Đánh giá hiệu quả kinh tế từ mô hình nuôi rắn ở làng lệ mật, phường việt hưng, quận long biên, thành phố hà nội - Pdf 23

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: Đánh giá hiệu quả kinh tế từ mô hình nuôi rắn ở làng Lệ
Mật, phường Việt Hưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội
Tên sinh viên: Trần Ngọc Ngà
Chuyên ngành đào tạo: Kinh tế Nông nghiệp
Lớp: K55KTNNB
Niên khóa: 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn: TS.Lê Ngọc Hướng

HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
1) Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và các kết quả nghiên cứu của bài khóa
luận tốt nghiệp là trung thực và chưa được sử dụng trong các bài luạn văn khác .
2) Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ để tôi hoàn thành bài khóa luận
này đã được cảm ơn và mọi thông tin trích dẫn trong bài luận văn đều được chỉ
rõ nguồn gốc.
Tác giả khóa luận
Trần Ngọc Ngà
i
LỜI CẢM ƠN
Sau gần 4 năm học tâp tại trường Đại học Nông nghiệp Hà Nôi, từ năm
2010 tới năm 2014. Em đã tiếp thu được rất nhiều kiến thức, cả về chuyên
môn lẫn các lĩnh vực khác, để áp dụng những kiến thức này vào thực tiễn đời
sống và công việc, được phép của nhà trường, khoa Kinh tế và Phát triển
nông thôn, bộ môn Phân tích định lượng, em tiến hành thực hiện đề tài.
“ Đánh giá hiệu quả kinh tế từ mô hình nuôi rắn của ở làng Lệ Mật,
phường Việt Hưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.”
Em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:

của mô hình này để đem áp dụng cho các địa phương khác một cách hiệu quả
nhất.
- Để nghiên cứu đề tài này, mục tiêu chủ yếu là tập trung vào việc phân
tích và đánh giá những hiệu quả những hiệu quả mô hình nuôi rắn mang lại,
nêu ra một số hạn chế và phương pháp cải thiện. Đề tài này nghiên cứu trong
phạm vi những hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi rắn tại làng Lệ Mật,
phường Việt Hưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội trong khoảng thời
gian từ năm 2010 tới năm 2012. Đề tài nghiên cứu các đối tượng như các vấn
đề lý luận và thực tiễn liên quan tới việc nuôi rắn ở làng Lệ Mật, các loại rắn
iii
được nuôi, số lượng, các hộ gia đình nuôi rắn, các nhà hàng ẩm thực rắn, hiệu
quả mà nó đem lại.
+ Các cơ sở lí luận có liên quan tới nuôi rắn bao gồm:
• Khái niệm, nội dung của hiệu quả kinh tế, trong nội dung của
hiệu quả có ý nghĩa của hiệu quả sản xuất kinh doanh; bản chất của hiệu quả
kinh tế; tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh; sự cần
thiết nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh; phân loại hiệu quả sản
xuất kinh doanh; các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh.
• Kinh tế hộ bao gồm các nội dung: hộ; hộ nông dân; kinh tế nông
hộ; kinh tế trang trại; các yếu tố nguồn lực cơ bản của hộ; vai trò của kinh tế
hộ trong quá trình phát triển.
• Một số nội dung về chăn nuôi.
• Một số nội dung về chi phí.
• Các chỉ tiêu tài chính.
• Các nhân tố ảnh hưởng tới việc nuôi rắn như chuồng trại; chọn
giống; vệ sinh phòng bệnh; kỹ thuật chăm sóc rắn vào các mùa.
+ Cơ sở thực tiễn liên quan tới nuôi rắn bao gồm:
• Những chính sách, chiến lược có ảnh hưởng tới việc phát triển
kinh tế hộ, kinh tế trang trại và đặc biệt là phát triển nghề nuôi rắn.

chủ yếu tập trung vào chi phí mua con giống và chi phí thức ăn, trong đó lớn
v
nhất là chi phí thức ăn, chi phí con giống xếp thứ 2 và xếp sau là những chi
phí khác.
+ Doanh thu và lợi nhuận đem lại từ rắn qua 3 năm là khá cao, ngoại
trừ năm 2010, do phải bỏ vốn mua con giống, nên doanh thu và lợi nhuận
thấp, 2 năm tiếp theo, 2011; 2012 thì giá bán , số lượng rắn bán ra thị trường
tăng lên làm cho doanh thu và lợi nhuận đạt được cũng tăng theo và tăng với
mức cao.
+ Các nhà hàng kinh doanh ẩm thực rắn là nơi tạo ra nhiều công ăn việc
làm và có nhiều lơi nhuận, doanh thu.
+ Nghề nuôi rắn của làng Lệ Mật đã tạo ra nhiều công ăn việc làm, thu
hút một số lượng khá lao động trong và ngoài địa phương.
+ Về thực trạng của các hộ dân nghiên cứu:
• Đa phần các chủ hộ nuôi rắn đều có tuổi đời, kinh nghiệm cũng
như trình độ văn hóa, chuyên môn cao, điều này tạo điều kiện thuận lợi trong
quá trình nuôi rắn.
• Các hộ dân có sự tích cực trong việc trau dồi, tìm tòi thêm các
kiến thức về chăn nuôi rắn và luôn sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau.
• Đa phần các hộ dân đều có số nhân khẩu tham gia nuôi rắn lớn
và gần như không phải thuê thêm lao động ngoài.
• Các hộ dân có xu hướng nuôi rắn trong các kiểu chuồng khác
nhau và nuôi rắn trong những khoảng thời gian giống nhau.
+ Khóa luận đã nhận định được những thuận lợi, khó khăn trong quá
trình nuôi rắn, từ đó đưa ra các giải pháp để phát triển nghề rắn có hiệu quả.
+ Khóa luận đã đưa ra những kết luận và trình bày một số kiến nghị với
nhà nước, cơ quan; chính quyền địa phương, người dân, để phát triển nghề
rắn theo hướng ngày càng có hiệu quả.
vi
MỤC LỤC

Phần III. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên
cứu 32
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 32
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên của địa bàn nghiên cứu 32
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 34
3.1.3 Quá trình phát triển nghề nuôi rắn ở làng Lệ Mật 35
3.1.4 Một số kết quả đạt được 36
3.2 Phương pháp nghiên cứu 36
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 36
3.2.2 Phương pháp thu nhập dữ liệu 37
3.2.3 Phương pháp xử lý dữ liệu 38
3.2.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 38
3.2.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 39
Phần IV. Kết quả nghiên cứu 40
4.1 Thực trạng nuôi rắn của làng Lệ Mật 40
4.1.1 Số lượng các hộ nuôi rắn qua 3 năm 2010; 2011; 2012 40
4.1.2 Sự thay đổi về số lượng rắn qua 3 năm 2010; 2011; 2012 42
4.1.3 Giá bán rắn và doanh thu từ rắn qua 3 năm 2010; 2011; 2012 44
4.1.4 Chi phí nuôi rắn của các hộ dân qua 3 năm 2010; 2011;2012 45
4.1.5 Lợi nhuận của các hộ nuôi rắn qua 3 năm 2010; 2011; 2012 47
4.1.6 Một số nội dung của các nhà hàng ẩm thực 48
4.1.7 Số lao động tham gia nghề rắn của làng Lệ Mật qua 3 năm 2010;
2011; 2012 51
4.2 Thực trạng các hộ điều tra 54
4.2.1 Tình hình chung của hộ điều tra 54
viii
4.2.2 Thực trạng các vấn đề nghiên cứu của hộ 60
4.3 Đánh giá chung 67
4.3.1 Kết quả và đánh giá 67
4.3.2 Những thuận lợi của quá trình nuôi rắn của làng Lệ Mật 70

2011; 2012 40
Bảng 4.2 Sự thay đổi số lượng rắn qua 3 năm 2010; 2011; 2012 42
Bảng 4.3 Giá bán rắn và doanh thu từ rắn 3 năm 2010; 2011; 2012 của các
hộ dân 44
Bảng 4.4 Chi phí nuôi rắn của các hộ dân qua 3 năm 2010; 2011; 2012 45
Bảng 4.5 Phân tích lợi nhuận của các hộ nuôi rắn 47
Bảng 4.6 Số liệu về các nhà hàng kinh doanh các sản phẩm về rắn của làng
Lệ Mật qua 3 năm 2010, 2011, 2012 49
Bảng 4.7 Cơ cấu lao động tham gia nghề rắn của làng Lệ Mật năm 2010;
2011; 2012 52
Bảng 4.8 Trình độ văn hóa của các chủ hộ nuôi rắn 54
Bảng 4.9 Số nhân khẩu tham gia nuôi rắn của hộ 55
Bảng 4.10 Chuyên môn được đào tạo của các chủ hộ nuôi rắn 57
Bảng 4.11 Độ tuổi và kinh nghiệm nuôi rắn của các chủ hộ 59
Bảng 4.12 Nguồn thông tin tiếp cận về kỹ thuật nuôi rắn 60
Bảng 4.13 Các kiểu chuồng nuôi rắn của các hộ 61
Bảng 4.14 Nguồn rắn giống mà các hộ dân mua 65
xi
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
4.1 So sánh số hộ nuôi phân theo số lượng nuôi trong 3 năm 2010, 2011,
2012 41
4.2 Sự thay đổi các chi phí nuôi rắn qua 3 năm 2010, 2011, 2012 46
4.3 Tỷ lệ các chủ hộ nuôi rắn phân theo trình độ văn hóa 54
4.4 Tỷ lệ số nhân khẩu tham gia nuôi rắn của các hộ dân năm 2012 56
4.5 Tỷ lệ chuyên môn được đào tạo của các chủ hộ dân nuôi rắn 58
4.6 Tỷ lệ các kiểu chuồng nuôi rắn của các hộ dân trong làng Lệ Mật năm
2012 62
xii
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ

đó tìm ra những điểm tốt cần phải áp dụng triệt để và những điểm hạn chế cần
khắc phục.
Để đánh giá hiệu quả kinh tế mà mô hình nuôi rắn, có thể lấy một vài ví
dụ điển hình, trong đó phải nói tới mô hình nuôi rắn ở làng Lệ Mật, phường
Việt Hưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội. Được sự khuyến khích của cơ
quan khuyến nông nên các hộ dân nơi đây đã mạnh dạn đầu tư, tiến hành nuôi
nhiều loại rắn khác nhau. Trong vài năm qua đã đem lại những hiệu quả hết
sức to lớn, tạo ra công ăn, việc làm, phát triển kinh tế và hạn chế các tệ nạn xã
hội. Giờ đây, làng Lệ Mật đã trở lên nổi tiếng với nghề nuôi rắn, hàng năm
cung cấp một lượng lớn rắn cho các nhà hàng, công ty và là mô hình nuôi
rắn được nhiều địa phương khác tìm hiểu, học tập và áp dụng. Tuy nhiên chưa
có một sự đánh giá đầy đủ về hiệu quả kinh tế mà mô hình nuôi rắn ở làng Lệ
Mật đem lại, do đó em quyết định lựa chọn đề tài
“Đánh giá hiệu qủa kinh tế của mô hình nuôi rắn ở làng Lệ Mật,
quận Long Biên, thành phố Hà Nội”
Sau đây sẽ là những nội dung nghiên cứu của đề tài về đánh giá mô
hình nuôi rắn ở làng Lệ Mật. Hy vọng với những thông tin của bài nghiên cứu
này sẽ giúp chúng ta có thể đạt được mức tối đa hiệu quả của mô hình và
đồng thời có thể áp dụng được mô hình nuôi rắn ở nhiều địa phương khác
nhau.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
2
Tìm hiểu và đánh giá những hiệu quả kinh tế từ một mô hình phát triển
kinh tế mới, mô hình nuôi rắn của các hộ dân ở làng Lệ Mật, phường Việt
Hưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về mô hình nuôi
rắn, hiệu quả mô hình nuôi rắ.
- Đánh giá thực trạng kết quả và hiệu quả của mô hình nuôi rắn tại làng

đó; K là kết quả thu được từ hiện tượng (quá trình) kinh tế đó và C là chi phí
toàn bộ để đạt được kết quả đó. Và như thế cũng có thể khái niệm ngắn gọn:
hiệu quả kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế và được xác định bởi
tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.[4]
Quan điểm này đã đánh giá được tốt nhất trình độ sử dụng các nguồn
lực ở mọi điều kiện “động” của hoạt động kinh tế. Theo quan niệm như thế
hoàn toàn có thể tính toán được hiệu quả kinh tế trong sự vận động và biến
đổi không ngừng của các hoạt động kinh tế, không phụ thuộc vào quy mô và
tốc độ biến động khác nhau của chúng.[4]
Từ định nghĩa về hiệu quả kinh tế như đã trình bày ở trên, chúng ta có
thể hiểu hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù
kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị,
nguyên vật liệu và tiền vốn) nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã xác
định.[4]
4
2.1.1.2 Nội dung của hiệu quả kinh tế
Thực chất khái niệm hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế của
hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng đã khẳng định bản chất của hiệu quả
kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của
các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao
động, thiết bị máy móc, nguyên nhiên vật liệu và tiền vốn) để đạt được mục
tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp –
mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.[4]
Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạt
động sản xuất kinh doanh, cũng cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệm
hiệu quả và kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh. Hiểu kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là những gì mà doanh nghiệp đạt
được sau một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định, kết quả cần đạt cũng là
mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của một doanh nghiệp có thể là những đại lượng cân đong đo đếm được như

người sản xuất cũng như môi trường kinh tế xã hội khác mà trong đó kỹ thuật
được áp dụng.
Hiệu quả phân bổ là chỉ tiêu hiệu quả trong đó các yếu tố giá sản phẩm
và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn
vị chi phí tăng thêm về đầu vào hay nguồn lực. Thực chất của hiệu quả phân
bổ là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố về giá của đầu vào và giá của
đầu ra. Vì thế, nó còn được gọi là hiệu quả về giá. Việc xác định hiệu quả này
giống như xác định các điều kiện về lý thuyết biên để tối đa hóa lợi nhuận, có
nghĩa là giá trị biên của sản phẩm phải bằng giá trị biên của nguồn lực sử
dụng vào sản xuất.
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu
quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật
6
và giá trị phải tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông
nghiệp. Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật
và hiệu quả phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế.[11]
Ngoài ra, còn có một khái niệm hiệu quả nữa đó là hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạt
được các mục tiêu xã hội nhất định. Các mục tiêu xã hội thường thấy là : giải
quyết công ăn việc làm trong phạm vi toàn xã hội hoặc từng khu vực kinh tế ;
giảm số người thất nghiệp; nâng cao trình độ và đời sống văn hóa, tinh thần
cho người lao động, đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động, nâng
cao mức sống cho các tầng lớp nhân dân trên cơ sở giải quyết tốt các quan hệ
trong phân phối, đảm bảo và nâng cao sức khỏe; đảm bảo vệ sinh môi
trường; Nếu xem xét hiệu quả xã hội, người ta xem xét mức tương quan
giữa các kết quả (mục tiêu) đạt được về mặt xã hội (cải thiện điều kiện lao
động, nâng cao đời sống văn hóa và tinh thần, giải quyết công ăn việc làm )
và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Thông thường các mục tiêu kinh tế-
xã hội phải được chú ý giải quyết trên giác độ vĩ mô nên hiệu quả xã hội cũng
thường được quan tâm nghiên cứu ở phạm vi quản lý vĩ mô.[4]

thêm các hoạt động khác, tuy nhiên đó chỉ là các hoạt động phụ.
2.1.2.3 Kinh tế nông hộ
Kinh tế nông hộ là loại hình kinh tế trong đó các hoạt động sản xuất
chủ yếu dựa vào lao động gia đình (lao động không thuê) và mục đích của
loại hình kinh tế này trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình (không
phải mục đích chính là sản xuất hàng hoá để bán).[5]
Đặc điểm cơ bản của kinh tế nông hộ[5]
- Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu với quá trình quản lý và
sử dụng các yếu tố sản xuất. Bởi vì sở hữu trong nông hộ là sở hữu chung,
8
mọi thành viên đều có thể sử dụng và tự quản lý các yếu tố sản xuất như
vốn, đất đai để tạo ra của cải đóng góp vào ngân quỹ chung của nông hộ.
- Lao động quản lý và lao động trực tiếp có sự gắn bó chặt chẽ với nhau
và được chi phối bởi quan hệ huyết thống. Thông thường chủ hộ thường là
người quản lý, điều hành và trực tiếp tham gia sản xuất. Với đặc điểm này,
việc tổ chức sản xuất trong nông hộ diễn ra tương đối linh hoạt và thống
nhất, cơ cấu tổ chức rất đơn giản.
- Quy mô sản xuất nhỏ, hơn nữa các nguồn lực có thể được huy động
hay thu hồi dễ dàng nên các nông hộ hoàn toàn có khẳ năng thích nghi và tự
điều chỉnh tốt. Gặp điều kiện thuận lợi, nông hộ có thể phát huy tối đa nguồn
lực cho sản xuất ngay cả khi giảm khẩu phần ăn tất yếu của mình. Trong hoàn
cảnh bất lợi, sản xuất được thu hẹp, thậm chí có thể quay về với sản xuất giản
đơn.
- Quan hệ huyết thống, họ tộc, văn hoá và đặc biệt là lợi ích kinh tế
chung của các thành viên Tất cả nằm đan xen trong một trật tự tổ chức hết
sức đa dạng và phức tạp, song chúng cùng tác động tạo nên sự đồng tâm, hiệp
lực giữa các thành viên, họ cùng tự giác lao động để phát triển kinh tế mà
không cần đến thưởng phạt. Điều này không thể có ở các đơn vị kinh tế khác.
- Kinh tế hộ được đặc trưng bởi sự tham gia từng phần vào thị trường.
Chính vì thế, trên thị trường đầu vào, hộ chỉ bán từng phần nguồn lực của

sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ để cung cấp cho gia đình và xã hội. Lao động
gia đình của nông hộ gồm những người trong độ tuổi lao động và cả những
người ngoài độ tuổi lao động có thể tham gia lao động khi cần thiết. Lao động
của gia đình không loại trừ lao động đổi công, lao động thuê mướn hoặc đi
làm thuê vào thời vụ lao động như thời điểm làm đất, thu hoạch [5]
Xác định lao động gia đình của hộ nông dân cần chú ý đến trình độ lao
10
động, tay nghề lao động, đặc biệt là lao động tiềm năng, tức những người
đang học nghề, hoặc chưa đến tuổi lao động còn đi học [5]
+ Đất đai
Bất kỳ hộ nông dân nào cũng đều có quyền sở hữu đất đai hoặc được
nhà nước phân chia đất đai để sản xuất. Việc phân chia đất đai cho người
nông dân không theo một tiêu chung thị trường nhất định, đây là thuộc tính
quan trọng đối với mọi nông dân. Đặc điểm này phân biệt người nông dân với
người lao động không có đất đai hoặc công nhân đô thị.[5]
Sự cần thiết đối với hộ nông dân là phải hiểu rõ từng loại ruộng đất cụ
thể, diện tích, chất đất; vị trí địa lý; địa hình; điều kiện các yếu tố phục vụ như
thuỷ lợi; giao thông; thời tiết khí hậu; quản lý Xác định rõ từng thửa đất mà
hộ nông dân đang và sẽ sử dụng là rất quan trọng trong việc bố trí sản xuất
kinh doanh của hộ.[5]
+Tiền vốn và trang thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh
Tiền vốn và trang thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh là một trong 3
yếu tố nguồn lực quan trọng trong sản xuất kinh doanh của nông hộ. Tuy
nhiên, đối với các hộ nông dân, việc phân biệt rõ ràng lượng tiền vốn và trang
thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh và phục vụ tiêu dùng gia đình là rất khó,
đặc biệt là việc xác định lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh của các hộ gia
đình do sự khó xác định công lao động của gia đình bỏ vào sản xuất kinh
doanh. Đây là một đặc điểm nữa để phân biệt hộ nông dân với các doanh
nghiệp hoặc công ty. Cần phải xác định rõ lượng tiền vốn và trang thiết bị
phục vụ sản xuất kinh doanh của hộ. Trên cơ sở đó, xác định chính xác và đầy

việc làm. (Đâychỉ là vốn tài sản cố định, chưa kể vốn lưu động).
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status