Tiểu luận TN - TCCT.HC - Thực hiện chính sách xã hội ở xã phường thị trấn - Pdf 23

Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang Lớp TCCT HC ngành GD Sơn Động
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết, công cuộc đổi mới đất nước thực chất là một quá
trình nhận thức đúng đắn hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với
thực tiễn Việt Nam. Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm về bản chất chế độ xã hội
chủ nghĩa, là thực hiện mong muốn “Đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai
cũng được học hành”.
Thực hiện lời di huấn của người: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công
bằng. Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”. Do vậy, chính sách xã hội
giữ vai trò rất quan trọng không thể thiếu trong hệ thống chính sách của Đảng và
Nhà nước ta. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội khẳng định: “Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con người là động
lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội”.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng các chính sách xã hội vì
mục tiêu làm cho “Dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh”,
bản thân là một cán bộ đảng viên, một công dân đang sống trong chế độ xã hội
chủ nghĩa, được hưởng thụ những chính sách của Đảng và Nhà nước. Tôi rất
vinh dự và tự hào vì Đảng ta đã đề ra các chủ trương, chính sách đúng đắn, phù
hợp với điều kiện xã hội qua các thời kỳ.
Đặc biệt trong giai đoạn cách mạng hiện nay, đòi hỏi Đảng phải đề ra các
chính sách xã hội đúng và phù hợp với thực tế. Bởi vì, thực tiễn cho thấy trong
quá trình triển khai thực hiện một số chính sách xã hội như chính sách người có
công, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm còn gặp nhiều khó khăn và bất
cập là thực trạng chung đòi hỏi Đảng và Nhà nước cũng như mỗi cán bộ đảng
viên cần quan tâm nhiều hơn nữa đến chính sách xã hội.
Xã Long Sơn là một đơn vị xa trung tâm huyện. Việc thực hiện các chính
sách xã hội ở xã Long Sơn trong những năm gần đây, tuy có nhiều tiến bộ và kết
quả đáng kể song vẫn gặp không ít khó khăn, một số chính sách xã hội trở thành
Hoàng Dũng Trường TH Long Sơn

2
Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang Lớp TCCT HC ngành GD Sơn Động
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tiểu luận gồm 3 phần lớn sau:
I. Cơ sở lý luận về chính sách xã hội
II. Thực trạng việc chấp hành và thực hiện chính sách xã hội ở xã Long
Sơn, huyện Sơn Động trong giai đoạn hiện nay.
III. Phương hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần thực hiện tốt
chính sách xã hội ở xã Long Sơn, huyện Sơn Động trong giai đoạn tới.
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội là một bộ phận hữu cơ và giữ
vị trí vai trò đặc biệt trong hệ thống cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh là nhà
chính trị lỗi lạc của dân tộc Việt Nam, nhà lý luận thiên tài của cách mạng nước
ta. Trong tư tưởng của Người, chính sách xã hội là xây dựng nước Việt Nam
thống nhất, độc lập và hòa bình.
Ngay sau khi cách mạng tháng tám thành công, mặc dù chính quyền cách
mạng đang ở trong tình thế “ngàn cân treo sợ tóc” Người đã chủ trương đặt
những vấn đề chính sách xã hội gắn liền với chính sách kinh tế lên hàng đầu
thậm chí còn đặt cao hơn cả nhiệm vụ chống ngoại xâm.
Sau này Bác lại nhấn mạnh: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải
hết sức chăm nom đến đới sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ
có lỗi, nếu dân ốm Đảng và chính phủ có lỗi, nếu dân dốt Đảng và Chính phủ có
lỗi”. Rõ ràng ở đây chính sách xã hội không còn là một sự ban ơn, càng không
phải là thủ đoạn chính trị mị dân, mà là trách nhiệm hàng đầu của Đảng cầm
quyền và Nhà nước trong chế độ mới.
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, trong những thập niên qua, Đảng và
Nhà nước ta đã thực hiện nhiều chính sách xã hội quan trọng hướng tới quần
Hoàng Dũng Trường TH Long Sơn
3

động lẫn nhau. Trong mối quan hệ này, những mục tiêu xã hội trở thành mục tiêu
động lực của các hoạt động kinh tế. Ngược lại, sự phát triển kinh tế là tiền đề và
Hoàng Dũng Trường TH Long Sơn
4
Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang Lớp TCCT HC ngành GD Sơn Động
điều kiện vật chất cho việc thực hiện các mục tiêu xã hội. Văn kiện Đại hội Đảng
toàn quôc lần thứ VI đã khẳng định: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến
bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát
triển”. Trên một tinh thần như thế chính sách xã hộ cần phải được đặt vào vị trí
trung tâm trong mọi hoạt động chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta. Điều đáng chú
ý là chính sách xã hội không được lạc hậu hơn so với sự phát triển kinh tế. Mặt
khác phải khắc phục xu hướng phát triển kinh tế đơn thuần, chỉ thuần túy vì mục
tiêu lợi nhuận, bất chấp những nhu cầu đòi hỏi và những mục tiêu xã hội khác.
Văn hóa, khoa học, giáo dục đào tạo là những lĩnh vực cần có chính sách
cụ thể riêng, nhưng có mối quan hệ gắn bó mật thiết với lĩnh vực kinh tế. Trong
thời đại khoa học công nghệ và giao lưu văn hóa- xã hội rộng rãi như hiện nay,
muốn có nhịp điệu phát triển kinh tế cao cần phải có sự phát triển tương xứng về
trình độ văn hóa, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ. Phát triển khoa học
giáo dục và đào tạo chính là phát triển nguồn lực của mọi nguồn lực. Đầu tư vào
lĩnh vực này chính là đầu tư cho sự phát triển kinh tế. Đó là đầu tư cơ bản tất yếu
“có lãi” một cách lâu bền nhất. Tất nhiên trong khi cần thiết phải phổ cập tiểu
học, trung học co sở, trẻ mầm non 5 tuổi cho toàn xã hội, tạo ra mặt bằng dân trí
tương đối đồng đều giữa các vùng miền trong nhân dân.
Chính trị xã hội về văn hóa- khoa học- giáo dục đào tạo gắn bó chặt chẽ
với tất cả các lĩnh vực kinh tế- xã hội. Tuy nhiên trong khi đưa ra hệ thống chính
sách xã hội nhằm tranh thủ thời cơ, đi tắt đón đầu sự phát triển khoa học và công
nghệ hiện đại của thế giới, thì điều quan trọng cũng phải tính đến những đặc
trưng, đặc điểm của dân tộc. Cần tranh thủ vận dụng chớp mọi cơ may, mở rộng
hợp tác, mạnh dạn trong hội nhập, hòa nhập thích nghi một cách nhạy cảm với
thời cuộc song phải quan tâm đến việc giữ gìn bản sắc dân tộc. Trong việc giải

dàn trải mà phải tập trung ưu tiên vào một số những vấn đề xã hội có tính chiến
lược cũng như những vấn đề xã hội cấp bách nổi trội lên trong mỗi giai đoạn.
Việc nghiên cứu, khảo sát, xác định và lựa chọn cho trúng các chính sách
xã hội cấp bách hàng đầu thích ứng với từng thời kỳ, từng lĩnh vực, từng nhóm
xã hội trong sự thống nhất biện chứng với các chính sách cơ bản khác là vấn đề
có ý nghĩa chiến lược cho cả một thời kỳ lâu dài, là một nhiệm vụ hết sức khó
khăn, phức tạp, đòi hỏi Đảng, Nhà nước ta phải đầu tư và tập trung xây dựng
một cách đúng đắn.
Hoàng Dũng Trường TH Long Sơn
6
Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang Lớp TCCT HC ngành GD Sơn Động
Bốn là; Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả
lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối dựa trên mức đóng
góp các nguồn lực khác vào kết quả sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua
phúc lợi xã hội, đi đôi với chính sách điều tiết hợp lý, bảo hộ quyền lợi của
người lao động. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho việc làm giàu hợp
pháp, đồng thời quan tâm một cách thích đáng tới người nghèo, rủi ro, người gặp
khó khăn. Làm tốt công tác đền ơn đáp nghĩa với người có công với cách mạng
cũng như phát huy truyền thống uống nước nhơ nguồn, thủy chung, nhân nghĩa
của dân tộc. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định: “Kết hợp
các mục tiêu kinh tế với mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực,
địa phương; thực hiện tiến bộ công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng
chính sách phát triển, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển
kinh tế, gắn quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ, tạo động lực mạnh
mẽ và bền vững hơn cho cho phát triển kinh tế- xã hội. Tập trung giải quyết
những vấn đề xã hội bưc xúc ”.
3. Bản chất, nụi dung của chính sách xã hội
3.1. Bản chất của chính sách xã hội
Chính sách xã hội được hình thành từ khi chủ nghĩa tư bản ra đời và đã
được phát triển, biến đổi qua nhiều thời kỳ khác nhau trong lịch sử.

phúc lợi xã hội mà phải có nội dung hết sức rộng lớn. Báo cáo Chính trị tại Đại
hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX và X đều chỉ rõ: “Chính sách xã hội bao trùm
mọi mặt của cuộc sống con người, điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và
văn hóa, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc ”.
Có rất nhiều loại chính sách xã hội, song có thể khái quát lại một số nhóm
chính sách sau đây:
Thứ nhất; Hệ thống chính sách xã hội nhằm tác động điều chỉnh cơ bản xã
hội
Theo quan điểm tiếp cận khoa học mới hiện nay, chính sách xã hội cần
phải tác động một cách đồng bộ, hài hòa và thích hợp vào tổng thể các phân hệ
cơ cấu xã hội bao gồm: cơ cấu xã hội- giai cấp, cơ cấu xã hội- nghề nghiệp, cơ
cấu xã hội- dân số, cơ cấu xã hội lãnh thổ, cơ cấu xã hội- dân tộc
Hoàng Dũng Trường TH Long Sơn
8
Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang Lớp TCCT HC ngành GD Sơn Động
Trong khi tác động vào các phân hệ cơ cấu xã hội cơ bản, hệ thống chính
sách xã hội cần tạo ra sự thống nhất giữa tính ổn định và tính năng động xã hội,
vừa góp phần giảm bớt những xung đột và sai lệch xã hội, vừa tạo ra tính tích
cực xá hội và những yếu tố cần thiết cho sự cân bằng, ổn định và phát triển bền
vững trong xã hội. Vạch ra một hệ thống các chính sách xã hội nhằm tác động
một cách tích cực, hiệu quả vào các quan hệ gia đình, giai cấp, dân tộc để từ đó
góp phần phát huy mạnh mẽ hơn nữa nhân tố con người, đó là một trong các
mục tiêu chiến lược của chính sách xã hội hiện nay ở nước ta.
Thứ hai; Hệ thống chính sách xã hội tác động vào quá trình sản xuất
Trong hệ thống chính sách này, trước hết phải kể đến nhóm chính sách
nhằm tạo ra nhiều việc làm cũng như những điều kiện tốt nhất, thuận lợi nhất
cho con người lao động. Chính sách xã hội về việc làm hướng tới khẳng định
quyền có việc làm và những hình thức làm việc phù hợp với trình độ, sức khỏe,
năng lực và đặc điểm của từng người lao động. Chính sách xã hội về việc làm
không chủ trương cào bằng xóa nhòa mọi sự khác biệt giữa các thành viên lao

Thứ tư; Nhóm chính sách xã hội tác động vào quá trình phân phối và phân
phối lại thu nhập.
Nhóm chính sách này bao gồm một tập hợp các chính sách về tiền lương,
về tiền thưởng, phúc lợi xã hội, bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội
nhằm tạo ra động lực tích cực cho mọi người lao động, tạo ra sự công bằng
tương đối, thực hiện chủ nghĩa nhân đạo cho toàn xã hội. Là một đất nước phải
trải qua hai cuộc chiến tranh lâu dài, gian khổ, phải chịu những tổn thất lớn về
người, về của, do đó, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng đến chính sách đền ơn,
đáp nghĩa cho những người đã hy sinh, đóng góp nhiều cho đất nước. Cần củng
cố, hoàn thiện chế độ, chính sách ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh, gia đình
liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng. Mặt khác, cũng cần có một hệ thống
chính sách khuyến khích, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận kợi cho những người có
tài năng, các nhà khoa học, các nhà quản lý, kinh doanh giỏi để họ có thể phát
huy tối đa năng lực sáng tạo và khả năng cống hiến của mình cho đất nước. Sau
cùng là những chính sách hướng vào các lĩnh vực bảo hiểm lao động, bảo hiểm
nghề nghiệp, bảo hiểm kinh doanh, bảo hiểm tài sản, phương tiện vật chất
Trong điều kiện hiện nay, đặc biệt là trong thời kỳ mở cửa, hội nhập khu
vực và quốc tế, rất nhiều vấn đề nảy sinh như bảo hiểm tự nguyện, bảo hiểm cho
người Việt Nam lao động ở nước ngoài, bảo hiểm trong quân đội, mở rộng bảo
Hoàng Dũng Trường TH Long Sơn
10
Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang Lớp TCCT HC ngành GD Sơn Động
hiểm sang học sinh, tuổi trẻ học đường Đó là vấn đề bức xúc mà Đảng, Nhà
nước Việt Nam cần sớm nghiên cứu, tổng kết và ban hành các chính sách mới
nhằm đáp ứng những yêu cầu mà cuộc sống đang đặt ra.
Thứ năm; Nhóm chính sách xã hội về cư trú và nhà ở.
Thực hiện tốt vấn đề tự do cư trú và nhà ở cho nhân dân là một trong
những nhiệm vụ quan trọng, phản ánh một phần bộ mặt nhân đạo của xã hội ta.
Là một quốc gia còn nghèo, đất đai hạn hẹp, lại đang trong thời kỳ chuyển đổi
mạnh mẽ - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì nhu cầu tự do cư

Xã Long Sơn huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang trước và trong kháng chiến
chống thực dân pháp thuộc huyện Hải Chi đặc khu Hồng Quảng (Quảng Ninh),
sau hòa bình lập lại được sát nhập về huyện Sơn Đông tỉnh Bắc Giang. Long Sơn
là vùng quê có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời.

Ngày nay, trong công cuộc đổi mới Đảng bộ và nhân dân xã Long Sơn quyết
tâm phấn đấu vượt qua mọi khó khăn thử thách, đẩy mạnh sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh đi lên chủ
nghĩa xã hội.
Xã Long Sơn là một xã vùng sâu, vùng xa của huyện Sơn Động, phía đông
giáp với xã Dương Hưu, phía nam giáp với huyện Hoành Bồ - Quảng Ninh, Phía
tây giáp với xã Thanh Luận, Bồng Am, phía bắc giáp với xã An Lạc.

Long Sơn là một xã vùng cao có đồi núi đan xen với những cánh đồng và
các khu dân cư; có diện tích đất 6489,14 ha; Trong đó đất ở 52,48 ha, đất nông
nghiệp 438,33 ha, đất lâm nghiệp 5771,43 ha còn lại là hồ ao, song suối và núi
cao; hệ thống giao thông duy nhất có đường quốc lộ 279 chạy từ trung tâm
huyện qua Long Sơn đến Quảng Ninh, Hải Phòng. Năm 1983 chợ Long Sơn
được thành lập, chợ họp theo phiên hàng hóa phong phú đa dạng, các mặt hàng
chủ yếu vận chuyển từ nơi khác đến. Long Sơn là trung tâm kinh tế văn hóa
chính trị lớn thứ ba sau hai thị trấn của huyện; đồng thời Long Sơn là vùng đất
anh hùng giàu truyền thống cách mạng.
Hiện nay xã Long Sơn có 1176 hộ, 5344 nhân khẩu, mật độ dân cư thưa thớt
sống rải rác thành 7 thôn bản và 1 khu phố chủ yếu ven dọc theo hai bên đường
Hoàng Dũng Trường TH Long Sơn
12
Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang Lớp TCCT HC ngành GD Sơn Động
quốc lộ 279, cáo 8 dan tộc anh em. dân tộc kinh là chủ yếu. Nhân dân địa
phương làm nghề nông nghiệp là chính, kết hợp với chăn nuôi gia xúc gia cầm
và phát triển vườn rừng, có một bộ phận vừa làm ruộng kết hợp với buôn bán

13
Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang Lớp TCCT HC ngành GD Sơn Động
Công tác an ninh và trật tự an toàn xã hội luôn được duy trì tốt, điều kiện
kinh tế, chính trị xã hội ổn định đã góp phần vào việc chấp hành và thực hiện tốt
chính sách xã hội ở địa phương Long Sơn.
2. Thực trạng việc chấp hành và thực hiện chính sách xã hội ở xã Long
Sơn huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay.
2.1Những kết quả đạt được trên các lĩnh vực
Thứ nhất: Lĩnh vực dân số và việc làm:
Thực hiện chính sách dân số gắn với mục tiêu phát triển kinh tế, ổn định dân
số là mục tiêu phấn đấu, là biện pháp nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân
dân được các cấp ủy đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị xã hội ở địa
phương đặc biệt quan tâm.

Trong những năm qua, xã Long Sơn đã chấp hành nghiêm túc và triển khai
thực hiện có hiệu quả chính sách dân số và coi đây là nội dung trọng tâm trong
chiến lược phát triển kinh tế văn hoá xã hội của địa phương. Từ trước năm 2000
với sự bùng nổ dân số nói chung và ở Long Sơn nói riêng đã ảnh hưởng không
nhỏ đến lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội, dẫn đến tình trạng dư thừa lao động và
gia tăng các tệ nạn xã hội nhưng trong những năm gần đây tỉ lệ tăng dân số giảm
đi rõ rệt; năm 2008 là 1,5%, năm 2009 là 1,46%, năm 2010 là 1,38%.

Để có được kết quả trên Đảng ủy, chính quyền, MTTQ, các ngành đoàn thể
đã cùng với cán bộ làm công tác dân số tuyên truyền vận động thực hiện chính
sách dân số bằng nhiều hình thức như: Thông tin trên hệ thống truyền thanh của
xã và các thôn bản về dân số và kế hoạch hóa gia đình, vận động chị em trong độ
tuổi sinh đẻ không vi phạm sinh con thứ ba, thực hiện nuôi con khỏe dạy con
ngoan.

Tổ chức thành lập được 8/8 thôn bản và khu phố có câu lạc bộ không sinh

bản của địa phương.

Ban chỉ đạo xóa đói giảm nghèo của xã triển khai kế hoạch điều tra, rà soát,
thống kê hộ nghèo theo đúng qui trình, giải quyết đầy đủ chế độ chính sách cho
người nghèo đảm bảo đúng nguyên tắccông khai dân chủ. Hằng năm xây dựng
phương án giao cho các đoàn thể, thôn bản phụ trách theo dõi định hướng cho
các gia đình triển khai thực hiện các phương án khả thi để phát triển kinh tế gia
đình nhằm vươn lên thoát nghèo.

Hoàng Dũng Trường TH Long Sơn
15
Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang Lớp TCCT HC ngành GD Sơn Động
Thực hiện tốt việc quản lí các đối tượng của chương trình và các dự án,
chính sách giảm nghèo từ năm 2008 đến nay tổng số hộ được vay vốn là 930 hộ
trong đó hộ nghèo là 493 hộ, số học sinh, sinh viên được vay vốn là 290 em,
tổng dư nợ ngân hàng đến tháng 6 năm 2011 là 21,4 tỉ đồng. Số người nghèo
được cấp thẻ BHYT là 493 hộ với tổng số thẻ 2465 thẻ; số hộ cận nghèo được hỗ
trợ 50% tổng số tiền mua thẻ BHYT là 135 hộ.

100 % học sinh Phổ thông và học sinh Mầm non được miễn học phí, 560
học sinh các cấp con người nghèo được hỗ trợ kinh phí học tập với tổng số tiền
682 200 000 đồng / năm học. toàn bộ là vốn là nguồn vốn từ trung ương cấp.
Thứ ba; Vấn đề bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
Có thể nói bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế là một loại chế độ chính sách
của Đảng và Nhà nước mang tính nhân đạo, tính cộng đồng cao cả. Trong những
năm qua, cán bộ và nhân dân địa phương đã quan tâm, tham gia bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm y tế; triển khai cho 100% các chức danh cán bộ địa phương mua bảo
hiểm xã hội; tích cực tham gia các loại hình bảo hiểm như bảo hiểm an sinh giáo
dục có 1050 lượt tham gia, bảo hiểm xã hội có 19 lượt. Nhằm đảm bảo quyền lợi
cho người lao động tham gia bảo hiểm, cán bộ làm công tác lao động thương

nghèo số tiền là 65.400.000 đồng. Ngoài ra, địa phương còn giải quyết tốt chế độ
chính sách cho các gia đình và người có công với cách mạng.
Thực hiện giải quyết chế độ cho các đối tượng tham gia kháng chiến chống
Mỹ cứu nước dưới 20 năm công tác trong quân đội chưa được hưởng chế độ
chính sách theo quyết định 142/2008/QĐ-TT ngày 27/10/2008 của Thủ tướng
Chính phủ với tổng số 98 đối tượng. Khảo sát các đối tượng tham gia chiến tranh
bảo vệ tổ quốc ở biên giới phía bắc, biên giới tây nam giúp bạn Lào và
Campuchia với tổng số 198 đối tượng. Xác nhận và đề nghị giám định thương
binh cho 11 đối tượng theo quy định hiện hành. Đã tổ chức tốt việc đón nhận 1
bộ hài cốt liệt sỹ an táng về địa phương đảm bảo trang trọng đúng nghi thức;
thăm hỏi tặng quà cho các đối tượng thương, bệnh binh, gia đình chính sách
trong 3 năm là 524 lượt với tổng số tiền 16.267.000 đồng; đã huy động nhân dân
đóng góp được 67.000.000 đồng xây dựng quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”; đóng góp 55
số tình nghĩa trị giá mỗi sổ 200.000 đồng tặng cho các gia đình liệt sỹ. Tuyên
truyền, vận động các đoàn thể như Hội phụ nữ, Thanh niên, học sinh, Công đoàn
Hoàng Dũng Trường TH Long Sơn
17
Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang Lớp TCCT HC ngành GD Sơn Động
các trường lao động giúp đõ 1534 ngày công cho các gia đình thương binh liệt
sỹ, gia đình có công với cách mạng
Những kết quả nêu trên có ý nghĩa thiết thực trong việc thực hiện và giải
quyết tốt chế độ chính sách hậu phương quân đội, đem lại lòng tin của nhân dân
đối với Đảng và Nhà nước.
Thứ năm; Vấn đề cứu trợ xã hội.
Căn cứ Quyết định số 96/QĐ-UBND ngày 17/12/2007 của UBND tỉnh
Bắc Giang về việc quy định mức trợ cấp, trợ giúp các đối tượng bảo hiểm xã hội
trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, ủy ban nhân dân xã Long Sơn xây dựng kế hoạch tổ
chức hội nghị triển khai hướng dẫn và thông báo đến các đối tượng làm hồ sơ đề
nghị hưởng trợ cấp hàng tháng, nộp hồ sơ về ủy ban nhân dân.


Người
già cô
đơn
2008 98.550.000 7 16 9 25 13 5
2009 124.368.000 9 16 9 27 13 6
2010 118.642.000 8 16 9 26 14 6
Thứ sáu; Vấn đề tệ nạn xã hội
Trên thực tế hiện nay những tệ nạn xã hội như: mại dâm, ma túy, trộm cắp,
rượu chè, cờ bạc, thoái hóa đạo đức đang gia tăng đến mức đáng lo ngại. Được
sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban ngành đoàn thể địa
phương luôn thực hiện duy trì chế độ giao ban, tăng cường tuyên truyền phổ biến
giáo dục pháp luật cho quần chúng nhân dân nhằm hiểu rõ hơn những ảnh hưởng
Hoàng Dũng Trường TH Long Sơn
18
Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang Lớp TCCT HC ngành GD Sơn Động
của tệ nạn xã hội đang lấn át nếp sống, thuần phong mỹ tục, truyền thống văn
hóa địa phương.
Đẩy mạnh phong trào quần chúng Bảo vệ an ninh tổ quốc từ xã xuống thôn
bản đảm bảo số lượng, chất lượng, nâng cao hiệu quả hoạt động. Trong năm qua,
địa phương đã phối hợp với Công an huyện bắt 05 tụ điểm cờ bạc trên địa bàn,
lập hồ sơ đối tượng cờ bạc; phối hợp mở đợt cao điểm về đấu tranh với các loại
tội phạm trên địa bàn, tiếp tục xây dựng mô hình xã không có tệ nạn xã hội; tham
mưu kiện toàn ban chỉ đạo phòng chống AIDS và phòng chống tệ nạn ma túy,
mại dâm.
Thứ bảy; Vấn đề y tế, văn hóa, giáo dục
Từ khi thực hiện sự nghiệp đổi mới, cả nước chuyển sang cơ chế thị
trường, kinh phí đầu tư cho giáo dục của Nhà nước có phần giảm. Để duy trì và
củng cố chất lượng hệ thống giáo dục, Đảng bộ, chính quyền xã Long Sơn luôn
chăm lo đến công tác xây dựng hệ thống trường, lớp, đầu tư cơ sở vật chất đảm
bảo cho việc dạy và học, tạo dựng chế độ phúc lợi xã hội thích hợp, chăm lo đến

dân. Công tác quản lý Nhà nước được tăng cường. Các hoạt động văn hóa, dịch
vụ văn hóa trên địa bàn luôn diễn ra lành mạnh, không xẩy ra tình trạng vi phạm
pháp luật trên lĩnh vực văn hóa. Phong trào văn hóa văn nghệ hội thi, hội diễn đã
trở thành phong trào mạnh mẽ. Duy trì và bảo tồn khu di tích lịch sử đền bà
Chúa Liễu, hàng năm, tổ chức lễ hội nghiêm trang về phần lễ kết hợp với phần
hội với nhiều hình thức vui chơi lành mạnh và phù hợp với phong tục tập quán
của địa phương, tham gia và hoàn thành tốt một số hoạt động tại lễ Hội Đình Hạ.
Đầu tư 250 triệu đồng xây dựng hệ thống đài truyền thanh của xã, mua sắm tăng
âm, loa đài trang bị cho 8 thôn bản phục vụ cho công tác tuyên truyền góp phần
quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi của nhiệm vụ chính trị địa phương.
*. Nguyên nhân đạt được nhưng kết quả trên:
- Nguyên nhân chủ quan
+. Đảng bộ chính quyền và các đoàn thể nhân dân địa phương luôn có sự quan
tâm sát sao tới công tác xã hội. Triển khai nghiêm túc, kịp thời các chế độ chính
sách của nhà nước đến các đối tượng được hưởng.
+. Chính quyền dịa phương vận dụng sáng tạo các chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước và tình hình thực tiến của địa phương, tranh thủ
Hoàng Dũng Trường TH Long Sơn
20
Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang Lớp TCCT HC ngành GD Sơn Động
sự ủng hộ của các ngành, các cấp, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, để
tổ chức thực hiện các hoạt động chính sách xã hội. Các hoạt động này đã mạng
lại hiệu quả thiết thực đến từng tổ chức cá nhân góp phần vào việc ổn định xã
hội, phát triển kinh tế, văn hóa, thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia.
+. Đội ngũ làm công tác chính sách xã hội được tập huấn về chuyên môn nghiệp
vụ nên đã phát huy được vai trò trách nhiệm trong việc triển khai các chính sách
xã hội đề xuất tham mưu kịp thời với các cấp ủy đảng, chính quyền triển khai,
thực hiện chính sách xã hội.
- Nguyên nhân khách quan:
+. Được sự quan tâm sâu sát chỉ đạo kịp thời của Đảng và Nhà nước, các cơ

Công tác tuyên truyền chính sách xã hội cuả chính quyền các ban, ngành đoàn
thể ở địa phương đôi lúc chưa kịp thời; có những chính sách của nhà nước được
phổ biến nhưng nhân dân không được tiếp cận hoặc tiếp cận chậm dẫn đến
những chế độ chính sách đối tượng không được hưởng kịp thời.
*. Nguyên nhân của những hạn chế tồn tại.
- Nguyên nhân chủ quan:
Do nhận thức của một số cán bộ, đảng viên còn hạn chế nên chính sách xã
hội chậm được tuyên truyền đến nhân dân.
Cán bộ làm công tác chính sách xã hội trình độ chuyên môn còn hạn chế,
chế độ đãi ngộ thấp nên không phát huy hết khả năng, năng lực trong chỉ đạo
công tác; đôi khi còn buông lỏng quản lý, chưa giải quyết được triệt để việc làm
đối với lao động dư thừa hoặc thời điểm nông nhàn, nhiều lao động phải đi làm
ăn xa cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện và chấp hành chính sách xã
hội mà đảng và nhà nước đã đề ra.
- Nguyên nhân khách quan
+ Trong công cuộc đổi mới đất nước, nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, nhu
cầu đòi hỏi của dân ngày càng cao về đời sống xã hội. Các chính sách xã hội tác
động rất lớn đến toàn bộ đời sống xã hội.
Hoàng Dũng Trường TH Long Sơn
22
Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang Lớp TCCT HC ngành GD Sơn Động
+ Một số vấn đề tiêu cực xã hội hiện nay như tham nhũng, lãng phí của công
chưa được ngăn chặn; vấn đề thiếu việc làm , phân hóa giầu nghèo, điều kiện học
tập, tệ nạn xã hội, trật tự an toàn xã hội còn nhiều phức tạp ảnh hưởng rất lớn
đến việc thực hiện chính sách xã hội địa phương trong những năm vừa qua.

III. PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM GÓP
PHẦN THỰC HIỆN TỐT CHÍNH SÁCH XÃ HỘI Ở XÃ LONG SƠN HUYỆN
SƠN ĐỘNG TỈNH BẮC GIANG
1. Phương hướng chung

kinh tế của địa phương, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống
của từng người, từng gia đình và của toàn xã hội. Bằng cách vận động, tuyên
truyền và giáo dục gắn liền với dịch vụ kế hoạch hóa gia đình đến mọi người
dân. Thực hiện gia đình ít con để nuôi con khỏe dậy con ngoan, xây dựng cuộc
sống gia đình ấm lo, hạnh phúc, bình đẳng và tiến bộ. Ban dân số kết hợp với hội
phụ nữ các ban ngành đoàn thể tổ chức hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện chính
sách, luật pháp nhà nước, tổ chức và quản lý hoạt động của các cộng tác viên để
cung cấp và thu thập thông tin về dân số kế hoạch hóa gia đình cho tất cả các đối
tượng trong độ tuổi sinh đẻ. Đến năm 2015 không còn trường hợp nào sinh con
thứ 3.

- Chú trọng việc thực hiện giải quyết việc làm tại chỗ bằng các biện pháp thiết
thực như: Khuyến khích phát triển nền kinh tế nhiều thành phẩn ưu tiên cho phát
triển các doanh nghiệp và các dịch vụ kinh doanh, trồng các loaị rau quả xuất
khẩu cho thu nhập cao. Phấn đấu giải quyết việc làm tại chỗ cho 80 - 100 lao
động / năm.

- Thường xuyên tuyên truyền các chủ trương , đường lối của Đảng, chính sách
pháp luật của nhà nước, các chính sách xã hội đến từng người dân. Hằng năm có
từ 7/8 thôn bản trở lên đạt thôn bản văn hóa: 85% gia đình đạt gia đình văn hóa.
Quản lý tốt khu di tích lịch sử đền Lục Liều và Đình Làng Hạ.

- Phấn đấu tỷ lệ trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi ra lớp đạt 100%; học sinh lớp 5 vào lớp 6
đạt 100%; học sinhnlớp 9 thi đỗ vào phổ thông trung học đạt 98%; 3 trường học
giữ vững danh hiệu trường tiên tiến xuất sắc cấp tỉnh, cấp huyện là đơn vị dẫn
đầu huyện về chất lượng giáo dục; tiếp tục giữ vững an ninh chính trị.

Hoàng Dũng Trường TH Long Sơn
24
Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang Lớp TCCT HC ngành GD Sơn Động

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status