Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TRẦN THỊ HÀ PHƢƠNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ ẨM
ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CẤU TRÚC NĂNG SUẤT PHẦN TRÊN
VÀ PHẦN DƯỚI ĐẤT CỦA CỎ VOI (PENNISETUM PURPUREUM)
TẠI BÁ VÂN - THỊ XÃ SÔNG CÔNG - TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60.42.01.20 LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Hoàng Chung
THÁI NGUYÊN - 2014
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể gia đình, bạn bè
đã luôn tạo điều kiện, động viên cổ vũ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn
thành luận văn.
Trong quá trình thực hiện luận văn do còn hạn chế về thời gian, kinh phí
cũng như trình độ chuyên môn nên không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong
nhận được ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, bạn
bè và đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 14 tháng 04 năm 2014
Tác giả Trần Thị Hà Phƣơng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ii
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục i
Danh mục các từ viết tắt ii
Danh mục bảng biểu iii
Danh mục các hình iv
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.2.2. Giao thông, thủy lợi 39
Chƣơng 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 40
3.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 40
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 40
3.1.2. Địa điểm nghiên cứu 40
3.1.3. Thời gian nghiên cứu 40
3.2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu 40
3.2.1. Nội dung nghiên cứu 40
3.2.2. Phương pháp nghiên cứu 40
Chƣơng 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47
4.1. Tính chất lý, hóa học của đất trồng cỏ 47
4.2. Năng suất và cấu trúc năng suất phần trên mặt đất 50
4.2.1. Thí nghiệm trồng cỏ và tưới nước 50
4.2.2. Năng suất và biến động mùa của cỏ voi 52
4.2.3. Cấu trúc năng suất phần trên mặt đất của cỏ voi 57
4.3. Năng suất phần dưới mặt đất của cỏ voi 60
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
iv
4.4. Ảnh hưởng của độ ẩm đến năng suất và cấu trúc năng suất phần trên
và dưới mặt đất của cỏ voi 63
4.4.1. Ảnh hưởng của độ ẩm đất đến năng suất và cấu trúc năng suất phần
rên mặt đất của cỏ voi 63
4.4.2. Ảnh hưởng của độ ẩm đất đến năng suất phần dưới mặt đất của cỏ
voi 63
4.5. Đề xuất biện pháp tác động 66
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Tiêu chuẩn Việt Nam
5
TN
Thí nghiệm
6
TS
Tổng số
7
VCK
Vật chất khô Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
iii
2
đất/lứa) với khối lượng cỏ
(kg/m
2
/lứa) 60
Bảng 4.8. Năng suất phần dưới mặt đất của cỏ voi (không có thân rễ) 61
Bảng 4.9. Ảnh hưởng của độ ẩm đến năng suất của cả 2 phần trên và
dưới mặt đất (năm thứ 3) 64
Bảng 4.10. Ảnh hưởng của độ ẩm đến năng suất của cả 2 phần trên và
dưới đất tại lứa cắt thứ 2 64
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
iv DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1. Hình vẽ mô tả phương pháp lấy khối đất rửa lấy rễ 45
Hình 4.1. Biểu đồ năng suất tươi phần trên mặt đất của cỏ voi tại ô TN
và ĐC 54
Hình 4.2. Biểu đồ năng suất khô phần trên mặt đất của cỏ voi tại ô TN
và ĐC 55
Hình 4.3. Biểu đồ năng suất tươi phần dưới mặt đất của cỏ voi 62
điều kiện khí hậu nước ta. Một trong số đó phải kể đến là giống cỏ voi.
Thái Nguyên là tỉnh trung du miền núi phía Bắc với ngành chăn nuôi khá
phát triển, có trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi – Viện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2
chăn nuôi, còn gọi là Trại ngựa Bá Vân nằm ở thị xã Sông Công. Trại ngựa Bá
Vân- Thái Nguyên là trung tâm nghiên cứu và phát triển giống vật nuôi, nơi đã
và đang cung cấp không những cỏ voi mà còn nhiều giống cỏ trồng cho nông
dân trong và ngoài tỉnh dễ trồng, có năng suất cao. Nơi đây có hệ sinh thái phù
hợp cho việc trồng cỏ, đặc biệt chủ yếu là cỏ voi để cung cấp thức ăn cho gia
súc, phù hợp cho chăn nuôi ngựa và trâu bò. Để cỏ trồng đạt năng suất cao,
chất lượng tốt khắc phục được tình trạng thiếu thức ăn cho gia súc đặc biệt
trong mùa khô, cần phải chú ý đến các biện pháp, kĩ thuật chăm sóc hợp lí,
cung cấp các yếu tố thuận lợi cho sinh trưởng phát triển của cỏ để đạt năng suất
cao: yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, đất…Trong đó yếu tố độ ẩm có ảnh
hưởng mạnh mẽ tới năng suất và cấu trúc năng suất của cỏ voi.
Xuất phát từ những lý do trên tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu ảnh
hưởng của độ ẩm đến năng suất và cấu trúc năng suất phần trên và phần
dưới đất của cỏ voi tại Bá Vân - thị xã Sông Công - Tỉnh Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đến năng suất và cấu trúc năng suất
phần trên và phần dưới đất của cỏ voi tại trại ngựa Bá Vân nhằm điều chỉnh độ
ẩm, cung cấp độ ẩm thích hợp cho các giai đoạn sinh trưởng và phát triển giúp
nâng cao năng suất và cấu trúc năng suất của cỏ voi tại trại ngựa Bá Vân.
những rất cần thiết mà còn có tỉ lệ thích hợp với nhu cầu sinh lý của trâu bò. Ví
dụ: Nếu tỉ lệ đường – đạm thích hợp nhất cho khẩu phần thức ăn của bò sữa là
1:1 thì tỉ lệ đó trong cỏ non thay đổi từ 1:1 đến 1,4:1 [2]. Cỏ còn là loại cây
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
4
thức ăn dễ sản xuất, có năng suất cao và tương đối ổn định, là nguồn nguyên
liệu rẻ tiền góp phần làm giảm giá thành sản phẩm chăn nuôi, chưa kể ưu thế
của các giống cỏ lâu năm thường chỉ cần gieo trồng 1 năm mà sử dụng được
nhiều năm. Ví dụ: Giá thành cho 1kg cỏ Mộc Châu và cỏ lông Para trong 3 năm
sử dụng là 0,037 và 0,035 đồng [10].
Họ hòa thảo quan trọng vì phân bố rộng rãi; chiếm tỉ lệ cao trong số thực
vật trên đồng cỏ; có giá trị dinh dưỡng cao, nhất là lượng hydrocacbon và đặc
biệt là các chất dinh dưỡng được bảo tồn, ít hao hụt khi thu hoạch. Các cây họ
đậu tuy chiếm tỉ lệ ít hơn trong số cây làm thức ăn gia súc nhưng có vai trò
quan trọng vì có giá trị dinh dưỡng cao, nhất là hàm lượng protein và khoáng,
thích hợp cho việc chế biến thức ăn tinh bổ sung.
Ở bãi cỏ tự nhiên với điều kiện thổ nhưỡng tốt thì 1kg cỏ tương ứng cung
cấp được 16g protein tiêu hóa và 32g lipit; 8kg loại cỏ này tương đương 1 đơn
vị thức ăn [24]
Theo Meilroy (1972) cần chọn cỏ để làm thức ăn gia súc là khi thu hoạch
dưới dạng này hay dạng khác phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Cỏ phải có khả năng tái sinh mầm chồi còn lại sau mỗi lần thu hoạch.
- Các tế bào sinh trưởng phải tập trung phần lớn ở các gốc, là các nơi thu
hoạch ít bị ảnh hưởng tới.
- Cần sinh trưởng liên tục với khả năng chịu lạnh và chịu hạn cao.
- Cần có thân ngầm để tạo điều kiện phát triển cả trên và dưới mặt đất.
- Có hệ thống rễ phát triển để cho phép chịu đựng sự thu hoạch và đảm
bảo lấy được dinh dưỡng đã được giải phóng hay phân hủy từ dưới.
(vĩnh viễn hay tạm thời) còn những đất đai sử dụng để chăn thả súc vật (có
người đề nghị là chăn dắt) chủ yếu dựa vào cỏ tự nhiên thì gọi là bãi
chăn…Theo Hoàng Chung (2006) [8]: Đồng cỏ là các sinh địa quần lạc, thảm
thực vật của nó được đặc trưng bởi các quần xã cỏ với độ khép tán lớn hay nhỏ
và chủ yếu là cỏ trung sinh nhiều năm, đôi khi là cỏ ẩm sinh, có sự ngừng sinh
trưởng vào mùa đông, thường mùa hè không biểu thị sự giảm sút rõ rệt, đất đa
dạng về độ ẩm, độ phì và hàm lượng muối.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
6
Trong chăn nuôi, với 2 hệ thống nuôi dưỡng: Thứ nhất là dựa vào thức
ăn tinh (trên 40% nhu cầu dinh dưỡng được thỏa mãn bằng thức ăn tinh), thứ 2
là dựa vào thức ăn thô (trên 60% nhu cầu dinh dưỡng được thỏa mãn bằng thức
ăn thô) thì hệ thống thứ 2 được đặc biệt chút ý nhất là ở các nước có khả năng
phát triển đồng cỏ, ở những nước này việc sử dụng đồng cỏ không chỉ để chăn
thả mà còn cung cấp thức ăn xanh và dự trữ cho đàn gia súc nuôi nhốt. Tại Úc,
sản phẩm chăn thả tới 50% sản phẩm xuất khẩu, tỉ lệ này còn cao hơn: 90% ở
Tân Tây Lan (Thái Đình Dũng, Đặng Thị Liệu, 1979) [10]. Theo Davies (1960)
[31] đồng cỏ tự nhiên cung cấp gần một phần hai gia súc chăn thả, tạo ra một
phần ba lượng thịt và một phần 6 sản lượng sữa trên thế giới.
Cuộc cách mạng đồng cỏ vùng nhiệt đới và á nhiệt đới triển khai ở Châu
Đại Dương bắt đầu từ thế kỉ XIX.
Ở các nước nhiệt đới, khả năng phát triển đồng cỏ là rất lớn nếu được sử
dụng một cách hợp lý, có thể cung cấp protein động vật không những cho vùng
nhiệt đới mà cả vùng lân cận.
Sau cuộc “Cách mạng về thức ăn gia súc” ở Tây Âu mà đặc biệt là ở Anh
đã tạo điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi phát triển, đồng cỏ ngày càng được
chú ý và sử dụng đúng với vai trò của nó. Nếu như trước kia ở Pháp (1942) chỉ
có 4 triệu ha trồng cỏ và 15 triệu ha ngũ cốc thì hiện nay tỉ số ấy đã thay đổi: 12
giống cỏ có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao đã được chú trọng, nhiều loài
cỏ như: Cỏ voi, cỏ Ghinê, cỏ Bermuda, cỏ Pangola…đã được sử dụng ở nhiều
nước trên thế giới. Lai tạo những giống có mới có năng suất và giá trị dinh
dưỡng cao như Coastcross (cỏ Bermuda lai), cỏ Ghinê từ một loài đã tạo ra
nhiều giống mới, cỏ voi cũng vậy…Đây là thành tựu khoa học đáng kể để góp
phần giải quyết thức ăn gia súc ngày càng phát triển không chỉ về số lượng mà
còn cả về chất lượng.
Trên thế giới, ở các nước có nền chăn nuôi đại gia súc phát triển như:
Úc, Mĩ, Braxin…vấn đề thức ăn chăn nuôi rất được quan tâm và đầu tư nghiên
cứu. Tại vùng đồi núi Đông Nam Á, chăn nuôi là một bộ phận quan trọng trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
8
hệ thống sản xuất, nên cũng được chú trọng quan tâm, đầu tư, nghiên cứu vấn
đề này.
Tác giả T. Kanno và M.C.C. Macedo, 2001 [55] đã tiến hành thí nghiệm
gieo hạt của các cỏ Brachiaria decumbens, B.brizantha, B.dictyoneura,
B.humidicola, Andropongon gayanus, Setaria anceps và Paspalum atratum vào
đầu mùa mưa tại các cánh đồng ở khu vực đầm lầy. Các tác giả thấy rằng
không có loài nào có thể sống sót tại mùa mưa ở khu vực đất lầy. Còn khi gieo
hạt vào giữa mùa mưa thì chỉ còn một lượng nhỏ cây giống con còn tồn tại vào
cuối mùa mưa, tuy nhiên cũng không thể sống sót cho đến hết mùa mưa.
Những kết quả chỉ rõ rằng gia đoạn cây con phù hợp nhất ở khu vực đầm lầy là
bắt đầu của mùa thu, khi đất trở nên cứng có thể sử dụng được máy kéo.
Theo John W.Miles, 2004 [43] chi Brachiaria là giống lớn được sử dụng
làm thức ăn cho vật nuôi vùng nhiệt đới châu Mĩ.
Ở Trung Quốc trong quá trình nghiên cứu đã xác định được các giống cỏ
Stylo, Brachiaria, Pennisetum…sử dụng có hiệu quả cho gia súc. Hàng năm
còn sản xuất 20,5 tấn hạt cỏ cung cấp trong và ngoài nước (Thông tin khoa học
Ở Philippin, với 90% gia súc nhai lại nuôi tại vườn nhà hoặc ở các trang
trại nhỏ được trồng các giống cỏ Stylo 1964, Panicum maxinum, Paspalum
atratum… đều phát triển tốt cung cấp nguồn thức ăn cho gia súc. Ngoài ra các
giống cỏ trên còn được trồng theo đường đồng mức ở đất để cải tạo đất trống
đồi núi trọc, trồng dưới tán cây ăn quả. Hàng năm còn sản xuất được trên 1 tán
hạt cỏ (E.F.Latinh, F.Gagunda, 1995).
Một số nước khác như Malaysia, Lào…cũng chú trọng đầu tư phát triển
cây thức ăn cho gia súc từ những năm 1985. Cho đến nay một số giống cỏ hòa
thảo và cỏ họ đậu được chọn lọc, đang phát huy hiệu quả cao trong sản xuất.
Hằng năm sản xuất được 2 - 3 tấn hạt cỏ các loại. Như vậy, phong trào trồng
cây thức ăn xanh để chăn nuôi gia súc đang được nhiều nước quan tâm, nó thực
sự là động lực thúc đẩy ngành chăn nuôi đại gia súc phát triển. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
10
1.1.1.3. Những kết quả nghiên cứu về nâng cao năng suất cây thức ăn gia
súc trên thế giới
Trên thế giới hiện nay ngoài việc chuyển tạo, lai tạo, di nhập các giống
cỏ tốt từ vùng này sang vùng khác, người ta còn tập trung giải quyết vấn đề
năng suất, chất lượng cỏ.
Tại Peurertorico, Vieente – Chandler Silva và Figarella (1959) [56]
thông báo năng suất giống Panicum maximum Cv Makueni đạt 26.846kg
VCK/ha với mức bón 440kg đạm/ha và cứ 40 ngày cắt 1 lần khi trồng cỏ. Thí
nghiệm cắt hằng năm cho năng suất chất khô đạt 36.700kg/ha, kết quả này cao
hơn so với cỏ Pangola (Digitaria decumbens), Para (Brachiaria mutica) và
Ghinê (Panacium maximum) (Barnard, 1969) [36].
Tại Samford, Queensland năng suất hàng năm của giống Paspalum
dilatatum là 15.000kg VCK (Davies J.G, 1970) [41].
Brachiaria mutica
Cỏ lông Para
9 – 15
6 – 10
Digitaria decumbens
Pangola
15 – 20
7 – 11
Paspalum atratum
Cỏ Đắng
18 – 25
6 – 7
Paspalum Plicatulum
6 - 10
5 - 6
(Nguồn: Division of Animal Nutrition, Anon, 2000 [34])
Trong đó có giống cỏ đắng Paspalum atratum và Paspalum plicatulum là
những loài cỏ cho sản lượng hạt giống lớn, có thể lên tới 600kg. Do vậy hai
giống này đã được phân bố rộng rãi ở Thái Lan.
Theo M.D Hare và cộng sự [45] cho biết các cỏ Brachiaria mutica và
Paspalum atratum khi không có cây bộ đậu và dưới điều kiện cằn cỗi, nằm
thấp, đất khô ở vùng tây bắc Thái Lan phát triển tốt ở năm đầu, sản xuất trung
bình là 20 tạ/ha VCK. Không có sự sai khác có ý nghĩa về sản lượng giữa hai
loài và không khác nhau về sản lượng giữa khoảng cách thu cắt 45 ngày và 65
ngày ở mùa mưa đầu tiên. Còn mùa mưa thứ hai Paspalum atratum sản xuất 30
tạ/ha VCK lớn hơn 10 tạ/ha so với B.Mutica.
Tại trung tâm nghiên cứu nuôi dưỡng động vật tỉnh Petchaburi (Thái
Lan) cỏ Ghinê tía được trồng và cắt 30 ngày một lần, với mật độ trồng là 50 x
50cm và được bón phân hỗn hợp (15 – 15 – 15) trước khi trồng ở mức
3,7
(Nguồn: Animal Report on Animal Nutrition Division, 2000, [33])
1.1.2. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam
1.1.2.1. Tình hình phát triển
Việt Nam là nước nông nghiệp, từ lâu chúng ta đã có nhiều cố gắng mở
rộng diện tích gieo trồng, vừa đảm bào lương thực cho người dân vừa đảm bảo
thức ăn cho gia súc. Từ năm 1960, chúng ta đã có chủ trương phát triển đồng
cỏ cho trâu bò ở những vùng thiếu cỏ. Năm 1960 ở miền Bắc chỉ có 96ha trồng
cỏ thì tới năm 1961 và 1962 diện tích trồng cỏ đã tăng lên 323ha và 687ha.
Năm 1963, theo số liệu ở 6 tỉnh đồng bằng, diện tích trồng cỏ và ngô đay làm
thức ăn cho trâu bò đã đạt tới 3.585 mẫu Bắc bộ (Thái Đình Dũng, Đặng Thị
Liệu, 1979) [10].
Nước ta đã nhập nhiều đợt các giống cỏ đậu và cỏ hòa thảo nhiệt đới
(chủ yếu từ Australia và Cuba) và đã tiến hành trồng thí nghiệm ở một số địa
phương. Một số giống đã được đưa vào sản xuất như cỏ Pangola (Digitaria
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
13
decumbes), cỏ đậu Stylo (Stylosanthes)…Nhiều nông trường và hợp tác xã
cũng đã trồng cỏ Voi, cỏ Xu đăng, cỏ Pangola…Kết quả thu hoạch các loại cỏ
đó cho biết, nếu mỗi năm cắt được 3 – 4 lứa thì có thể đạt năng suất 50 – 60
tấn/ha, trồng qua 3 – 4 năm cỏ vẫn phát triển tốt (Đoàn Ân, Võ Văn Trị, 1976)
[2].
Trong thời gian khoảng hơn 20 năm trở lại đây, thông qua các hoạt động
hợp tác Quốc tế và từ nhiều nguồn khác nhau chúng ta đã nhập trên 100 giống
cây thức ăn hòa thảo và cây họ đậu có nguồn gốc nhiệt đới (CSIRO, HIAT,
Philippin, Indonesia, Thailand) nhằm tăng khả năng sản xuất thức ăn xanh cho
chăn nuôi, cụ thể như:
Năm 1990 chương trình bò thịt VIE86/008 nhập 17 giống cây thức ăn họ
thấy năng suất tỉ lệ thuận với lượng phân bón Nitơ.
Lê Hòa Bình và cộng sự ,1992 [4] khảo sát năng suất cây thức ăn mới
nhập nội ở một số vùng và ứng dụng trong hộ chăn nuôi đã cho kết quả như
trình bày ở bảng 1.3.
Bảng 1.3. Năng suất của các giống cỏ hòa thảo (tấn/ha/năm)
STT
Tên giống
Long Mỹ
Sơn Thành
Ba Vì
Thụy Phƣơng
Xanh
VCK
Xanh
VCK
Xanh
VCK
Xanh
VCK
1
Panicum
maximum
Hamil
56,91
9,73
92,9
17,6
86,3
16,5
90,5
11,92
77,1
15,1
60,8
12,4
108
19,4
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
15
5
Pennisetum
King grass
119
19,02
-
-
170,1
22,3
207
23,6
6
Pennisetum
purpureum
99,73
16,95
176
22,9
169,5
72,6
13,7
56,7
11,2
73,8
11,8
(Nguồn: Lê Hòa Bình, Nguyễn Ngọc Hà và CTV, 1992)
- Tại Long An giống Makueni và Hamil cho năng suất chất xanh đạt
56.959,9 tấn/ ha tương ứng với 9,7 – 11,9 tấn VCK.
- Tại Sơn Thành: Giống Hamil lại cho năng suất cao hơn cả, đạt 92,9 tấn
chất xanh tương ứng 17,6 tấn VCK/ha/năm.
- Tại Ba Vì hai giống Ghinê là Liconi và Hamil có năng suất tốt hơn
trong đó nổi bật là Liconi. Năng suất chất xanh đạt 99,96 tấn tương đương
18,93 tấn VCK/ha/năm.
Như vậy trong cùng một giống cỏ nhưng năng suất có sự khác biệt giữa
các vùng khá lớn do ảnh hưởng của khí hậu, đất đai và các yếu tố khác.
Lê Hòa Bình, Nguyễn Phúc Tiến, Hồ Văn Núng, Đặng Đình Hanh, 1997
[5] đã nghiên cứu giống cỏ Para, các tác giả cho biết cỏ Para có năng suất 89 –
98 tấn/ha với khối lượng xanh thu trong mùa đông 35 – 45 tấn/ha tương đương
39 – 47% khi trồng trên đất có độ ẩm cao và có ngập nước.
Nguyễn Tuấn Hảo, 1999 đã trồng thử nghiệm một số loài cây thức ăn gia
súc nhập nội và cải tạo đất, trong đó các tác giả đưa vào nghiên cứu 24 loại cây
họ đậu và 18 loài hòa thảo nhằm mục đích tìm ra một số cây vừa làm thức ăn
gia súc, vừa có tác dụng chống xói mòn và cải tạo đất, phù hợp với khí hậu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
16
vùng trung du Bắc Bộ. Trong các loài thử nghiệm tác giả đã kết luận ưu điểm
của các giống cỏ Brachiria brizantha CIAT 16835 và cỏ Brachiria ruziensis ex.
tốc độ sinh trưởng cao nhất (1,82 và 1,70cm/ngày).