bảo hiểm y tế tự nguyện - Pdf 23

Lời nói đầu
Đảm bảo khả năng tài chính cho việc chi trả viện phí và các khoản chi phí
khác trong quá trình khám chữa bệnh là một việc rất quan trọng đối với tất cả
mọi ngời trong xã hội, trong trờng hợp họ không may mắc phải rủi ro về sức
khoẻ. Bảo hiểm y tế ra đời đã đảm nhiệm đợc công việc đó, với hai hình thức
tự nguyện và bắt buộc Bảo hiểm y tế đã góp phần rất lớn vào công tác chăm
sóc sức khoẻ của mọi ngời trong xã hội.
Để hiểu rõ thêm về thực trạng cũng nh tình hình triển khai của nhánh Bảo
hiểm y tế tự nguyện ở nớc ta hiện nay, em đã chọn đề tài: Thực trạng Bảo
hiểm y tế tự nguyện ở Việt nam và các giải pháp hoàn thiện để phát
triển. Đề tài gồm các phần sau:
Phần I: Khái quát chung về Bảo hiểm y tế.
Phần II: Thực trạng Bảo hiểm y tế tự nguyện ở Việt nam
hiện nay.
Phần III: Các giải pháp nhằm phát triển loại hình Bảo hiểm
y tế tự nguyện ở Việt nam hiện nay.
Trong khuôn khổ đề án môn học, cũng nh sự khó khăn về tìm kiếm
nguồn tài liệu (số liệu) của Bảo hiểm y tế, chắc chắn đề tài cha thể đi sâu vào
phân tích cặn kẽ thực trạng cũng nh đa ra các giải pháp để nhằm phát triển
loại hình này. Em hy vọng rằng trong quá trình thực tập cũng nh viết chuyên
đề thực tập em sẽ có thể làm rõ hơn nội dung này.
1
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn thầy giáo: PGS.TS.hồ sĩ sà đã
giúp đỡ em hoàn thành đề án này!
2
I. Sự cần thiết và tác dụng của Bảo hiểm y tế.
1. Sự cần thiết:
Trong cuộc sống hàng ngày con ngời luôn luôn gặp phải những rủi ro
trong đó phải kể đến rủi ro về sức khoẻ nh: ốm đau, bệnh tật. Điều này đã dẫn
đến việc xuất hiện các chi phí về khám chữa bệnh mà mọi ngời không thể xác
định đợc trớc (mang tính đột xuất), vì vậy dù lớn hay nhỏ các chi phí này đều

sách của chính phủ.
Thứ ba:
Bảo hiểm y tế góp phần nâng cao chất lợng và thực hiện sự công bắng xã
hội trong khám chữa bệnh. Sự đóng góp vào quỹ Bảo hiểm y tế đã góp phần
hỗ trợ cho ngân sách y tế, từ đó ngành y tế có thể có điều kiện để trang bị cơ
sở vật chất đầy đủ, hiện đại để phục vụ các đối tợng khám chữa bệnh tốt hơn.
Thứ t :
Bảo hiểm y tế nâng cao đợc tính cộng đồng và gắn bó mọi thành viên với
xã hội. Cũng nh các loại hình Bảo hiểm khác tức là trong Bảo hiểm y tế cũng
áp dụng quy luật số lớn, việc này góp phần gắn bó các thành viên trong xã hội
và tính cộng đồng đợc nâng cao.
Qua những tác dụng trên ta thấy vai trò của Bảo hiểm y tế là rất quan
trọng trong quá trình chăm sóc sức khoẻ của các thành viên trong xã hội.
3. Đối tợng Bảo hiểm y tế.
Khi ngời tham gia Bảo hiểm y tế gặp rủi ro về sức khoẻ nh: ốm đau, bệnh
tật... thì sẽ đợc cơ qua Bảo hiểm y tế chi trả các khoản chi phí, mức chi trả phụ
thuộc vào mức mà ngời tham gia đóng góp.
Do vậy đối tợng Bảo hiểm y tế là sức khoẻ của ngời đợc Bảo hiểm.
4
4. Đối tợng tham gia Bảo hiểm y tế.
Thông thờng ở các nớc ngời ta đều chia các đối tợng tham gia ra làm hai
loại cụ thể:
Loại 1: Đối tợng tham gia bắt buộc.
Với loại hình này đối tợng tham gia là bắt buộc đợc quy định trong các
văn bản pháp luật của mỗi nớc. Cụ thể ở Việt nam đối tợng tham gia bắt buộc
đợc quy định cụ thể ở điều 2 trong Nghị định 58/1998/NĐ-CP ban hành ngày
13/08/1998 của chính phủ.
Loại 2: Đối tợng tham gia tự nguyện.
Với loại hình tự nguyện đối tợng tham gia là tự nguyện không bắt buộc,
tức là mọi ngời có nhu cầu đều có thể tham gia (trừ một số đối tợng cá biệt

Thứ ba: Phơng thức Bảo hiểm y tế thông thờng
Theo phơng thức này trách nhiệm của cơ quan Bảo hiểm y tế đợc giới hạn
tơng xứng với trách nhiệm và nghĩa vụ của ngời đợc Bảo hiểm y tế.
Tuỳ thuộc vào điều kiện phát triển của mỗi nớc mà thực hiện một hoặc
hai hay cả ba phơng thức trên, đồng thời mỗi phơng thức lại có các hình thức
tham gia khác nhau.
Ví dụ: Phơng thức Bảo hiểm y tế thông thờng có hai hình thức tham gia
bảo hiểm là: Bắt buộc và tự nguyện.
Thông thờng ở các nớc ngèo thờng thực hiện phơng thức Bảo hiểm y tế
thông thờng, và ở nớc ta cũng vậy.
7. Nguồn quỹ Bảo hiểm y tế.
6
Quỹ bảo hiểm y tế là một quỹ tài chính có quy mô phụ thuộc vào số lợng
các thành viên tham gia Bảo hiểm y tế đóng góp và mức độ đóng góp của các
thành viên. Với mục đích nhân đạo không vì mục đích kinh doanh quỹ Bảo
hiểm y tế chủ yếu đợc hình thành từ hai loại nguồn chính sau:
-> Ngời sử dụng đóng góp
-> Ngời lao động đóng góp
Việc quy định tỷ lệ đóng góp vào nguồn quỹ của các bên phụ thuộc vào
từng giai đoạn lịch sử của mỗi Quốc gia.
Cụ thể ở Việt nam với đối tợng tham gia bắt buộc việc đóng góp (đợc quy
định trong điều lệ Bảo hiểm y tế) bằng 3% tổng quỹ lơng hoặc tổng thu nhập,
trong đó ngời sử dụng lao động đóng 2/3, ngời lao động đóng 1/3 vào quỹ Bảo
hiểm y tế nếu còn tham gia lao động. Những ngời nghỉ hu, mất sức lao động
tham gia Bảo hiểm y tế bắt buộc sẽ đóng góp 3% mức lơng hu hoặc mức trợ
cấp mất sức lao động vào quỹ Bảo hiểm y tế.
Đối với hình thức Bảo hiểm y tế tự nguyện quỹ Bảo hiểm y tế đợc thu của
những ngời có nhu cầu bảo hiểm sức khoẻ đồng thời đợc hạch toán riêng và đ-
ợc chi trả cho các chi phí khám, chữa bệnh, thanh toán cho đại lý Bảo hiểm y
tế và chi cho công tác quản lý.

quan đó.
b. Từ năm 1992 đến nay.
Cùng với sự sửa đổi bổ sung hiến pháp, năm 1992 Nghị định 229/HĐBT
ngày 15 tháng 8 năm 1992 của Hội Đồng Bộ Trởng ban hành điều lệ Bảo hiểm
y tế Việt nam. Bảo hiểm y tế Việt nam chính thức đi vào hoạt động và thực
hiện theo điều lệ ban hành kèm Nghị định này. Nghị định 47/CP đã sửa đổi
một số điều của điều lệ Bảo hiểm y tế liên quan đến mức đóng góp của ngời
tham gia.
8
Trong quá trình thực tế triển khai thực hiện Nghị định trên cho thấy có
những điểm cần điều chỉnh bổ sung cho phù hợp. Do đó các quy đinh cũ đã đ-
ợc thay thế bằng điều lệ Bảo hiểm y tế ban hành kèm Nghị định số
58/1998/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 1998 của Chính phủ. Điều lệ ban hành
kèm Nghị định này có kế thừa điều lệ cũ và có hai điểm mới so với Nghị định
229/HĐBT của Hội Đồng Bộ Trởng ban hành ngày 15 tháng 8 năm 1992. Hai
điểm đó là:
+ Ngời tham gia phải cùng thanh toán chi phí khám chữa bệnh (cụ thể
mức thanh toán là 20% tổng chi phí khám chữa bệnh). Mức thanh toán này
không qua 6 tháng lơng.
+ Bổ sung thêm đối tợng tham gia Bảo hiểm y tế bắt buộc.
Và cho đến nay Bảo hiểm y tế vẫn thực hiện theo điều lệ ban hành kèm
Nghị định này.
ở trên là vài nét về quá trình phát triển của Bảo hiểm y tế Việt nam. Để
hiểu rõ hơn phần nào về sự phát triển của Bảo hiểm y tế ở Việt nam ta xem xét
thực trạng của nhánh Bảo hiểm y tế tự nguyện hiện nay.
Cùng với sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nớc về cơ chế quản lý nền
kinh tế, từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX đến nay ngành y tế cũng đã có những
bớc đổi mới quan trọng về cơ chế, chính sách quản lý y tế. Nghị định
229/HĐBT ngày 15 tháng 8 năm 1992 của Hội Đồng Bộ Trởng (nay là Chính
phủ) và Nghị định 58/1998/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 1998 của Chính phủ

10
BYT - BTC của liên Bộ lao động thơng binh xã hội, Bộ y tế, Bộ tài chính do
quy định không chi tiết về chuẩn hộ nghèo đợc cấp thẻ Bảo hiểm y tế nên dẫn
đến một số địa phơng thực hiên sai, hay không cấp đợc thẻ đúng cho đối tợng,
từ đó ảnh hởng trực tiếp đến quyền lợi của ngời đáng ra đợc hởng, cũng nh
chính sách chăm sóc sức khoẻ cho ngời nghèo của Đảng và Nhà nớc ta.
II.tình hình triển khai:
1. Đối tợng tham gia.
Đối tợng tham gia của hình thức Bảo hiểm y tế tự nguyện ở nớc ta gồm 3
loại chính sau:
+ Học sinh - Sinh viên.
+ Nông dân và ngời có nhu cầu.
+ Bảo hiểm y tế cho ngời ngèo.
a. Đối tợng tham gia là Học sinh - Sinh viên.
a11. Sự cần thiết phải Bảo hiểm y tế cho Học sinh - Sinh viên.
Học sinh - sinh viên là những thành viên sẽ làm chủ đất nớc sau này, do
vậy việc đảm bảo sức khoẻ cho đối tợng này là rất quan trọng để họ có thể an
tâm trong việc học tập của mình tại nhà trờng. Mặt khác tỷ lệ Học sinh - Sinh
viên ngèo là khá lớn nên có một biện pháp bảo đảm tài chính cho họ khi
không may gặp phải rủi ro về bệnh tật là rất quan trọng.
Tham gia Bảo hiểm y tế, học sinh - sinh viên đợc quản lý về sức khoẻ, đ-
ợc giải quyết kịp thời các rủi ro ốm đau, tai nạn trong thời gian học tập ở tr-
ờng, với loại hình này gia đình học sinh tham gia Bảo hiểm y tế an tâm hơn
nếu không may con họ phải điều trị tại các cơ sở y tế, vì các chi phí dù lớn đến
bao nhiêu cũng đợc bảo hiểm y tế chi trả. Đó chính là sự u việt của Bảo hiểm
11
y tế Học sinh - Sinh viên. Bảo hiểm y tế Học sinh - Sinh viên thực sự tạo điều
kiện cho y tế trờng học hoạt động phù hợp với mục tiêu giáo dục toàn diện cho
học sinh - sinh viên, trong đó có giáo dục thể chất, hơn thế nữa còn giáo dục
tính nhân đạo, tính cộng đồng cho học sinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà

3.396.400
-1,85
93,03
3.294.830
-2,99
79,65
12
(Nguồn: Chuyên đề Kinh tế Bảo hiểm ; (*): So với tổng số đối tợng tham
gia tự nguyện).
Nhận xét:
Qua bảng số liệu cũng nh biểu đồ trên cho ta thấy đối tợng tham gia Học
sinh - Sinh viên có xu hớng giảm qua các năm. Cụ thể năm 1999 so với năm
1998 giảm 1,85%; năm 2000 so với năm 1999 giảm 2,99%.
Mặt khác tỷ lệ đối tợng tham gia của loại đối tợng Học sinh - Sinh viên so
với tổng số đối tợng tham gia tự nguyện cũng có xu hớng giảm. Cụ thể năm
1997 là 92,53% đến năm 1998 còn 90,77%, năm 2000 còn 79,65%.
Ngoài ra việc sử dụng 35% kinh phí Bảo hiểm y tế học sinh - sinh viên để
lại ở một số nơi là sai mục đích ví dụ nh: xây dựng trờng học... Đấy là những
khoản chi không thuộc vào số phí để lại điều này nó dẫn đến công tác chăm
sóc sức khoẻ ban đầu ở trờng học là rất sơ sài. Do vậy không kích thích đợc sự
tham gia của học sinh - sinh viên.
Trên là một số thực trạng vấn đề còn tồn tại đối với đối tợng tham gia là
học sinh - sinh viên trong loại hình Bảo hiểm y tế tự nguyện ở nớc ta hiện nay.
b. Đối tợng tham gia là nông dân.
b1. Sự cần thiết phải thực hiện Bảo hiểm y tế tự nguyện cho nông dân.
ở nớc ta nông dân chiếm đại bộ phận trong dân số. Do vậy trong quá trình
thực hiện chủ trơng của Đảng và Nhà nớc về việc thực hiện chính sách Bảo
hiểm y tế toàn dân không thể thiếu đợc đối tợng này. Mặt khác triển khai Bảo
hiểm y tế tự nguyện cho nông dân sẽ mang lại công bằng và hiệu quả trong
công tác chăm sóc sức khoẻ toàn dân.

Trích đoạn Cơ quan Bảo hiểm y tế.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status