Khả năng áp dụng chứng khoán phái sinh vào thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 23

LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, quá trình điều hoà các nguồn vốn từ nơi thừa
đến nơi thiếu được diễn ra trên thị trường tài chính. Thị trường tài chính thường
được phân làm hai loại là thị trường tiền tệ (bao gồm thị trường liên ngân hàng, thị
trường hối đoái và quan trọng nhất là thị trường tín dụng ) và thị trường vốn (bao
gồm thị trường cho thuê tài chính, thị trường thế chấp và quan trọng nhất là thị
trường chứng khoán). Thị trường chứng khoán là bộ phận quan trọng nhất trong thị
trường tài chính, nó là nơi cung cấp vốn đầu tư dài hạn cho nền kinh tế. Thị trường
tài chính rất nhạy cảm, chỉ một tổn thất trong một thị trường bộ phận có thể lây lan
sang cả thị trường tài chính rộng lớn và rất dễ dẫn đến một cuộc khủng hoảng tài
chính, gây thiệt hại cho nền kinh tế. Từ đó đặt ra một yêu cầu là phải ổn định thị
trường tài chính. Chính vì vậy mà trong suốt những thập kỷ vừa qua có sự tăng
trưởng kỳ lạ của các thị trường phái sinh, một trong những phát triển quan trọng
nhất của thị trường tài chính. Các công cụ tài chính phái sinh ngày càng được sử
dụng rộng rãi, linh hoạt trong các hoạt động tài chính. Đó là những công cụ mới và
phức tạp, vì vậy muốn sử dụng nó một cách hiệu quả ta cần nghiên cứu, tìm hiểu
nó.
Chứng khoán phái sinh là các công cụ tài chính phái sinh có nguồn gốc từ
chứng khoán và có mối quan hệ chặt chẽ với chứng khoán gốc. Đây là những công
cụ tài chính đa năng và là các công cụ quan trọng được sử dụng một cách linh hoạt
để giúp các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán xử lý rủi ro
về giá cả chứng khoán và giúp nhà đầu cơ tìm kiếm lợi nhuận. Nhưng chứng khoán
phái sinh lại tạo ra sứ ép từ phía nhà đầu tư và rất phức tạp nên chỉ dành cho những
nhà đầu tư chuyên nghiệp và trong thị trường chứng khoán phát triển. Ở Việt Nam,
thị trường chứng khoán mới đi vào hoạt động từ năm 2000, còn trong giai đoạn
bước đầu xây dựng nên vấn đề áp dụng chứng khoán phái sinh còn nhiều bất cập,
nhưng khi thị trường phát triển thì đó lại trở thành tất yếu.
1
Do còn mới và phức tạp, đề tài mới dừng lại ở những lý thuyết cơ bản về
chứng khoán phái sinh. Nội dung của đề tài được trình bày đi từ lý thuyết về chứng
khoán phái sinh đến khả năng áp dụng chúng vào thị trường chứng khoán Việt Nam

hàng hoá là trái phiếu; trái phiếu là chứng khoán nợ, một loại chứng khoán quy
định nghĩa vụ của người phát hành ( người đi vay ) phải trả cho người đứng tên sở
hữu chứng khoán (người cho vay ) một khoản tiền nhất định bao gồm cả gốc lẫn lãi
trong những khoảng thời gian cụ thể. Thị trường cổ phiếu là nơi giao dịch mua bán
trao đổi cổ phiếu, cổ phiếu là một loại chứng khoán vốn được phát hành dưới dạng
3
chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp đối với
tài sản hoặc vốn của công ty cổ phần. Cổ phiếu là công cụ tài chính có thời hạn
thanh toán là vô hạn. Còn thị trường các công cụ dẫn xuất là thị trường có hàng hoá
là các chứng khoán phái sinh, chứng khoán phái sinh bao gồm các loại như quyền
mua trước, chứng khế, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn.
Nếu phân loại theo quá trình luân chuyển vốn, thị trường được phân thành thị
trường sơ cấp (thị trường cấp một )_là thị trường phát hành chứng khoán hay là
nơi mua bán chứng khoán lần đầu tiên. Việc mua bán chứng khoán trên thị trường
sơ cấp làm tăng vốn cho nhà phát hành, thông qua đó chính phủ có thêm nguồn tài
trợ cho dự án đầu tư và tiêu dùng của chính phủ, các doanh nghiệp huy động được
vốn cho dự án đầu tư của doanh nghiệp; Và thị trường thứ cấp ( thị trường cấp 2 ) _
là thị trường giao dịch mua bán trao đổi những chứng khoán đã được phát hành
nhằm mục đích kiếm lời, di chuyển vốn đầu tư hay di chuyển tài sản xã hội.
Khi phân loại thị trường chứng khoán theo hình thức tổ chức của thị trường
thì có : Thứ nhất, là tổ chức thành sở giao dịch chứng khoán, là thị trường chứng
khoán được tổ chức tại một địa điểm tập trung gọi là sàn giao dịch hoặc thông qua
hệ thống máy tính. Các chứng khoán được niêm yết tại sở giao dịch là các chứng
khoán đáp ứng các tiêu chuẩn niêm yết do sở giao dịch đặt ra; Thứ hai là tổ chức
thành thị trường giao dịch phi tập trung ( thị trường OTC ), là thị trường không có
trung tâm giao dịch tập trung, đó là một mạng lưới các nhà môi giới và tự kinh
doanh chứng khoán mua bán với nhau và với nhà đầu tư. Ngoài hai thị trường trên
còn có thị trường thứ ba dành cho các chứng khoán không đủ tiêu chuẩn trên hai thị
trường trên.
Các chủ thể trên thị tường chứng khoán có thể được chia làm ba nhóm : Một

đoán tình hình biến động của chứng khoán cơ sở trong tương lai một cách tốt nhất.
Sau đó vận dụng chứng khoán phái sinh linh hoạt để kiếm tiền. Do đó, phải là
những nhà đầu tư chuyên nghiệp và những chuyên gia mới có đủ tri thức và thông
5
tin để sử dụng tốt công cụ này. Và chỉ ở thị trường chứng khoán phát triển, chứng
khoán phái sinh mới được áp dụng và phát triển. Các chứng khoán phái sinh mới
được áp dụng vào thị trường chứng khoán từ thập kỷ 70 của thế kỷ 20, nhưng đến
nay thị trừng chứng khoán phái sinh phát triển rất sôi động và đạt được nhiều thành
công. Trong tương lai không xa thị trường chứng khoán phái sinh còn phát triển
vượt trội hơn nữa. Đó là quy luật tất yếu.
1.1.3 Vai trò chứng khoán phái sinh đối với thị trường chứng khoán.
Chứng khoán phái sinh đóng vai trò to lớn trong thị trường chứng khoán,
cũng như trên thị trường tài chính. Chứng khoán phái sinh chủ yếu đảm bảo sự ổn
định cho thị trường chứng khoán với chức năng phòng ngừa rủi ro và tăng khả năng
sinh lời cho nhà đầu tư chứng khoán. Tuy nhiên, việc sử dụng các chứng khoán
phái sinh này cũng tạo ra sức ép từ phía các nhà đầu cơ.
Với phương thức rất sôi động ( có tính chất cá cược về giá ) giúp các nhà đầu
cơ thao túng về giá chứng khoán gốc. Ví dụ như có sự công khai về một hợp đồng
quyền chọn mua một loại chứng khoán nào đó với một lượng chứng khoán lớn và
với giá cao vào thời gian tới, thì trên thị trường ngay lập tức xảy ra tình trạng “ăn
theo “ tức các nhà đầu tư mua chứng khoán nhỏ lẻ đổ vào mua chứng khoán đó tại
thời điểm hiện tại tăng lên khiến cho giá chứng khoán đó lập tức lên giá ( do cầu
chứng khoán đó tăng ). Ngoài ra, nó còn làm cho thị trường sơ cấp hoạt động với
hiệu quả không cao. Như vậy, các thị trường chứng khoán mới nổi không nên áp
dụng chứng khoán phái sinh, nếu không sẽ tạo ra những biến động bất lợi về chứng
khoán cơ sở năm ngoài sự kiểm soát của các cơ quan quản lý. Còn với thị trường
chứng khoán phát triển sự áp dụng chứng khoán phái sinh càng kích thích thị
trường phát triển sôi động hơn. Đó là nhờ các chức năng kinh tế của các chứng
khoán phái sinh như :
1.1.3.1 Chứng khoán phái sinh giúp phòng ngừa rủi ro .

sử dụng chứng khoán phái sinh để đầu cơ phải là những người có sức chịu đựng vì
7
thị trường này có độ rủi ro cao. Nhưng những nhà đầu cơ này lại có vai trò to lớn
hình thành lên thị trường chứng khoán phái sinh bằng cách hoàn tất mối liên hệ
cộng sinh giữa những người muốn tránh né rủi ro ( phòng ngừa rủi ro ) và những
người chấp nhận rủi ro.
Các chứng khoán phái sinh thực sự là rất đa năng, có thể sử dụng để phòng
ngừa rủi ro và cũng có thể sử dụng để đầu cơ. Tuỳ từng quan điểm của nhà đầu tư
và từng trường hợp mà nhà đầu tư gặp phải mà các chứng khoán phái sinh được sử
dụng vào các mục đích khác nhau. Sự vận dụng chứng khoán phái sinh này rất linh
hoạt, nó được đưa ra nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư từ đó tạo ra sự sôi
động, kích thích nhà đầu tư tham gia vào đầu tư trên thị trường chứng khoán.
1.2 CÁC LOẠI CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH, ĐẶC ĐIỂM VÀ CHỨC
NĂNG CỦA MỖI LOẠI.
Chứng khoán phái sinh được hình thành từ chứng khoán gốc dựa trên những
nhu cầu giao dịch của nhà đầu tư, những người mua và bán chứng khoán trên thị
trường chứng khoán. Các trường hợp biến động giá do các nguyên nhân khác nhau
và mục tiêu sử dụng của nhà đầu tư chứng khoán khác nhau có những yêu cầu khác
nhau từ đó hình thành lên các loại chứng khoán phái sinh khác nhau. Chứng khoán
phái sinh rất phong phú và đa dạng về chủng loại, và cả về chức năng. Để nghiên
cứu về chứng khoán phái sinh cho minh bạch và dễ hiểu, ta phải đi nghiên cứu vào
từng loại.
Chứng khoán phái sinh thông thường bao gồm những loại sau :
− Chứng quyền ( giấy đảm bảo quyền mua trước ) (rights )
− Chứng khế ( warrants )
− Hợp đồng tương lai ( futures )
− Hợp đồng quyền chọn ( options )
1.2.1 Chứng quyền (rights)
Chứng quyền là một loại chứng khoán phái sinh được hình thánh từ việc
công ty phát hành muốn huy động thêm vốn bằng một đợt phát hành cổ phiếu mới,

9
p
0
_giá cổ phiếu ở thời điểm trước khi phát hành.
m_số lượng cổ phiếu trước khi phát hành thêm.
f_giá ưu đãi mua cổ phiếu của chứng quyền.
p1_ giá của cổ phiếu sau khi phát hành.
P1 chỉ là giá cổ phiếu sau khi phát hành dự kiến, còn trên thực tế thì có thể
bằng hoặc không. Nếu giá cổ phiếu sau khi phát hành thực tế bằng giá cổ phiếu sau
khi phát hành dự kiền thì thì đợt phát hành thêm cổ phiếu không gây thiệt hại cho
nhà đầu tư. nếu giá thị trường thực tế không giảm hoặc giảm nhưng vẫn lớn hơn p1
thì cổ đông hiên hữu sẽ có lợi và ngược lại, nếu giá chứng khoán trên thị trường
giảm xuống thấp hơn p1 thì cổ đông hiện hành sẽ bị thiệt mặc dù họ được mua với
giá thấp hơn giá thị trường lúc bấy giờ.
Các cổ đông hiện hữu không nhất thiết phải thực hiện quyền này, họ có thể
đem bán và giá của chứng quyền sẽ bù đắp vào phần thiệt hại do giá chứng khoán
mà họ nắm giữ bị giảm giá. Như vậy, tổng tài sản của họ sẽ được bảo toàn. Giá của
chứng quyền khi đem bán sẽ phản ánh giá trị của chứng quyền có thể cao hơn và có
thể thấp hơn, nhưng giá của nó thường nằm trong khoảng chênh lệch giữa giá thị
trường của cổ phiếu sau khi đã phát hành quyền mua cổ phiếu với giá mà người có
chứng quyền được mua ( giá mua cổ phiếu ghi trên chứng quyền ) và còn tuỳ theo
thoả thuận và cung cầu. Giá trị của chứng quyền được xác định như sau:
M =
Trong đó : p_ Là thị giá cổ phiếu .
F_ Là gí ưu đãi của chứng quyền .
M_ Giá trị của chứng quyền .
N_ Là định mức cổ phiếu cũ đẻ mua một cổ phiếu mới hay là số lượng quyền
cần để mua một cổ phần mới = số lượng cổ phần cũ đang lưu hành / số lượng cổ
phần mới ( n / m ).
Ta thấy ở mẫu, N phải cộng thêm 1 là vì trong thời hạn đăng ký mua cổ phần

11
Trong các loại chứng khoán phái sinh, không chỉ chứng quyền là do công ty
phát hành các chứng khoán phát hành ra mà để đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư
họ còn phát hành ra chứng khế. Chứng khế hay còn gọi là bảo chứng phiếu ( cam
kết bán ) là một loại chứg khoán được phát hành cùng với trái phiếu hay cổ phiếu
ưu đãi mà người sở hữu nó có quyền được mua một số loại chứng khoán nhất định
và trong một thời hạn nhất định.
Chứng khế thường được phát hành trong trường hợp tổ chức lại công ty,
hoặc khi công ty phát hành nhằm mục tiêu khuyến khích các nhà đầu tư tiềm năng
mua các trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi có điều kiện kém thuận lợi. Để bù đắp cho
những rủi ro cao của của trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi đó, nhà đầu tư kỳ vọng có
thể được nhận thêm phần chênh lệch do sự lên giá có thể xảy ra đối với cổ phiếu
thường. Chứng khế là công cụ kích thích nhà đầu tư mua các chứng khoán có điều
kiện kém thuận lợi ở thời điểm hiện tại nhằm đảm bảo thành công cho đợt huy
động vốn của công ty trong thời điểm khó khăn để giúp công ty vượt qua được giai
đoạn khó khăn tránh cho công ty khỏi bị thua lỗ nặng nề hơn thậm chí là thoát khỏi
nguy cơ phá sản. Đổi lại, công ty ( chủ sở hữu hiện tại hay những cổ đông hiện tại )
phải chấp nhận thiệt thòi trong tương lai khi mà công ty phải bán cổ phiếu thường
cho nhà đầu tư nắm giữ chứng khế vớí giá rẻ hơn giá thị thị trường tại thời điểm đó
và phải chấp nhận chia sẻ quyền kiểm soát công ty. Công ty phát hành quyết định
phát hành chứng khế khi mà họ phân tích thiệt hơn của vấn đề, nó đảm bảo sao cho
những cổ đông cũ có lợi nhất. Ví nếu không có chứng khế thì không huy động được
thêm vốn vào thời điểm lúc bấy giờ gây thiệt hại cho họ và ngoài ra họ còn có thể
hưởng lợi nhuận trong những năm sau. Chứng khế còn đảm bảo quyền lợi cho
những nhà đầu tư mới của công ty .
Tuy nhiên, những người sở hữu chứng khế không có tư cách cổ đông trong
công ty, không được nhận cổ tức và không có quyền biểu quyết cho đến khi chuyển
chứng khế ra thành cổ phiếu thường. Tại thời điểm phát hành chứng khế, giá mua
cổ phiếu ghi trong chứng khế bao giờ cũng cao hơn giá thị trường cổ phiếu cơ sở,
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status