LỜI CẢM ƠN
Với sự nỗ lực của bản thân cùng với sự giúp đỡ tận tình của thầy cô, đồng
nghiệp, bạn bè và gia đình đã giúp tác giả đã hoàn thành luận văn.
Tác giả xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Nguyễn Chiến,
người đã hướng dẫn trực tiếp và vạch ra những định hướng khoa học cho luận văn.
Xin cảm ơn Nhà trường, các thầy cô giáo trong Trường Đại học Thủy Lợi,
Phòng đào tạo Đại học và sau Đại học về sự giúp đỡ trong thời gian tác giả học tập
và nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè đã tạo điều kiện, giúp đỡ cho
tác giả trong quá trình học tập cũng như hoàn thiện luận văn.
Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cha mẹ, các em trong gia
đình đã động viên, tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành quá trình học tập và viết
luận văn.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014.
Tác giả
Lê Mỹ Linh
1.2.2. Sóng 12
1.3. ẢNH HƯỞNG CỦA NỀN ĐẾN KẾT CẤU ĐÊ BIỂN 13
1.3.1 Các dạng mặt cắt đê biển và điều kiện áp dụng 13
1.3.2 Yêu cầu chung về thiết kế mặt cắt đê biển 15
1.3.3. Sự mất ổn định của đê biển trên nền đất yếu 16
1.4. ỨNG DỤNG CÁC CÔNG NGHỆ MỚI TRONG XÂY DỰNG ĐÊ BIỂN 17
1.4.1. Về cấu tạo hình học và kết cấu đê 18
1.4.2. Về điều kiện làm việc và tương tác giữa tải trọng với công trình 22
1.5. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN 25
CHƯƠNG 2: CÁC GIẢI PHÁP KỸ THUẬT XÂY DỰNG ĐÊ BIỂN TRÊN NỀN
ĐẤT YẾU 26
2.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC VÙNG ĐẤT BÁN NGẬP Ở CỬA SÔNG VEN BIỂN. 26
2.1.1. Môi trường đất 26
2.1.2. Địa chất vùng bán ngập cửa sông ven biển 26
2.2. ĐỀ XUẤT CÁC DẠNG KẾT CẤU ĐÊ BIỂN TRÊN NỀN ĐẤT YẾU 28
2.2.1. Đê có lõi bằng vật liệu tại chỗ kết hợp gia cố nền và mái: . 28
2.2.2. Đê biển bằng tường cừ kết hợp với cọc xiên 29
2.2.3. Đê bằng hệ thống các xà lan bê tông cốt thép nối tiếp nhau 31
2.2.4. Đê biển có cấu tạo bằng hệ thống tường ô vây 32
2.2.5. Đê biển có cấu tạo mái nghiêng kết hợp với tường cừ 33
2.2.6. Đê biển có cấu tạo bằng hệ thống xà lan tạo chân 34
2.3. PHÂN TÍCH, LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN 35
2.3.1. Lý thuyết phân tích ổn định mái dốc 35
2.3.2. Ứng dụng mô hình toán 43
2.3.3. Lựa chọn phần mềm tính toán 45
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu phân biệt loại đất mềm yếu [10] 27
Bảng 3.1: Chỉ tiêu cơ lý các lớp đất từ lớp 1c đến lớp 3c 54
Bảng 3.2: Chỉ tiêu cơ lý các lớp đất từ lớp 4 đến lớp 7b 54
Bảng 3.3: Chỉ tiêu cơ lý các lớp đất từ lớp 7c đến lớp 7g 55
Bảng 3.4: Đặc trưng nhiệt độ trung bình tháng năm (1960÷2010) 56
Bảng 3.5: Đặc trưng độ ẩm tương đối trung bình tháng năm tại các trạm 56
Bảng 3.6: Đặc trưng bốc hơi piche trung bình tháng năm tại các trạm 57
Bảng 3.7: Bảng tần suất gió tại trạm Hòn Dấu 58
Bảng 3.8: Tọa độ các điểm trích rút kết quả tính toán tham số sóng tại chân công
trình 62
Bảng 3.9: Kết quả tính toán tham số sóng với cấp gió 12 theo hướng E (Đông) 64
Bảng 3.10: Kết quả tính toán tham số sóng với cấp gió 12 theo hướng S (Nam) 64
Bảng 3.11: Kết quả tính toán tham số sóng với cấp gió 12 theo hướng SE (Đông
Nam) 65
Bảng 3.12 : Thống kê các mỏ đất xây dựng trong vùng 67
Bảng 3.13: Thống kê các mỏ đá xây dựng công trình 67
Bảng 3.14: Thống kê các mỏ cát xây dựng công trình 68
Bảng 3.15: Bảng giá trị a theo cấp công trình 74
Bảng 3.16 : Bảng tổng hợp các chỉ tiêu cơ lý các lớp đất tại hố khoan M78. 80
Bảng 3.17 : Các thông số khai báo trong mô hình 83
Bảng 3.18: Kết quả tính toán chuyển vị nền SĐ1 theo Plaxis 86
Bảng 3.19: Kết quả tính toán chuyển vị nền SĐ1 theo Plaxis 92
Bảng 3.20: Thông số vật liệu cừ bê tông ma sát cao 94
Bảng 3.21: Thông số vật liệu lớp cát hạt trung xử lý nền 94
Bảng 3.22: Kết quả tính toán chuyển vị nền theo từng giai đoạn đắp 96
Hình 1.13: Mặt cắt thiết kế đê biển điển hình 16
Hình 1.14: Đê bị trượt phẳng trên lớp đất yếu 16
Hình 1.15: Lún do cố kết của lớp đất yếu 17
Hình 1.16: Đê biển chịu sóng tràn và vùng đệm đa chức năng theo cách tiếp cận 18
hệ thống của ComCoast [12] 18
Hình 1.17: Quan điểm xây dựng đê biển lợi dụng tổng hợp và thân thiện với môi
trường sinh thái của Hà Lan [12] 20
Hình 1.18: Đê sông an toàn cao ở Nhật Bản [12] 21
Hình 1.19: Dải ngầm giảm sóng xa bờ 23
Hình 1.20: Giải pháp cản sóng phù hợp với cảnh quan trên mái đê biển ở Norderney
(biển Bắc, nước Đức) [12] 24
Hình 2.1: Cắt ngang kết cấu đê biển có lõi bằng vật liệu tại chỗ kết hợp gia cố nền
và mái 28
Hình 2.2: Các dạng khối phủ mái đê biển 29
Hình 2.3: Mặt cắt ngang đê biển bằng tường cừ kết hợp với cọc xiên 30
Hình 2.4: Mặt cắt ngang đê bằng hệ thống các xà lan bê tông cốt thép nối tiếp nhau
31
Hình 2.5: Kết cấu đê biển dạng tường ô vây 33
Hình 2.6: Mặt cắt ngang đê biển có cấu tạo mái nghiêng kết hợp với tường cừ 34
Hình 2.7: Mặt cắt ngang đê biển có cấu tạo bằng hệ thống xà lan tạo chân 35
Hình 2.8: Xác định mômen chống trượt, gây trượt với mặt trượt trụ tròn 38
Hình 2.9: Xác định góc ma sát và lực dính huy động 41
Hình 3.1: Hình ảnh vệ tinh khu vực dự án 49
Hình 3.2: Khoan khảo sát đê đã đắp bằng phương pháp đắp lấn 50
Hình 3.3: Mặt cắt địa chất điển hình dọc tuyến đê từ hố khoan M76 đến M79 51
Hình 3.4: Biểu đồ cường độ kháng cắt không thoát nước theo chiều sâu 55
Hình 3.5: Hoa gió tại trạm Hòn Dấu 58
Hình 3.31: Hình dạng mặt trượt khi đắp tới +5,00m (PA2) 98
Hình 3.32: Hệ số ổn định Msf= 1,281 khi đắp tới +5,00 (PA2) 99
Hình 3.33: Mực nước hạp long 103
Hình 3.34: Vị trí hạp long tuyến đê kè ngầm chắn bùn 103 1 PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của Hải Phòng tới năm
2020, kinh tế đối ngoại tiếp tục được xác định là lĩnh vực kinh tế động lực của thành
phố. Trong đó hoạt động đầu tư nước ngoài có vai trò đặc biệt quan trọng, là một
trong những động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố theo định
hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Để thực hiện mục tiêu này, một trong những
biện pháp quan trọng là xây dựng và phát triển khu kinh tế Đình Vũ – Cát Hải. Khu
kinh tế Đình Vũ – Cát Hải được quy hoạch bao gồm: khu Công nghiệp Nam Đình
Vũ 1, khu công nghiệp Nam Đình Vũ 2 và khu Phi thuế quan.
Dự án đầu tư xây dựng đê biển Nam Đình Vũ thuộc khu kinh tế Đình Vũ – Cát
Hải là dự án xây dựng đê bao lấn biển dài nhất Việt Nam hiện nay. Tổng chiều dài
toàn tuyến đê là 14.987 km. Tuyến đê biển và các công trình trên đê có nhiệm vụ
bảo vệ vùng lấn biển trực tiếp diện tích khoảng 2100 ha và hơn 3000 ha vùng bờ
biển phía trong để xây dựng khu công nghiệp tập trung của thành phố Hải Phòng.
Toàn bộ tuyến đê được xây dựng chủ yến trên nền đất yếu là bùn sét, màu xám,
xám đen, lẫn hữu cơ phân hủy, đôi chỗ kẹp lớp cát mỏng, trạng thái chảy. Một vài
đoạn ngắn xen kẹp lớp bùn sét pha (bùn cát pha), màu xám, xám đen, đôi chỗ lẫn vỏ
don hến, trạng thái chảy chảy. Hai lớp đất yếu này có chiều sâu trung bình từ 15m
đến 23 m. Mặt khác tuyến đê biển Nam Đình Vũ là tuyến đê lấn biển, chịu tác động
theo các phương thức và mô hình phù hợp.
- Phương pháp nghiên cứu.
+ Phương pháp điều tra khảo sát, thu thập tổng hợp tài liệu;
+ Phương pháp nghiên cứu lý thuyết, sử dụng mô hình toán và các phần mềm
ứng dụng;
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp và đề xuất phương án kỹ thuật hợp lý. 3 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU ĐÊ BIỂN1.1.TÌNH HÌNH XÂY DỰNG ĐÊ BIỂN TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
1.1.1. Trên thế giới
Đê biển và các hạng mục công trình phụ trợ khác hình thành nên một hệ
thống công trình phòng chống, bảo vệ vùng nội địa khỏi bị lũ lụt và thiên tai khác từ
phía biển. Vì tính chất quan trọng của nó mà công tác nghiên cứu thiết kế, xây dựng
đê biển ở trên thế giới, đặc biệt là ở các quốc gia có biển, đã có một lịch sử phát
triển rất lâu đời. Tuy nhiên, tùy thuộc vào các điều kiện tự nhiên và trình độ phát
triển của mỗi quốc gia mà các hệ thống đê biển đã được phát triển ở những mức độ
khác nhau.
Hà Lan là một đất nước có đến 2/3 diện tích thấp hơn mực nước biển vì thế
người Hà Lan đã trở thành một trong những chuyên gia số một về thủy lợi và công
trình biển với rất nhiều thành tựu đáng khâm phục.
Hình 1.1 Đê biển Afsluitdijk – Hà Lan
Đê biển Afsluitdijk là một trong những minh chứng điển hình với tổng chiều
dài hơn 32km, rộng 90m và độ cao ban đầu 7,25m trên mực nước biển trung bình.
rộng, mái thoải (phổ biến là 1/6 hoặc thoải hơn), có cơ mái ngoài và trong kết hợp
làm đường giao thông dân sinh và bảo dưỡng cứu hộ đê. Ngoài ra, cơ đê phía ngoài
còn đảm nhận nhiệm vụ quan trọng là giảm sóng leo sóng tràn qua đê, góp phần hạ
thấp cao trình đỉnh đê thiết kế. 5 1.1.2. Trong nước
Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu vực ổ bão tây bắc Thái Bình
Dương với đường bờ biển dài, tỷ lệ giữa đường bờ biển so với diện tích lục địa là
rất lớn. Do vậy hệ thống đê biển của nước ta cũng đã được hình thành từ rất sớm, là
minh chứng cho quá trình chống chọi với thiên nhiên không ngừng của người Việt
Nam. Hệ thống đê biển đã được xây dựng, bồi trúc và phát triển qua nhiều thế hệ
với vật liệu chủ yếu là đất và đá lấy tại chỗ do người địa phương tự đắp bằng
phương pháp thủ công.
Trải qua thời gian dài xây dựng và phát triển nước ta hiện nay có khoảng
2.700km đê biển, đê cửa sông trải dài khắp từ Quảng Ninh đến Kiên Giang. Đê biển
của nước ta không liền tuyến mà bị ngăn cách nhiều đoạn bởi 114 cửa sông lớn nhỏ
khác nhau. Chính vì thế tổng chiều dài đê cửa sông xấp xỉ bằng đê biển. Trong số
117 huyện ven biển có 105 huyện có đê. Hầu hết các tuyến đê biển hiện nay có
nhiệm vụ bảo vệ sản xuất nông nghiệp. Ở đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Hóa vùng có
đê biển bảo vệ sản xuất 3 vụ, còn đối với các tỉnh miền Trung, Nam Bộ sản suất 2
vụ, có nơi 3 vụ. Có khoảng 300km đê biển để nuôi trồng thủy sản được phát triển
mạnh mẽ những năm gần đây.
Bảng 1.1: Thống kê chiều dài đê biển, đê cửa sông hiện có ở nước ta
STT Vùng biển Chiều dài đê biển, đê cửa sông (Km)
1 Bắc Bộ 719,1
2 Trung Bộ 1.410,86
Hình 1.2: Chân đê hư hỏng nặng – đê Hải Phòng
7
Hình 1.3: Sạt cục bộ mái đê biển Thái Bình Hình 1.4: Vỡ đê biển Giao Thủy (Nam Định)
b) Bờ biển miền Trung:
Xói sạt bờ biển vùng Bắc Trung Bộ từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên Huế:
- Khu vực từ Quảng Bình đến Thừa Thiên Huế là trọng điểm.
- Vùng từ cửa Thuận An đến Tư Hiền (Thừa Thiên Huế) diễn biến sạt lở rất
phức tạp, phụ thuộc vào chu kỳ dịch chuyển của các cửa sông lên phía tây hay
8 xuống đông nam với chu kỳ 30-60 năm.
Xói sạt bờ biển Nam Trung Bộ từ Đà Nẵng đến Bình Thuận: diễn biến sạt lở
phức tạp với xu thế tăng mạnh cả về quy mô lẫn cường độ và tăng dần từ Bắc vào
Nam. Tại Quảng Ngãi sạt lở tại Sa Huỳnh sẽ tăng quy mô mở rộng về phía Nam.
Thừa Thiên Huế từ cửa Thuận An đến Hòa Duân. Phú Yên xói sạt lở tăng quy mô
tại Phú Hạnh, Phú Sơn, Phú Quý, Phú Hiệp, An Nhơn, thị trấn Tuy Hòa….
Hình 1.5: Bờ biển xã Hải Dương, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên Huế sạt lở hơn 1.000m
c) Bờ biển miền Nam
Cà Mau là vùng xảy ra thường xuyên và chịu ảnh hưởng nhiề nhất cả nước.
Sóng biển xoáy sâu vào thân đê, có nơi thân đê chỉ còn 2-3m, chiều cao đê từ 2,5
Thủy Lợi đã chứng tỏ việc áp dụng các phương pháp tính toán sóng tràn tiên tiến
đang được áp dụng phổ biến hiện nay trên thế giới như TAW (2002) cho điều kiện
ở Việt Nam là hoàn toàn phù hợp (xem [13]). Đề tài cũng đã đề xuất được phương
pháp tính toán thiết kế cùng với các dạng mặt cắt đê biển điển hình phù hợp cho
từng vùng địa phương trong khu vực nghiên cứu.
Gần đây việc nghiên cứu áp dụng một số công nghệ vật liệu mới như
Consolid, kết cấu neo địa kỹ thuật, nhằm gia tăng ổn định của đê biển hiện có cũng
đã được đề cập đến ở một số đề tài nghiên cứu cấp bộ và nhà nước, điển hình như
KC.08 15/06-10 (xem [14]).
Như vậy có thể thấy rằng tuy là muộn nhưng việc áp dụng và cập nhật các tiến
bộ khoa học kỹ thuật trên thế giới vào công tác xây dựng đê biển ở nước ta đã có
những bước tiến đáng khích lệ. Tuy nhiên cần phải đẩy mạnh hơn nữa những công
trình nghiên cứu khoa học để áp dụng một cách hiệu quả các thành tựu này vào trong
điều kiện thực tiễn đặc thù của hệ thống đê biển nước ta.
1.2. TÁC ĐỘNG CỦA SÓNG, GIÓ LÊN ĐÊ BIỂN
1.2.1. Gió
Gió là sản phẩm của các quá trình khí tượng. Gió thổi trên mặt biển tạo ra
sóng và nước dâng.
Dễ thấy không thể xem gió có tác động trực tiếp mang vật chất từ bờ biển đi
một nơi khác và do đó gây xói lở (mặc dù gió có thể thổi bay một lượng đáng kể cát
khô tràn vào đất liền), gió chỉ có gián tiếp xói lở bằng cách tạo ra sóng, dòng chảy
là những yếu tố trực tiếp gây ra hiện tượng đó.
Gió trong giông, bão có thể bốc đi một lượng đáng kể cát ở bờ biển, song tác
động chính gây xói lở (biến động luồng lạch, sạt lở bờ biển, vỡ đê v.v ) vẫn do các
hậu quả chính của bão là sóng bão và dòng chảy trong bão. Tuy nhiên, thông
thường những thay đổi địa hình bờ biển do chúng chỉ tồn tại trong một thời gian nào
đó và sẽ được các yếu tố động lực thường kỳ bồi đắp để đạt được xu thế thường kỳ
11
bờ và bãi biển đang ở trạng thái mất ổn định.
13 1.3. ẢNH HƯỞNG CỦA NỀN ĐẾN KẾT CẤU ĐÊ BIỂN
1.3.1 Các dạng mặt cắt đê biển và điều kiện áp dụng
Căn cứ vào đặc điểm hình học của mái đê phía biển, mặt cắt đê biển được
chia thành 3 loại chính là đê mái nghiêng, đê tường đứng và đê hỗn hợp (trên
nghiêng dưới đứng hoặc trên đứng dưới nghiêng). Căn cứ vào điều kiện địa hình,
địa chất, thủy hải văn, vật liệu xây dựng, điều kiện thi công và yêu cầu sử dụng để
chọn dạng mặt cắt đê biển phù hợp.
1.3.1.1.Đê mái nghiêng đắp bằng đất đồng chất
Có dạng mặt cắt hình thang được áp dụng khi vùng xây dựng tuyến đê có trữ
lượng đất đủ để xây dựng công trình. Tuỳ thuộc vào điều kiện địa chất của nền đê
mà hệ số độ dốc mái (ký hiệu là m) ở phía biển từ 3,0 đến 5,0 còn mái ở phía đồng
từ 2,0 đến 3,0. Tuyến đê có chiều cao dưới 2 m nên áp dụng dạng mặt cắt b (Hình
1.11). Tuyến đê có điều kiện địa chất kém, chiều cao đê lớn và chịu tác động mạnh
của sóng thì có thể bố trí cơ đê hạ lưu và cơ giảm sóng thượng lưu và áp dụng dạng
mặt cắt a (Hình 1.11).
1.3.1.2. Đê mái nghiêng đắp bằng vật liệu hỗn hợp
Được sử dụng trong trường hợp ở khu vực xây dựng công trình không có đủ
trữ lượng đất chất lượng tốt để đắp đê đồng chất, trong khi nguồn vật liệu địa
phương (vật liệu có sẵn ở gần khu vực xây dựng công trình) có tính thấm lớn lại rất
phong phú. Có thể áp dụng các dạng mặt cắt sau:
a) Bố trí loại đất có tính thấm lớn ở bên trong thân đê còn đất có tính thấm nhỏ
đắp bọc bên ngoài (xem dạng mặt cắt d hình 1.11);
b) Bố trí đá hộc ở phía thượng lưu để chống lại phá hoại của sóng còn đất đắp
có chất lượng tốt bố trí hạ lưu (xem dạng mặt cắt c hình 1.11).
công, có thể sử dụng vải địa kỹ thuật làm cốt gia cố thân đê để khắc phục những vấn
đề trên (xem dạng mặt cắt g hình 1.11).
1.3.2 Yêu cầu chung về thiết kế mặt cắt đê biển
- Mỗi tuyến đê nên phân thành nhiều đoạn theo điều kiện tương tự về địa
chất nền đê, vật liệu xây dựng đê, ngoại lực tác động, điều kiện mặt bằng và yêu cầu
sử dụng của từng đoạn đê để tính toán thiết kế. Tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng
vùng và từng đoạn đê mà lựa chọn hình dạng mặt cắt thiết kế đê cũng như các công
trình liên quan khác.
- Nội dung thiết kế mặt cắt đê biển bao gồm xác định các kích thước và cao
trình cơ bản của mặt cắt, kết cấu đỉnh đê, thân đê và chân đê, các kết cấu chuyển tiếp.
- Hình dạng và cấu tạo mặt cắt đê biển được xác định trên cơ sở so sánh các
chỉ tiêu về kinh tế và kỹ thuật, phải đảm bảo làm việc an toàn và ổn định trong các
trường hợp thiết kế và ứng phó được với tình hình nước biển dâng do biến đổi khí
hậu toàn cầu. Hình 1.12 giới thiệu sơ đồ tổng quát các thành phần kết cấu của mặt
cắt thiết kế đê biển, hình 1.13 giới thiệu một mặt cắt thiết kế đê biển điển hình:
CHÚ DẪN:
1 Bảo vệ ngoài chân kè;
2 Chân kè;
3 Mái đê dưới phía biển;
4 Cơ đê phía biển;
5 Mái trên phía biển;
6 Đỉnh đê;
7 Mái phía đồng;
8 Thiết bị thoát nước phía
đồng;
9 Kênh tiêu nước phía đồng;
10 Thân đê;
11 Nền đê.
5 ngày, điều đó chứng tỏ sự mất ổn định của thân đê và nền đê là một quá trình phát
triển từ mất ổn định cục bộ
đến mất ổn định tổng thể.
Hình 1.14: Đê bị trượt phẳng trên lớp đất yếu
17
Hình 1.15: Lún do cố kết của lớp đất yếu
1.4. ỨNG DỤNG CÁC CÔNG NGHỆ MỚI TRONG XÂY DỰNG ĐÊ BIỂN
Hiện nay trên thế giới đang áp dụng nhiều công nghệ tiên tiến trong xây
dựng đê biển. Máy móc áp dụng trọng mọi khâu của quá trình từ khảo sát, thiết kế,
xây dựng, vận hành và bảo dưỡng nên những hư hỏng nhỏ trong điều kiện bình
thường ít xảy ra từ những sự cố thiên tai lớn. Để có thể cơ giới hóa các khâu trong
thi công đê biển thì công tác nghiên cứu sáng chế ra các dạng vật liệu, công trình có
thể áp dụng cơ giới rất được chú trọng ở các nước phát triển. Chẳng hạn với việc
trải vải lọc, lát cấu kiện bê tông mái kè phía biển ở nước ta hiện nay hoàn toàn bằng
thủ công thì ở Hà Lan có những đoạn đê được làm bằng máy từ khâu bạt mái, trải
dăm lót đến lát cấu kiện vừa đẩy nhanh được tốc độ thi công, vừa hạ giá thành xây
dựng.
Ở những năm gần đây, trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng
hiện nay tư duy và phương pháp luận thiết kế đê biển ở các nước phát triển đã và
đang có sự biến chuyển rõ rệt. Giải pháp kết cấu, chức năng và điều kiện làm việc
của đê biển được đưa ra xem xét một cách chỉnh thể hơn theo quan điểm hệ thống,
lợi dụng tổng hợp, bền vững và hài hòa với môi trường.
An toàn của đê biển đã được xem xét trong một hệ thống chỉnh thế, trong đó
nổi bật lên hai nhân tố ảnh hưởng chủ yếu: