MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH LỚP 3 THÔNG QUA MÔN ĐẠO ĐỨC - Pdf 24

Sáng kiến kinh nghiệm Năm học : 2010 – 2011
ASỞ GD & ĐT TỈNH BÌNH DƯƠNG
PHÒNG GD & ĐT HUYỆN DẦU TIẾNG
TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỊNH HIỆP
TỔ KHỐI 3
***
ĐỀ TÀI :MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH LỚP 3 THƠNG QUA MƠN ĐẠO ĐỨC

Người thực hiện : PHẠM THỊ THANH
Năm học : 2010 – 2011
Người thực hiện : Phạm Thị Thanh Trang - 1 -
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học : 2010 – 2011
MỤC LỤC
I/ ĐẶT VẤN ĐỀ … ……………………………………………Trang 2
II/ CƠ SỞ LÍ LUẬN Trang 5
1. cơ sở lí luận Trang 5
2. cơ sở thực tiễn Trang7
3. nội dung vấn đề…………………………………………………Trang 8
III/ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Trang 9
IV/ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU………………………………………Trang 9
V/ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Trang 9
VI/ CÁC TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU………………… Trang 10
VII/ THỰC TRẠNG
1. Nhận định chung : ……………………………………………… Trang 10
2. Nguyên nhân…………………………………………………… Trang 10
VIII/MỘT SỐ BIỆN PHÁP…………………………………………….Trang 11
1. Nắm vững mục tiêu…………………………………………… Trang 11
2. Nắm vững quan điểm chung…………………………………… Trang 12
3. Các vấn đề lí luận……………………………………………… Trang 13
4. Nắm vững nội dung chương trình……………………………… Trang 18

trong việc hình thành nhân cách cho học sinh nhằm xây dựng và phát triển con
người làm chủ tương lai cho đất nước. Trong đó giáo dục đạo đức là một trong
những hoạt động giáo dục cơ bản nhất trong các bậc học của học sinh nhằm làm
cho nhân cách được phát triển đúng đắn, giúp học sinh có những nhận thức, ý
Người thực hiện: Phạm Thị Thanh Trang 3
Người thực hiện : Phạm Thị Thanh Trang - 3 -
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học : 2010 – 2011
thức tình cảm đạo đức, có những thói quen, hành vi ứng xử đúng mực trong các
mối quan hệ của cá nhân với xã hội, của cá nhân đối với mọi người xung quanh.
Giáo dục đạo đức là một bộ phận rất quan trọng của quá trình sư phạm, đặc
biệt là ở Tiểu học. Nó nhằm hình thành những cơ sở ban đầu về mặt đạo đức
cho học sinh, giúp các em ứng xử đúng đắn qua các mối quan hệ đạo đức hàng
ngày. Có thể nói, nhân cách của học sinh Tiểu học thể hiện trước hết qua bộ mặt
đạo đức. Điều này thể hiện qua thái độ cư xử đối với ông bà, cha mẹ, anh chị em
ruột trong gia đình, với thầy cô giáo, bạn bè qua thái độ với học tập, rèn luyện
hàng ngày. Vì vậy, giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học nói chung và học
sinh lớp 3 nói riêng giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Vì bậc Tiểu học là bậc học
nền tảng. Sự phát triển nhân cách bắt nguồn từ môi trường này. Các nề nếp, thói
quen, các cử chỉ hành vi đều được xây dựng từ đây.
Nói chung môn giáo dục đạo đức có vai trò và vị trí rất quan trọng trong
việc giáo dục thế hệ trẻ bậc Tiểu học không chỉ ở phần bồi dưỡng nhận thức về
chuẩn mực đạo đức xã hội, mà chủ yếu góp phần định hình và phát huy những
phẩm chất cần thiết của nhân cách con người với những hành vi cao đẹp đầy tính
nhân văn.
Tuy nhiên, hiện nay, việc giáo dục đạo đức trong nhà trường tiểu học gặp
nhiều trở ngại. Phương tiện nghe nhìn ngày càng phát triển làm cho trẻ dễ dàng
tiếp cận và từ đó làm cho các em dễ dàng tiếp nhận những điều xấu. Bên cạnh đó,
ở gia đình và xã hội có rất nhiều điều trái ngược với các nội dung đạo đức được
dạy học trong nhà trường. Những điều trái ngược này do người lớn thực hiện một
cách thường xuyên trực tiếp trước mắt các em. Đó là các ý thức như: giữ gìn vệ

Sáng kiến kinh nghiệm Năm học : 2010 – 2011
hỏi ngành giáo dục phải có sự thay đổi cho phù hợp với tình hình đất nước.
Và thực sự ngành giáo dục đã từng bước thay đổi, thể hiện qua việc xác định
mục đích giáo dục đào tạo, hay nói đúng hơn là phát triển toàn diện về nhân
cách con người thể hiện qua hai mặt là : “Tài và Đức”.
Dù ở xã hội nào thì cái đức vẫn luôn được coi trọng vì: Cái đức là gốc, cái
tài là sự biểu hiện của cái đức.
Vì vậy việc giáo dục cái đức cho học sinh là một yêu cầu quan trọng,
đang trở thành một vấn đề bức xúc mà xã hội quan tâm. Tình trạng này không
chỉ xuất hiện ngoài xã hội mà còn len lỏi vào trong cả trường học. Biểu hiện rõ
nhất là trong các lớp học vẫn còn có những học sinh chưa ngoan, yếu kém về
đạo đức. Cũng chính vì sự chưa ngoan đó mà dẫn đến tình trạng học lực yếu,
học lực kém, làm ảnh hưởng không ít đến những thành viên khác trong lớp học.
Là người làm công tác giáo dục có nhiệm vụ nâng đỡ và uốn nắn để giúp
học sinh có sự phát triển đúng đắn về nhân cách, về đạo đức nhằm giúp các em
có điều kiện gần gũi nhau, thường xuyên trao đổi động viên uốn nắn kịp thời
tiến bộ qua từng ngày.Mặt khác trong những năm qua những năm công tác tại
Trường Tiểu học Định Hiệp tôi luôn đề cao vấn đề giáo dục đạo đạo đức cho
học sinh .Với sự giáo dục đạo đức các em qua các môn học, giáo dục các em
thực hiện tốt nội qui, nề nếp của học sinh từng bước được thay đổi theo chiều
hướng tích cực hơn. Các em học sinh đã ngày càng ý thức hơn, chấp hành tốt
hơn các nội qui, qui định của nhà trường cũng như của giáo viên chủ nhiệm.
-Tuy nhiên vẫn còn một số học sinh chưa ngoan, thiếu ý thức, thiếu sự quan
tâm của cha mẹ, lại thường hay giao du với các phần tử xấu ngoài xã hội dẫn
đến việc các em thiếu lễ phép với người lớn, không vâng lới thầy cô, cha mẹ…
v v. Nhằm khắc phục tình trạng nêu trên tôi mạnh dạn chọn đề tài:
Người thực hiện: Phạm Thị Thanh Trang4
Người thực hiện : Phạm Thị Thanh Trang - 6 -
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học : 2010 – 2011
“Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức học cho học sinh

- Tính không ổn định của các hứng thú, nguyện vọng lúc thế này, lúc thế
khác.
2/Cơ sở thực tiễn:
-Đối với học sinh trong quá trình hình thành thì trường học chính là nơi các
em chính thức được học tập và rèn luyện một cách nghiêm túc nhất. Bước vào
trường học mỗi học sinh được tạo ra cơ hội để tiếp thu giáo dục, ý thức đầy đủ
về nghĩa vụ, trách nhiệm đối với toàn bộ các hoạt động học tập rèn luyện của
mình.
-Trong môi trường, mới các em tiếp thu và hình thành các quan hệ xã hội đa
dạng, nhất là với bạn bè xung quanh và được phát triển có định hướng rõ ràng.
Song, bên cạnh đó các em hầu như chưa thật sự nổ lực, phấn đấu để trở thành
người học sinh toàn diện, mà bên cạnh những cái hay, cái đẹp, vẫn còn tồn tại
những cái xấu, cái chưa hoàn hảo. Hay nói cách khác học sinh khá giỏi về học
lực, tốt về đạo đức rất nhiều nhưng học sinh yếu về học lực, có đạo đức chưa
tốt vẫn còn. Hầu như các em có đạo đức không tốt là những học sinh có hành vi
đạo đức xuất phát từ những động cơ xấu, không theo một chuẩn mực đạo đức
nào.
-Như đã nói ở trên, những học sinh cá biệt chưa ngoan có tầm hiểu biết hạn
chế những kinh nghiệm “xấu” trong cuộc sống hàng ngày lại rất phong phú, có
thái độ xung đột kéo dài đối với những người xung quanh. Các em thường lập
thành một nhóm riêng không thích hoà đồng với mọi người, dửng dưng trước
mọi hoạt động của lớp, của trường. Nhìn chung những học sinh này thường có
những hành vi không tốt với mọi người như: Quậy phá, chọc ghẹo bạn bè, hổn
Người thực hiện: Phạm Thị Thanh Trang 5
Người thực hiện : Phạm Thị Thanh Trang - 8 -
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học : 2010 – 2011
hào với thầy cô, thích nghỉ học, không tuân theo nội qui của trường, của lớp,
thậm chí đánh nhau với bạn bè…và còn rất nhiều những thói hư tật xấu khác.
-Theo tôi những hành động trên là những hành động có ý thức, nhưng do
nhận thức bị sai lệch. Vì thế trách nhiệm của người thầy không kém phần quan

-Đối với tập thể bạn bè: Các em này thường lôi kéo bạn bè tiêm nhiễm
những thói hư tật xấu của mình, gây ảnh hưởng lớn đến gia đình, nhà trường và
xã hội.
-Đối với giáo viên: Luôn phải bận tâm với những phần tử hư hỏng này, phải
luôn tìm ra biện pháp phù hợp để hướng thiện cho các em, nó còn gây ảnh
hưởng đến việc đánh giá xếp loại thi đua của giáo viên.
-Đối với bản thân: Các em này sẽ bị ảnh hưởng lớn đến việc học tập, sự tiến
thân của các em sau này.
III. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :
* Mục đích của đề tài nhằm:
- Tìm hiểu việc giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 3
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh
lớp 3.
IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU :
- Tìm hiểu vấn đề giáo dục đạo đức ở học sinh lớp 3/2
- Tìm hiểu thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 3/2 Trường Tiểu học
Định Hiệp.
- Tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng
Người thực hiện: Phạm Thị Thanh Trang 7
Người thực hiện : Phạm Thị Thanh Trang - 10 -
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học : 2010 – 2011
- Đề xuất một số biện pháp để nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học
sinh lớp 3/2.
V. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU :
1 Khách thể nghiên cứu là rèn luyện đạo đức cho học sinh lớp 3/2.
2 Đối tượng nghiên cứu: Việc giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 3/2.
VI. CÁC TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU :
Giáo dục tâm lý tiểu học nhà xuất bản giáo dục, Sách giáo khoa lớp 3, Đạo
đức và phương pháp Đạo đức ở Tiểu học(tài liệu đào tạo giáo viên Tiểu học
Liên thông từ trung học sư phạm lên Cao đẳng sư phạm nhà xuất bản Giáo dục).

3/2:
VIII. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC ĐẠO
ĐỨC CHO HỌC SINH LỚP 3 :
1. Nắm vững Mục tiêu giáo dục đạo đức lớp 3:
Ở tiểu học, cụ thể là ở lớp 3, quá trình giáo dục đạo đức nhằm giúp học sinh:
a/ Về nhận thức: Học sinh có hiểu biết ban đầu về một số chuẩn mực hành
vi đạo đức và pháp luật phù hợp với lứa tuổi học sinh lớp 3 trong các mối quan
hệ của các em với những người thân trong gia đình; với bạn bè, và công việc
của lớp; của trường; với Bác Hồ và những người có công với đất nước, với dân
tộc; với hàng xóm láng giềng; với thiếu nhi và khách quốc tế; với cây trồng, vật
nuôi và nguồn nước; với lời nói, việc làm của bản thân.
b/ Về kĩ năng, hành vi: Học sinh được từng bước hình thành kĩ năng bày tỏ
ý kiến, thái độ của bản thân đối với những quan niệm, hành vi, việc làm có liên
quan đến các chuẩn mực đã học; kĩ năng lựa chọn và thực hiện các hành vi
Người thực hiện: Phạm Thị Thanh Trang 9
Người thực hiện : Phạm Thị Thanh Trang - 12 -
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học : 2010 – 2011
ứng xử phù hợp chuẩn mực trong các tình huống đơn giản, cụ thể trong cuộc
sống.
c/ Về thái độ: Học sinh bước đầu hình thành thái độ trách nhiệm đối với lời
nói, việc làm của bản thân, tự tin vào khả năng của bản thân, yêu thương ông bà,
cha mẹ, anh chị em và bạn bè, biết ơn Bác Hồ và các thương binh liệt sĩ; quan
tâm, tôn trọng với mọi người, đoàn kết hữu nghị với thiếu nhi quốc tế; có ý thức
bảo vệ nguồn nước và cây trồng, vật nuôi.
2. Nắm vững Quan điểm chung về đổi mới phương pháp dạy học môn Đạo
đức ở lớp 3:
- Dạy học môn Đạo đức cần đi từ quyền trẻ em, từ lời ích của trẻ em đến trách
nhiệm, bổn phận của học sinh. Cách tiếp cận đó sẽ giúp cho việc dạy học Đạo
đức trở nên nhẹ nhàng, sinh động hơn, giúp cho học sinh lĩnh hội và thực hiện
hành vi tự giác hơn, tránh được tính chất nặng nề, áp đặt trước đây.

dụng kết hợp các phương pháp và hình thức dạy học hợp lí, đúng mức để giáo
dục đạo đức cho học sinh qua các bài đạo đức.
3. Các vấn đề lí luận về giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 3
Chương trình môn đạo đức ở lớp 3 bao gồm 14 bài phản ánh các chuẩn mực
hành vi đạo đức cần thiết, phù hợp với lứa tuổi trong các mối quan hệ của các
em với bản thân, gia đình, nhà trường, cộng đồng và môi trường tự nhiên. Ở mỗi
bài đạo đức đều phải thực hiện các nhiệm vụ và nội dung giáo dục đạo đức cho
học sinh như:
-Giáo dục ý thức đạo đức
Người thực hiện: Phạm Thị Thanh Trang 11
Người thực hiện : Phạm Thị Thanh Trang - 14 -
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học : 2010 – 2011
-Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức.
- Giáo dục hành vi, thói quen đạo đức.
a/ Giáo dục ý thức đạo đức:
Giáo dục ý thức đạo đức nhằm cung cấp cho học sinh những tri thức đạo đức
cơ bản, sơ đẳng về chuẩn mực hành vi, hình thành niềm tin đạo đức cho học
sinh. Các chuẩn mực hành vi này được xây dựng từ các phẩm chất đạo đức,
chúng phản ánh các mối quan hệ hàng ngày của các em. Đó là:
- Quan hệ cá nhân với xã hội: Kính yêu Bác Hồ, biết ơn thương binh liệt sĩ, yêu
quê hương, làng xóm, phố phường của mình Để từ đó HS yêu mến và tự hào
về trường, lớp, giữ gìn môi trường sống xung quanh nơi mình đang sống.
- Quan hệ cá nhân với công việc, lao động: Biết chăm chỉ, kiên trì, vượt khó
trong học tập, tích cực tham gia các công việc lao động khác nhau.
- Quan hệ cá nhân với những người xung quanh: Hiếu thảo đối với ông bà, cha
mẹ, quan tâm giúp đỡ anh chị em trong gia đình, tôn trọng, giúp đỡ, đoàn kết
với bạn bè, với thiếu nhi quốc tế, tôn trọng và giúp đỡ hàng xóm láng giềng
theo khả năng của mình.
- Quan hệ cá nhân với tài sản xã hội, tài sản của người khác: Tôn trọng và bảo
vệ tài sản của nhà trường, của nhà nước và của người khác

Tình cảm tích cực được hình thành dựa vào ý thức đúng đắn và được củng cố,
khẳng định qua hành vi, đồng thời có tác dụng thúc đẩy, tạo động cơ cho việc
nhận thức chuẩn mực, thực hiện hành vi đạo đức.
c/ Giáo dục hành vi, thói quen đạo đức:
Người thực hiện: Phạm Thị Thanh Trang 12
Người thực hiện : Phạm Thị Thanh Trang - 16 -
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học : 2010 – 2011
Giáo dục hành vi, thói quen đạo đức là tổ chức cho học sinh lặp đi, lặp lại
nhiều lần những thao tác, hành động đạo đức nhằm có đựơc hành vi đạo đức, từ
đó có thói quen đạo đức.
Môn đạo đức lớp 3 cần hình thành cho học sinh các hành vi, thói quen đạo đức
như:
- Giúp đỡ, chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh chị em trong gia đình.
- Hành vi lễ phép.
- Có những việc làm vừa sức để giúp đỡ bạn bè, hàng xóm láng giềng, những
thương binh, gia đình liệt sĩ
Ví dụ: Đối với hang xóm thì trông nhà giúp, chơi với em khi hàng xóm đi
vắng…
- Có những việc làm nhân đạo vừa sức đối với các gia đình thương binh liệt sĩ,
bà mẹ Việt Nam anh hùng, giúp đỡ những người gặp thiên tai, gặp khó
khăn
Ví dụ: Giúp đỡ gia đình thương binh liệt sĩ như quét dọn nhà cửa…
- Có những hành động, việc làm bảo vệ trường, lớp, tài sản công cộng, thiên
nhiên, nguồn nước, đồ đạc, tài sản của người khác
Ví dụ: Không chặt , bẻ cành ở công viên, trường học
- Cần giáo dục hành vi văn hoá cho học sinh: “đúng” về mặt đạo đức, “đẹp”
về mặt thẩm mĩ.
- Các nhiệm vụ trên đây có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và cần được giải
quyết đồng bộ thông qua:
d.Giáo dục kĩ năng sống:

Người thực hiện: Phạm Thị Thanh Trang 13
Người thực hiện : Phạm Thị Thanh Trang - 18 -
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học : 2010 – 2011
+ Giáo dục KNS cả một quá trình : nhận thức – hình thành thái độ - thay đổi
hành vi.
+ Kiên trì chờ đợi và tổ chức các hoạt động liên tục để HS duy trì hành vi
mới và có thói quen mới ; tạo động lực cho HS điều chỉnh hoặc thay đổi
giá trị, thái độ và thay đổi những hành vi trước đây, thích nghi hoặc chấp
nhận các giá trị hành vi mới. Tạo điều kiện cho HS tự tóm tắt những nhận
thức cho bản thân sau mỗi giờ học/ phần học.
+ Giáo dục KNS cho HS ở mọi nơi, mọi lúc, trong các giờ học, hoạt động lao
động, hoạt động đoàn thể - xã hội, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và
các giáo dục khác.
+ Việc giáo dục KNS trong môn Đạo đức nhằm bước đầu trang bị cho học
sinh những KNS cần thiết, phù hợp với lứa tuổi tuổi tiểu học, giúp các em
biết sống và ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ với người thân trong
gia đình, với thầy cô giáo, bạn bè và những người xung quanh; với cộng
đồng với quê hương, đất nước và với môi trường tự nhiên; giúp các em
bước đầu biết sống tích cực, chủ động, có mục đích, có kế hoạch, tự trọng,
tự tin, có kỉ luật, biết hợp tác, giản dị, tiết kiệm, gọn gàng, ngăn nắp, vệ
sinh… để trở thành con ngoan trong gia đình, HS tích cực của nhà trường
và công dân tốt của xã hội.
4. Nắm vững Nội dung chương trình môn đạo đức lớp 3:
Nội dung môn đạo đức kết hợp giữa giáo dục quyền trẻ em với giáo dục bổn
phận của học sinh.
- Kết hợp giáo dục quyền trẻ em được có gia đình, được cha mẹ yêu thương,
chăm sóc với giáo dục bổn phận của trẻ em phải quan tâm, chăm sóc ông bà, cha
mẹ, anh chị em (Bài 4 – Quan tâm, chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh chị em).
Người thực hiện: Phạm Thị Thanh Trang 14
Người thực hiện : Phạm Thị Thanh Trang - 19 -

nghiên cứu kĩ kế hoạch bài dạy, bài giảng để tổ chức tiết học một cách hợp lý.
Cách sử dụng đồ dùng dạy học đưa ra phải đúng lúc, đạt hiệu quả tốt. Nhất là
tiết lý thuyết thì phương pháp dạy phải khác với tiết thực hành. Tiết lý thuyết
khi giảng dạy giáo viên phải lưu ý đến hệ thống câu hỏi đàm thoại phải phù hợp,
phải logic để đúc rút ra được những bài học quý báu trong giờ đạo đức cho học
sinh cần học tập. Khác hẳn với tiết thực hành giáo viên phải hướng dẫn học sinh
thực hiện những hành vi đạo đức tốt vừa học được qua tiết lý thuyết bằng những
việc làm cụ thể vừa sức, vừa khả năng của học sinh: bằng nhiều việc làm khác
nhau, cũng như nhiều hình thức khác nhau.
Ví dụ : Khi dạy bài “Chăm sóc ông bà, cha mẹ” ở tiết lý thuyết giáo viên có
thể cho học sinh đàm thoại một số câu hỏi để học sinh hiểu được: Tại sao chúng
ta phải chăm sóc ông bà, cha mẹ? Chăm sóc ông bà, cha mẹ con phải làm gì?
Cho học sinh liên hệ bản thân mình đã chăm sóc ông bà, cha mẹ chưa? Nếu đã
chăm sóc thì con đã chăm sóc như thế nào? Trong nhiều trường hợp khác nhau
giáo viên phải lựa chọn cách giảng khác nhau cho các tổ nhóm sưu tầm câu
chuyện, tranh ảnh phục vụ bài giảng cùng giáo viên thì học sinh dễ nắm chắc
nội dung của bài mới. Giáo viên không phải giảng nhiều mà học sinh dễ hiểu.
* Còn tiết thực hành thì giáo viên hướng dẫn học sinh biết áp dụng những
kiến thức vừa học vào thực tế cuộc sống chăm sóc ông bà, cha mẹ như thế nào?
Kể cả lúc khoẻ mạnh, lúc đi chơi xa, đi công tác và nhất là lúc ốm đau, bệnh tật
bằng những việc làm cụ thể của mình qua việc “nhận diện hành vi đúng sai, qua
tranh ảnh”. “Cùng nhau tham gia giải quyết các tình huống”. (Qua các tiểu
phẩm do học sinh tự đóng) hoặc các tình huống các em có thể gặp trong sinh
hoạt hàng ngày. Giúp các em có những đối xử đúng mực bộc lộ được tình cảm
Người thực hiện : Phạm Thị Thanh Trang - 21 -
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học : 2010 – 2011
đạo đức, hành vi đạo đức của mình đối với ông bà cha mẹ người đã sinh ra
và nuôi dưỡng mình.
Ví dụ : Dạy bài: “Chăm làm việc trường, việc lớp” qua câu chuyện: “Chiếc
khăn trải bàn” giúp các em thấy được: Bạn Lan được cô giáo phân công mang

1 Khám phá
- Cho học sinh hát tập thể bài hát: “Cả
nhà thương nhau”, nhạc và lời : Phan
Văn Minh.
-Các em vừa hát bài gì?
- Bài hát nói lên điều gì?
- Gia đình em có bao nhiêu người? Đó
là những ai?
- Mỗi em hãy nêu một biểu hiện về sự
quan tâm , chăm sóc của ông bà, cha
mẹ dành cho mình.
- Giáo viên giới thiệu bài: Bài hát nói
về tình cảm giữa cha mẹ, và con cái
trong gia đình. Vậy chúng ta cần phải
cư xử đối với những người thân trong
gia đình như thế nào? Trong tiết đạo
đức hôm nay chúng ta sẽ cùng tìm hiểu
về điều đó.
2. Kết nối:
Mục tiêu:
HS biết được bổn phận phải quan
tâm,chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh chị
em.
Hoạt động 1: Kể chuyện “Bó hoa đẹp
nhất”.
- HS hát tập thể
1-2 HS trả lời
-Bài hát nói lên tình cảm yêu
thương giữa những người thân trong
gia đình.

đến sinh nhật của mẹ mà chính bản
thân mẹ quên mất sinh nhật mình,
chị em Ly đã biết quan tâm, chăm
sóc đến mẹ khiến mẹ rất vui và
hạnh phúc.
- Cả lớp trao đổi bổ sung.
- 2-3 HS trả lời.
+ Con cháu có bổn phận phải quan
tâm, chăm sóc ông bà,cha mẹ và
những người thân trong gia đình.
+ Sự quan tâm, chăm sóc của các
em sẽ mạng lại niềm vui, hạnh phúc
cho ông bà, cha mẹ và mọi người
trong gia đình.
Người thực hiện : Phạm Thị Thanh Trang - 24 -
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học : 2010 – 2011
- GV nhận xét lại.
2. Thực hành:
Hoạt động 1: HS kể về sự quan tâm,
chăm sóc của ông bà, cha mẹ dành cho
mình.
Mục tiêu: HS cảm nhận chia sẻ được
Tình cảm, sữ quan tâm, chăm sóc của
ông bà, cha mẹ dành cho mình. Bước
đầu biết và hiểu được ý nghĩa, giá trị
của cuộc sống có sữ quan tâm, chăm
sóc của ông bà cha mẹ trong gia đình.
*Gia đình em gồm những ai?
- Giáo viên yêu cầu HS làm việc
nhóm đôi theo yêu cầu sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status