :
+ Tổ chức nhóm: Do phòng học chúng tôi đang dạy có 2 dãy bàn,
mỗi dãy 6 bàn nên chúng tôi dự kiến chia làm 6 nhóm, mỗi nhóm 2 bàn
( khoảng 8 HS / nhóm).
Tiến hành hoạt động:
+ Giáo viên mở trang đầu bảng phụ có ghi sẵn nội dung câu hỏi mở
đầu, gọi một học sinh trả lời, sau đó giáo viên đặt vấn đề để gây sự chú ý
cho học sinh.
+ Giáo viên mở trang 2 của bảng xếp có ghi sẵn nội dung thảo luận.
+ Giáo viên phân nhóm theo dự kiến, cử nhóm trưởng, thư kí.
Nguyên nhân của sự phân bố đó?
Nếu học sinh trả lời được hai câu hỏi trên coi như đã đạt yêu cầu.
Ví dụ 2 :
Bài 22 (Đòa 6 ): Các đới khí hậu trên Trái Đất.
Khi thiết kế bài này chúng tôi xác đònh trọng tâm là mục 2: Sự phân
chia bề mặt trái đất ra các đới khí hậu theo vó độ.
Ở mục này cần phải đạt được hai mục tiêu:
- Kiến thức: Học sinh trình bày được vò trí của các đai nhiệt, các đới
khí hậu và đặc điểm của các đới khí hậu theo vó độ trên bề mặt Trái Đất.
- Kỹ năng: Biết xác lập mối quan hệ nhân quả giữa góc chiếu sáng,
thời gian chiếu sáng của Mặt Trời với nhiệt độ của không khí.
Để đạt hai mục tiêu trên, chúng tôi chọn phương pháp thảo luận theo
nhóm.
- Ở bước chuẩn bò :
+ Chúng tôi thiết kế hai phiếu học tập phục vụ cho hai hoạt động
nhóm.
10
Phiếu học tập số 1: thiết kế dạng bảng tổng hợp để học sinh dựa vào
đó làm rõ các đặc điểm của từng đới khí hậu trình bày trong sách giáo
khoa.
Phiếu học tập số 2: thiết kế dạng sơ đồ trống để học sinh củng cố
kiến thức và hình thành mối quan hệ nhân quả giữa góc chiếu sáng, thời
gian chiếu sáng của Mặt Trời với nhiệt độ của không khí.
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1
Nhóm :
Đới Vò trí
( vó độ )
Góc chiếu
của ánh
hấp thụ:………
…………………….
+ Chuẩn bò phương tiện thực hiện gồm: bảng xếp, phiếu học tập
(mỗi phiếu 7 bản), bút dạ, hình 58 SGK phóng to, quả Đòa Cầu, mô hình
trái đất- Quả đòa cầu- mặt trăng.
+ Tổ chức nhóm: do đặc thù phòng học nên chúng tôi chia 6 nhóm,
mỗi nhóm 2 bàn.
- Tiến hành hoạt động 1:(hoàn thành phiếu học tập số 1).
+ Giáo viên treo hình 58 phóng to và đặt vấn đề yêu cầu học sinh
thảo luận.
+ Giáo viên phân nhóm theo dự kiến, cử nhóm trưởng, thư kí.
+ Giáo viên giao nhiệm vụ cho từng nhóm (nhóm 1, 2 tìm hiểu đới
nóng, nhóm 3, 4 tìm hiểu đới ôn hoà, nhóm 5, 6 tìm hiểu đới lạnh).
+ Yêu cầu các nhóm ngồi vào vò trí (từng cặp bàn quay lại với nhau).
+ Phát phiếu học tập, bút, quy đònh thời gian hoàn thành phiếu 1.
+ Giáo viên đi quan sát hoạt động của từng nhóm để có sự uốn nắn
kòp thời.
+ Nhắc học sinh thời gian thảo luận sắp hết.
- Kết thúc hoạt động 1:
+ Giáo viên gọi học sinh quay về vò trí ban đầu và các nhóm nộp
phiếu học tập.
+ Giáo viên đưa phiếu học tập của nhóm 1 lên bảng và chỉ đònh một
học sinh của nhóm đọc to cho cả lớp nghe (kết hợp chỉ trên lược đồ 58
phóng to), nhóm 2 nhận xét, bổ sung (hoặc ngược lại) và gọi các nhóm
khác nhận xét thêm, những ý kiến mới được giáo viên ghi tóm tắt trên
bảng.
+ Đến đây học sinh mới dừng lại ở mức độ nhận biết và thu thập các
thông tin từ sách giáo khoa mà chưa hiểu rõ vấn đề nên giáo viên phải
dùng quả đòa cầu, mô hình trái đất-mặt trời-mặt trăng, hình 58 kết hợp với
câu hỏi phát vấn để giúp học sinh giải thích lần lượt từng đặc điểm của đới
như hoạt động nhóm đã có hiệu quả.
Ví dụ 3: Khi dạy bài : Đòa hình bề mặt trái đất . (Đòa lí lớp 6).
Giáo viên cho học sinh thảo luận:
Nhóm 1-3-5: Nhận xét sự khác nhau về hình thái bên ngoài giữa núi
già và núi trẻ về các đặc điểm sau :(Đỉnh của núi, sườn của núi và thung
lũng của núi).
Yêu cầu học sinh quan sát hình sau (giáo viên phóng to treo lên
bảng ). Giáo viên chỉ rõ cho học sinh các bộ phận của núi. ( như ở hình
sau ).
13
Học sinh thảo luận và điền kết quả vào phiếu học tập sau: Nội dung
(B) và (C) là phần làm việc của học sinh.
Hình thái
(A)
Núi già
(B)
Núi trẻ
(C)
Đỉnh
Sườn
Thung lũng
Tròn
Thoải
Rộng
Nhọn
Dốc
Hẹp
Nhóm 2-4-6: Quan sát hình 34 SGK ( giáo viên phóng to treo lên bảng) và
cho biết cách tính độ cao tuyệt đối và độ cao tương đối của núi khác nhau
(3) Độ cao tuyệt đối
Đỉnh A
Biển
15
duy phân tích, giải thích, so sánh …).
Những hiệu quả nói trên phần nào được minh chứng qua bảng thống
kê sau:
(Số liệu được thống kê trong giáo án và sổ điểm cũ).
Năm học Khối Số
bài
dạy
Số bài có
HĐ nhóm
Số lần
HĐ nhóm
Số lần
HĐ
nhóm có
hiệu quả
Chất
lượng
bộ
môn
2003-2004 6 27 10 (37% ) 12(44%) 4 (33 % ) 78.7%
2004-2005 6 27 15 (56%) 18(67%) 7 (39 % ) 80.5%
2005-2006 6 27 17 (63%) 19(70%) 11(58 %) 88.8%
2006-2007 6 27 20 (74%) 23(85%) 20 (87%) 93.3%
2007-2009 8 44 21 (48%) 28(57%) 25 (84%) 95.2%
2008 -2009
Học kì I
Đưa ra kết luận đúng.
Nhấn mạnh trọng tâm vấn đề.
Liên hệ trở lại kết quả thảo luận của học sinh để đánh giá khả năng
nhận thức của học sinh.
Kiểm tra lần cuối xem cả lớp hiểu vấn đề chưa
PHẦN V: KẾT LUẬN
Từ lí luân vận dụng vào thực tiễn đã cho thấy tổ chức một hoạt động
thảo luạân nhóm có hiệu quả sẽ đem lại hiệu quả rất lớn cho một tiết dạy.
Tuy nhiên để tạo một hoạt động nhóm có kết quả như mong muốn là một
việc làm tương đối khó, lí do khách quan cũng có, chủ quan cũng có nhưng
chúng tôi nghó rằng ai cũng làm được với điều kiện là giáo viên phải có
nhận thức đúng đắn, phải dành nhiều thời gian đầu tư suy nghó, lập kế
hoạch cụ thể, chuẩn bò chu đáo và phải mạnh dạn thực hành.
Tóm lại: Muốn nâng cao hiệu quả thảo luận nhóm giáo viên phải
dốc hết nhiệt tình, tâm hồn cho nghề nghiệp, phải tìm ra những giải pháp
tốt nhất phù hợp với điều kiện thực tế giảng dạy ở cơ sở, phải tạo cho học
sinh có nề nếp, thói quen làm việc theo nhóm.
Thầy tổ chức hoạt động tốt, trò học tốt, chắc chắn là hiệu quả của
một hoạt động thảo luận theo nhóm sẽ đạt được hiệu quả cao.
Hoạt động thảo luận nhóm được xem như là một phương pháp mới
mà thời gian thực hiện cũng chưa nhiều, do đó những gì mà bản thân tôi
tích luỹ được và trình bày trên đây cũng chỉ là kinh nghiệm bước đầu.
Trong thời gian tới bản thân sẽ tiếp tục hoàn thiện thêm và rất mong được
sự góp ý kiến của đồng nghiệp.
17
TÀI LIỆU THAM KHẢO :
Sách giáo khoa và sách giáo viên đòa lí trung học cơ sở.
Những ghi nhận từ các lớp tập huấn thay sách.