Trường Đại học Lao động – Xã hội Khóa luận tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Với sự phát triển ngày càng cao của khoa học kỹ thuật, các phương tiện
giao thông ngày càng được cải tiến theo hướng hiện đại hơn và được sử dụng
phổ biến hơn, giúp cho việc giao lưu văn hóa giữa các vùng miền cũng như
việc đi lại, giao thương, buôn bán của người dân ngày càng dễ dàng và thuận
lợi hơn. Tuy nhiên bên cạnh đó cũng xuất hiện những mặt trái rất đáng quan
tâm như vấn đề an toàn giao thông, đặc biệt là an toàn giao thông đường bộ
ngày càng trở thành một vấn đề nhức nhối của toàn xã hội. Theo con số thống
kê hàng năm, số vụ tai nạn giao thông đường bộ trong những năm gần đây
ngày càng có xu hướng gia tăng. Tai nạn giao thông đã để lại những hậu quả
lớn cho xã hội cả về mặt vật chất cũng như về con người. Nhằm hạn chế cũng
như khắc phục một phần hậu quả do tai nạn giao thông đem lại, bảo hiểm xe
cơ giới đã ra đời như là một tất yếu khách quan với mục đích giúp các chủ xe
khắc phục bớt khó khăn, ổn định tài chính nhanh chóng hơn khi gặp các rủi ro,
tai nạn bất ngờ…, đồng thời cũng góp phần ổn định xã hội.
Trong những năm qua, dù mới thâm nhập thị trường song Công ty cổ
phần Bảo hiểm Hàng Không đã thu được nhiều thành tựu đáng kể. Bên cạnh
thế mạnh về lĩnh vực bảo hiểm hàng không thì các nghiệp vụ bảo hiểm khác
cũng đã thu được rất nhiều kết quả đáng khích lệ, trong số đó phải kể đến
nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới. Nghiệp vụ này đã đóng góp không
nhỏ về mặt doanh thu cho toàn công ty cũng như mang lại những lợi ích thiết
thực cho xã hội. Tuy nhiên so với tiềm năng rất lớn của thị trường hiện nay thì
số lượng xe tham gia bảo hiểm vật chất xe còn tương đối thấp so với tổng
lượng xe cơ giới hiện đang lưu hành. Vì vậy cần phải có những giải pháp hữu
hiệu để khai thác tối đa nghiệp vụ này - một nghiệp vụ bảo hiểm có tiềm năng
rất lớn ở nước ta hiện nay và trong tương lai. Chính vì lý do đó mà em quyết
định chọn đề tài: “ Thực trạng triển khai nghiệp vụ Bảo hiểm vật chất xe cơ
giới tại Công ty cổ phần Bảo hiểm Hàng Không – chi nhánh Hà Nội giai đoạn
2008-2010” làm đề tài nghiên cứu và làm luận văn tốt nghiệp của mình, nhằm
Trường Đại học Lao động – Xã hội Khóa luận tốt nghiệp
Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả triển
khai nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại công ty cổ phần bảo hiểm
Hàng Không - chi nhánh Hà Nội trong thời gian tới.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song do thời gian nghiên cứu không lâu
cộng với kiến thức bản thân còn nhiều hạn chế nên khóa luận của em không
thể tránh khỏi thiếu sót và khuyết điểm. Em rất mong nhận được những ý kiến
đóng góp của các thầy cô để bài viết của em được đầy đủ và hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo, Th.s Lục Mạnh Hiển cùng tập thể
cán bộ nhân viên Công ty Cổ phần Bảo hiểm Hàng Không - Chi nhánh Hà Nội
đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này!
Hà Nội, tháng 6 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Trương Thị Thanh Thủy
SVTH: Trương Thị Thanh Thủy 3 GVHD: Th.S Lục Mạnh Hiển
Trường Đại học Lao động – Xã hội Khóa luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP
VỤ BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI
1.1. Một số vấn đề cơ bản về hoạt động kinh doanh bảo hiểm và nghiệp vụ
Bảo hiểm vật chất xe cơ giới
1.1.1. Khái niệm và đặc trưng hoạt động kinh doanh bảo hiểm
1.1.1.1. Khái niệm: Kinh doanh bảo hiểm (KDBH) là hoạt động của
doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh
nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của bên mua bảo hiểm, trên cơ sở bên mua
bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp trả tiền bảo hiểm cho người thụ
hưởng hoặc bồi thường cho bên mua bảo hiểm khi có các sự kiện bảo hiểm
xảy ra.
1.1.1.2. Đặc trưng của hoạt động kinh doanh bảo hiểm:
Thực chất của hoạt động kinh doanh bảo hiểm là các DNBH chấp nhận
rủi ro mà bên tham gia bảo hiểm chuyển giao cho họ, đồng thời chấp nhận trả
khắc phục hậu quả rủi ro, để từ đó giúp bên tham gia bảo hiểm ổn định cuộc
sống hoặc sản xuất, làm cho sản xuất kinh doanh phát triển bình thường và từ
đó góp phần đảm bỏa an toàn cho xã hội. Ngoài ra kinh doanh bảo hiểm còn
đáp ứng một số mục đích khác như tiết kiệm, đầu tư, đề phòng hạn chế tổn
thất và tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động…
Mục đích kinh tế của KDBH là lợi nhuận, đây là mục đích chính mà các
doanh nghiệp bảo hiểm hướng tới. Nhưng bên cạnh đó thì hoạt động kinh
doanh bảo hiểm còn giúp liên kết gắn bó các thành viên trong xã hội cùng vì
lợi ích của cộng đồng, vì sự ổn định và phồn vinh của đất nước. Do đó hoạt
động kinh doanh bảo hiểm đã thể hiện tính tương hỗ, tính xã hội và nhân văn
sâu sắc.
1.1.2. Vai trò của bảo hiểm vật chất xe cơ giới
Nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới giữ một vai trò quan trọng trong
việc hạn chế và khắc phục rủi ro, góp phần đảm bảo an toàn xã hội. Cụ thể:
Thứ nhất, góp phần ổn định tài chính cho chủ phương tiện khi có rủi ro
xảy ra gây tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm.
Khi tham gia giao thông không ai muốn rủi ro xảy ra nhưng rủi ro là
ngẫu nhiên, không loại trừ bất cứ ai. Khi rủi ro xảy ra, thường để lại những
hậu quả to lớn về con người và vật chất, gây ra những tổn thất về tài chính,
SVTH: Trương Thị Thanh Thủy 5 GVHD: Th.S Lục Mạnh Hiển
Trường Đại học Lao động – Xã hội Khóa luận tốt nghiệp
làm gián đoạn sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, bảo hiểm thông qua công tác
bồi thường nhanh chóng, kịp thời góp phần ổn định tình hình tài chính, tránh
những xáo trộn lớn cho chủ phương tiện, giúp họ nhanh chóng thoát khỏi tình
trạng khó khăn; đồng thời qua đó góp phần xoa dịu, làm giảm bớt căng thẳng
giữa chủ xe và người bị nạn.
Thứ hai, tăng khả năng tự chủ về tài chính cho người tham gia bảo hiểm.
Khi tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, nguồn vốn chính là yếu tố
quyết định sức mạnh, vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. Trong quá trình
hoạt động, doanh nghiệp luôn phải trích ra một quỹ dự trữ đề phòng hạn chết
dụng ngân sách nhà nước phối hợp với các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư hỗ
trợ, nâng cao chất lượng hệ thống cơ sở hạ tầng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu đi lại
của người dân từ đó góp phần nâng cao chất lượng đời sống dân cư.
Thứ năm, góp phần làm tăng doanh thu cho các doanh nghiệp bảo hiểm,
tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động.
Doanh thu phí mà các công ty bảo hiểm thu được thông qua việc triển
khai nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới là tương đối lớn so với các nghiệp
vụ khác do đặc điểm của các phương tiện giao thông là ngày càng gia tăng cả
về số lượng và chủng loại. Mặt khác, ý thức của người dân cũng ngày càng
được nâng cao, họ quan tâm hơn đến các rủi ro có thể xảy ra đối với mình và
cố gắng tìm mọi cách để đề phòng, hạn chế những rủi ro có thể xảy ra. Do đó,
số lượng người tham gia loại hình bảo hiểm này ngày càng nhiều. Chính điều
này đã làm cho doanh thu của các doanh nghiệp bảo hiểm tăng lên đáng kể.
1.2. Nội dung cơ bản của bảo hiểm vật chất xe cơ giới
1.2.1. Đối tượng bảo hiểm và phạm vi bảo hiểm
1.2.1.1. Đối tượng bảo hiểm: Xe cơ giới, theo quy định hiện hành là tất
cả các loại xe tham gia giao thông trên đường bộ bằng động cơ của chính
chiếc xe đó, bao gồm ô tô, mô tô và xe máy. Đối tượng bảo hiểm vật chất xe
cơ giới là bản thân những chiếc xe còn giá trị và được phép lưu hành trên
lãnh thổ quốc gia. Để xác định là xe cơ giới, người ta thường dùng các tiêu
thức sau:
Thứ nhất, xe cơ giới phải được gắn động cơ (khác với xe không có
động cơ như xe đạp, xe do gia súc kéo…).
Thứ hai, xe cơ giới di chuyển trên đất liền không cần đường dẫn bằng
chính động cơ gắn trên nó (khác với tàu hỏa, xe điện…).
SVTH: Trương Thị Thanh Thủy 7 GVHD: Th.S Lục Mạnh Hiển
Trường Đại học Lao động – Xã hội Khóa luận tốt nghiệp
Thứ ba, xe cơ giới phải có tối thiểu một chỗ ngồi cho người điều
khiển.
Xe cơ giới bao gồm nhiều loại: ô tô, mô tô, xe chở hàng và xe chuyên
Phạm vi bảo hiểm là giới hạn những rủi ro khi xảy ra gây tổn thất cho
xe cơ giới sẽ được người bảo hiểm chịu trách nhiệm bồi thường.
Rủi ro được bảo hiểm là những thiệt hại vật chất xe do:
Tai nạn do đâm va, lật đổ: trường hợp này rất dễ xảy ra và cần được bảo
hiểm nhất.
Tai nạn do thiên tai: cháy, nổ, bão, lụt, động đất, sét đánh, mưa…
Mất cắp: Trong trường hợp này chỉ mất cắp toàn bộ xe mới được bảo
hiểm, mất cắp bộ phận xe không được bảo hiểm là do các nguyên nhân
sau:
Thứ nhất, tránh trục lợi bảo hiểm, vì chủ xe có thể tháo bộ phận xe giấu
đi và đòi nhà bảo hiểm phải bồi thường.
Thứ hai, bộ phận xe thường có giá trị không cao. Do đó, chi phí xác
nhận mất cắp lớn hơn so với số tiền được bồi thường.
Thứ ba, nâng cao tinh thần trách nhiệm của người mua bảo hiểm trong
việc bảo vệ tài sản của mình.
Tai nạn do rủi ro bất ngờ khác gây nên.
Ngoài việc được bồi thường những thiệt hại vật chất xảy ra cho xe được
bảo hiểm trong những trường hợp nêu trên, các công ty bảo hiểm còn thanh
toán cho chủ xe tham gia bảo hiểm những chi phí cần thiết và hợp lý như :
• Chi phí ngăn ngừa và hạn chế tổn thất phát sinh thêm khi xe bị
thiệt hại do các rủi ro được bảo hiểm
• Chi phí bảo vệ xe và kéo xe thiệt hại tới nơi sửa chữa gần nhất.
• Chi phí giám định thuộc trách nhiệm của bảo hiểm.
• Chi phí ra toà (nếu có ).
Rủi ro loại trừ: Công ty bảo hiểm không nhận bảo hiểm và không chịu
bồi thường cho những thiệt hại vật chất của xe xảy ra do:
Thứ nhất, hao mòn tự nhiên, hỏng hóc do sử dụng, lão hóa, mất giá,
giảm dần chất lượng, hỏng hóc do khuyết tật hoặc hư hỏng thêm do sửa
chữa, trong quá trình sửa chữa (bao gồm cả chạy thử).
SVTH: Trương Thị Thanh Thủy 9 GVHD: Th.S Lục Mạnh Hiển
Trường Đại học Lao động – Xã hội Khóa luận tốt nghiệp
Ngoài ra, người bảo hiểm có thể từ chối một phần hoặc toàn bộ số
tiền bồi thường cho chủ xe khi:
• Chủ xe cung cấp thông tin không đầy đủ, trung thực khi kê khai các nội
dung trong giấy bảo hiểm (về tình trạng xe, địa bàn hoạt động của xe).
• Không thực hiện đầy đủ các quy định về: thông báo tai nạn, truy đòi
người thứ ba, vấn đề này phụ thuộc vào yêu cầu quản lý rủi ro của
người bảo hiểm, vào những yếu tố khác của hợp đồng như là phí bảo
hiểm.
Cần lưu ý rằng, trong thời hạn bảo hiểm, nếu chủ xe chuyển quyền sở
hữu xe cho chủ xe khác thì quyền lợi bảo hiểm vẫn có hiệu lực với chủ xe
mới. Tuy nhiên, nếu chủ xe cũ không chuyển quyền lợi bảo hiểm cho chủ xe
mới thì công ty bảo hiểm sẽ hoàn lại phí cho họ và làm thủ tục bảo hiểm cho
chủ xe mới nếu họ có yêu cầu.
1.2.2. Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm :
1.2.2.1. Giá trị bảo hiểm:
Giá trị bảo hiểm xe cơ giới là giá trị thực tế trên thị trường của xe tại
thời điểm người tham gia bảo hiểm mua bảo hiểm.
Giá xe trên thị trường luôn luôn biến động. Vì vậy, để xác định được
giá trị của xe, các công ty bảo hiểm thường căn cứ vào các nhân tố:
- Loại xe.
- Năm sản xuất.
- Mức độ mới cũ của xe.
- Thể tích làm việc của xi lanh…
Giá trị bảo hiểm được xác định theo hai trường hợp:
- Nếu là xe mua mới giá trị bảo hiểm chính là giá mua mới của xe.
- Nếu là xe đã qua sử dụng thì giá trị bảo hiểm của xe được tính bằng
công thức: Giá trị bảo hiểm = Nguyên giá - Khấu hao
+ Nguyên giá ở đây chính là giá mua mới hay giá trị ban đầu của xe.
SVTH: Trương Thị Thanh Thủy 11 GVHD: Th.S Lục Mạnh Hiển
1.2.3. Phí bảo hiểm:
Phí bảo hiểm vật chất xe cơ giới là khoản tiền nhất định mà người tham
gia bảo hiểm phải nộp cho công ty bảo hiểm sau khi kí kết hợp đồng bảo
hiểm.
SVTH: Trương Thị Thanh Thủy 12 GVHD: Th.S Lục Mạnh Hiển
Trường Đại học Lao động – Xã hội Khóa luận tốt nghiệp
Phí bảo hiểm phải đóng cho mỗi đầu xe đối với mỗi loại xe được tính
theo công thức:
P = f + d
Trong đó: P: Phí thu mỗi đầu xe.
f: Phí thuần
d: Phụ phí.
Phí thuần (f ) được xác định căn cứ vào số liệu thống kê về tình hình
bồi thường tổn thất trong những năm trước đó và được xác định như sau:
f =
∑
∑
=
=
×
n
i
i
n
i
ii
C
TS
1
1
S
b
- Số tiền bảo hiểm.
R - Tỷ lệ phí bảo hiểm.
Tỷ lệ phí ở công thức này do Bộ Tài Chính quy định và nó phụ thuộc vào các
yếu tố sau:
Xác suất thống kê những vụ tai nạn giao thông xảy ra (nói chung).
Thiệt hại bình quân mỗi vụ tai nạn giao thông xảy ra (nói chung).
Thời hạn bảo hiểm (ngắn hạn hoặc dài hạn).
1.2.4. Đề phòng và hạn chế tổn thất:
Khi triển khai nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới, các công ty bảo
hiểm thường có những biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất nhằm hạn chế
tối đa các tai nạn và rủi ro có thể xảy ra. Từ đó, giảm thiểu được chi phí bồi
thường, giúp cho nhà bảo hiểm hoạt động có hiệu quả hơn. Hàng năm, các
công ty bảo hiểm thường tiến hành trích một phần từ doanh thu phí của nghiệp
vụ để phục vụ cho công tác đề phòng và hạn chế tổn thất. Các biện pháp chủ
yếu thường được thực hiện là: xây dựng hệ thống biển báo, xây dựng đường
lánh nạn, lắp hệ thống gương cầu tại những nơi đường rộng hay đèo dốc…Tuy
nhiên, để đề phòng và hạn chế tổn thất một cách hiệu quả nhất lại phụ thuộc
chủ yếu vào ý thức của người chủ phương tiện. Vì vậy, nếu chủ phương tiện
thực hiện tốt các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất như: thắt dây an toàn
khi lái xe, chạy đúng đường, đúng tốc độ quy định…sẽ làm giảm số vụ tai nạn
xảy ra. Từ đó sẽ làm giảm xác suất xảy ra rủi ro dẫn đến phí bảo hiểm giảm và
khoản chi bồi thường của nhà bảo hiểm cũng được giảm xuống.
1.2.5. Giám định và bồi thường tổn thất:
SVTH: Trương Thị Thanh Thủy 14 GVHD: Th.S Lục Mạnh Hiển
Trường Đại học Lao động – Xã hội Khóa luận tốt nghiệp
1.2.5.1. Giám định tổn thất:
Giám định tổn thất là quá trình giám định những thiệt hại trong vụ tai
nạn. Công tác giám định nhằm mục đích xác định xem rủi ro xảy ra có thuộc
• Xác định mức độ thiệt hại thuộc phạm vi, trách nhiệm của nhà
bảo hiểm.
• Tất cả các thiệt hại thuộc phạm vi, trách nhiệm của nhà bảo hiểm
phải được tiến hành giám định.
• Trong trường hợp đặc biệt nếu không tiến hành giám định được
hoặc thiệt nhại nhỏ (dưới 1 triệu đồng) thì căn cứ vào biên bản
của các cơ quan chức năng, căn cứ vào ảnh chụp, các hiện vật
thu được, thông báo tai nạn của chủ xe và lái xe để xác định thiệt
hại và trách nhiệm của bảo hiểm.
• Khi tiến hành giám định phải có đại diện của chủ xe, chủ tài sản
bị thiệt hại hoặc người có trách nhiệm được uỷ quyền quản lý, sử
dụng
Quy trình giám định được tiến hành theo các bước:
Bước 1: Tiếp nhận thông tin từ phía khách hàng:
Khi xảy ra tai nạn gây tổn thất, khách hàng một mặt phải tìm cách cứu
chữa hạn chế tổn thất, mặt khác phải nhanh chóng thông báo với công ty bảo
hiểm. Khách hàng không được phép thay đổi hiện trường khi chưa có ý kiến
của công ty bảo hiểm, trừ trường hợp phải thi hành chỉ thị của cơ quan có
thẩm quyền.
Khi đã nhận được thông báo tai nạn của khách hàng, giám định viên cần
nắm bắt các thông tin cơ bản để thuận lợi cho việc tiến hành giám định như:
tên chủ xe; biển kiểm soát; số giấy chứng nhận bảo hiểm, hiệu lực, loại hình
tham gia; địa điểm, thời gian xảy ra tai nạn; thông tin ban đầu về tổn thất
thuộc phạm vi, trách nhiệm bảo hiểm; số điện thoại, địa chỉ để liên lạc của chủ
xe…
Bước 2: Tiến hành giám định:
Công việc giám định phải được tiến hành khẩn trương, khoa học và
chuẩn xác. Các kết luận đưa ra phải hợp lý, nhất quán, phù hợp với thực tế.
SVTH: Trương Thị Thanh Thủy 16 GVHD: Th.S Lục Mạnh Hiển
Trường Đại học Lao động – Xã hội Khóa luận tốt nghiệp
bảo hiểm và phải trừ khấu hao cho thời gian xe đã sử dụng hoặc chỉ tính
giá trị tương đương với giá trị xe ngay trước khi xảy ra tổn thất.
Bảo hiểm trùng: Trong trường hợp chủ xe tham gia bảo hiểm vật chất
xe theo một hay nhiều đơn bảo hiểm khác, theo đúng nguyên tắc hoạt động
của bảo hiểm, tổng số tiền mà chủ xe nhận được từ tất cả các đơn bảo hiểm chỉ
đúng bằng thiệt hại thực tế.
1.3. Hệ thống chỉ tiêu phân tích tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm
1.3.1. Phân tích tình hình khai thác bảo hiểm
Kết quả khâu khai thác bảo hiểm thể hiện chủ yếu ở các chỉ tiêu: số
lượng khách hàng tham gia bảo hiểm (số hợp đồng bảo hiểm đã được ký kết,
số giấy chứng nhận bảo hiểm, số đơn bảo hiểm đã cấp); số phí bảo hiểm thu
được, doanh thu phí khai thác, hoặc số lượng hợp đồng/ nhân viên...
1.3.1.1. Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch khai thác
Để lập kế hoạch và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch khai thác có
thể vận dụng các chỉ số:
+ Chỉ số nhiệm vụ kế hoạch (i
NK
)::
0
y
y
i
k
NK
=
+ Chỉ số hoàn thành kế hoạch ( i
HK
):
k
−−
=
X
X
k
i
i
+ Mức độ khai thác bình quân một tháng trong năm:
12
12
1
∑
=
−−
=
i
i
X
X
Trong đó:
• k
i
: chỉ số thời vụ tháng thứ i
• X
i
: mức độ khai thác tháng thứ i
• X : Mức độ khai thác bình quân một tháng trong năm.
ki phản ánh mối quan hệ giữa mức độ khai thác trong từng tháng với
mức độ khai thác bình quân một tháng trong năm. Kết quả tính ra càng gần 1
thì tính chất thời vụ trong tháng đó càng ít và ngược lại.
+ Tỷ lệ tồn đọng:
Số vụ khiếu nại còn tồn đọng chưa GQBT trong kỳ
Tỷ lệ tồn đọng = x100
Số vụ khiếu nại đòi GQBT trong kỳ
+ Số tiền bồi thường thực tế trong kỳ:
Tổng số tiền phải BT cho các vụ
Số tiền BTBQ mỗi vụ khiếu nại đã được GQ trong kỳ
khiếu nại đã được = x 100
giải quyết trong kỳ Số vụ khiếu nại đã được GQ BT trong kỳ
SVTH: Trương Thị Thanh Thủy 20 GVHD: Th.S Lục Mạnh Hiển
Trường Đại học Lao động – Xã hội Khóa luận tốt nghiệp
Số tiền chi bồi thường thực tế trong kỳ
Tỷ lệ chi bồi thường = x 100
Tổng chi trong kỳ
Tổng số tiền chi BT trong kỳ
Tỷ lệ BT trong kỳ = x 100
Tổng doanh thu phí BH trong kỳ
+ Thời gian xử lý ban đầu: Là khoảng thời gian kể từ khi doanh nghiệp
bảo hiểm nhận được thông báo tổn thất đến khi có phản hồi ban đầu với khách
hàng.
+ Thời gian giải quyết bồi thường: Là khoảng thời gian kể từ khi DNBH
nhận được thông báo tổn thất của KH đến khi KH nhận được thông báo BT
( hoặc từ chối BT) của DNBH.
+ Số vụ khiếu nại bồi thường sai sót trong kỳ.
1.3.4. Chỉ tiêu hiệu quả:
Hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu đo lường sự phát triển của doanh nghiệp
bằng cách so sánh kết quả thu được với chỉ tiêu bỏ ra sẽ thu được chỉ tiêu hiệu
quả.
H =
K
Trường Đại học Lao động – Xã hội Khóa luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO
HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG TY CP BẢO
HIỂM HÀNG KHÔNG – CN HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2008 – 2010
2.1. Khái quát về Công ty CP Bảo hiểm Hàng Không - Chi Nhánh Hà Nội
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
2.1.1.1. Đôi nét về Công ty CP Bảo hiểm Hàng Không
Công ty cổ phần Bảo hiểm Hàng Không có tên giao dịch quốc tế là
Vietnam National Aviation Insurance Company (viết tắt là VNI) được thành
lập theo quyết định số 49 GP/KDBH, ngày 23/04/2008 của Bộ Tài Chính.
Trong đó, cổ đông sáng lập lớn là các tập đoàn, doanh nghiệp hàng đầu Việt
Nam bao gồm Tổng Công ty Hàng không Việt Nam (VNA), Tập đoàn Than
Khoáng sản Việt Nam (TKV), Tổng Công ty lắp máy Việt Nam (LILAMA),
Tổng Công ty XNK Tổng hợp Hà Nội (GELEXIMCO), Công ty CP Nam Việt
(NAVICO) và các cổ đông khác.
Bảng 1. Số vốn góp của các cổ đông sáng lập
STT Tên cổ đông
Số vốn góp
(triệu đồng)
Tỉ lệ % /
vốn điều
lệ
1
Tổng công ty hàng không Việt Nam - VNA 100.000 20
2
Tập đoàn công nghiệp Than và Khoáng sản
Việt Nam - TKV
50.000 10
3
Tổng công ty lắp máy Việt Nam -
• Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh.
Kinh doanh tái bảo hiểm: Nhận và nhượng tái bảo hiểm đối với tất cả
các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ.
Và tiến hành các hoạt động đầu tư khác theo quy định của pháp luật.
Mạng lưới dịch vụ của VNI đã phát triển tốt với nhiều chi nhánh và các
văn phòng tại: Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Nghệ An, Hải Phòng,
Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Ninh, Quảng Nam… và đang tiếp tục mở rộng
trong thời gian tới. Tính đến thời điểm này, số chi nhánh và văn phòng đã
xấp xỉ lên đến 20 đơn vị. Mạng lưới đại lý khai thác cũng được triền khai rộng
khắp nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng trên phạm vi toàn quốc. Mạng
lưới cứu hộ, giám định trải dài và rộng khắp hỗ trợ tích cực và hiệu quả cho
công tác dịch vụ khách hàng, giải quyết bồi thường.
Kể từ khi đi vào hoạt động đến nay, Công ty CP Bảo Hiểm Hàng Không
đã thu được nhiều thành tựu đáng ghi nhận. VNI là một trong 4 doanh nghiệp
SVTH: Trương Thị Thanh Thủy 24 GVHD: Th.S Lục Mạnh Hiển
Trường Đại học Lao động – Xã hội Khóa luận tốt nghiệp
bảo hiểm trên thị trường Việt Nam có đầy đủ 10 nhóm nghiệp vụ bảo hiểm.
Bên cạnh đó, tình hình kinh doanh của Công ty trong những năm qua cũng rất
khả quan. Năm 2008, VNI đã hoàn thành xuất sắc kế hoạch đề ra và là một
trong số ít các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động có lãi trong số 27 công ty
bảo hiểm trên thị trường. Năm 2009, VNI đứng trong nhóm 10 công ty bảo
hiểm có doanh thu lớn nhất Việt Nam. Năm 2010, VNI tiếp tục phát triển mở
rộng mạng lưới kinh doanh với lợi thế là một trong những doanh nghiệp có
mức phí bảo hiểm thấp nhất trên thị trường bảo hiểm Việt Nam.
Với con số cụ thể và những hành động, phương châm phục vụ rõ ràng ,
VNI đã dần khẳng định được vị trí của mình đối với các công ty khác, uy tín
cũng vì thế ngày càng tăng lên và được nhiều người biết đến.
Trong tương lai, VNI hướng tới các mục tiêu phát triển quan trọng như
sau:
Thứ nhất, trở thành một trong 5 thương hiệu bảo hiểm hàng đầu tại Việt