1
DANH MỤC VIẾT TẮT
BHXH: Bảo hiểm xã hội
BHYT: Bảo hiểm y tế
BHXH TN: Bảo hiểm xã hội tự nguyện
ASXH: An sinh xã hội
NLĐ: Người lao động
NSDLĐ: Người sử dụng lao động
1
LỜI MỞ ĐẦU
Lịch sử văn minh nhân loại là lịch sử của lao động và sáng tạo. Lao
động là điều kiện cơ bản tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội.
Trong thực tế cuộc sống, không phải người lao động nào cũng có đủ điều
kiện về sức khỏe khả năng lao động hoặc những may mắn khác để hoàn
thành nhiệm vụ lao động, công tác hoặc tạo nên cho mình và gia đình một
cuộc sống ấm no hạnh phúc. Ngược lại, không mấy ai tránh khỏi những rủi
ro, bất hạnh như ốm đau, tai nạn, hay già yếu, chết hoặc theo công việc làm
do những ảnh hưởng của tự nhiên, của những điều kiện sống và sinh hoạt
cũng như các tác nhân xã hội khác…
Có thể nói, nhu cầu an toàn của loài người khi nào cũng có và là nhu
cầu vĩnh cửu, bởi lẽ trong cuộc sống con người luôn luôn phải đối mặt với
những rủi ro không lường trước được.. Vì vậy, lúc nào con người cũng tìm
cách để bảo vệ bản thân, gia đình và tài sản của mình trước những rủi ro, bất
hạnh.
Khi điều kiện kinh tế xã hội của các quốc gia thay đổi, các hoạt động
bảo hiểm trở nên đa dạng hơn và chuyên sâu hơn, thành các nhánh với
những đối tượng và mô hình hoạt động khác nhau, trong đó có BHXH.
BHXH ra đời vào những năm giữa thế kỉ XIX, khi nền công nghiệp và kinh
tế hàng hóa bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các nước châu Âu. Và BHXH có
mặt tại Việt Nam từ bao giờ và phát triển như thế nào? Văn bản nào thể hiện
sự đổi mới toàn diện về BHXH của Việt Nam theo cơ chế thị trường định
Điều thứ nhất của Sắc lệnh số 54/Sl quy định rõ: kể từ ngày 01/10/1945,
những công chức thuộc tất cả các ngành trong nước Việt Nam, tại chức hay
đang nghỉ việc bất cứ ở trường hợp nào, đều phải về hưu mỗi khi có đủ một
trong các điều kiện sau đây: hoặc đã làm việc được 30 năm; hoặc đã đến 55
tuổi.
Hiến pháp năm 1946, tại Điều 17 quy định về quyền cơ bản của công
dân có nêu nguyên tắc: “Công dân già cả hoặc tàn tật không được làm việc
1
thì được giúp đỡ, trẻ con đươc chăm sóc về mặt giáo dưỡng”. Theo đó,
Chính phủ đã ban hành Sắc lệnh số 105/SL ngày 14/6/1946 quy định về việc
cấp hưu bổng và đóng bảo hiểm; lúc này đã quy định người tham gia BHXH
phải đóng 6% đến 10% tiền lương và công quỹ phụ nộp bằng 7% đến 10%
quỹ lương.
- Sắc lệnh số 170/SL ngày 27/8/1946 ngày 27/8/1946 trong đó điều
chỉnh mức tăng lương hưu lên 15% và điều chỉnh tăng mức trợ cấp
tuất hàng tháng lên 10% cho các quả phụ và cô nhi dưới 18 tuổi.
- Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 trong đó có quy định về phụ cấp
gia đình, phụ cấp thâm niên và thủ tục trả phụ cấp; chế độ nghỉ đẻ và
cho con bú của phụ nữ; chế độ nghỉ ốm đau cho công nhân và trách
nhiệm của chủ; chế độ tai nan lao động; hình thức xử phạt đối với chủ
có hành vi vi phạm các quy định trên.
- Sắc lệnh số 188/SL ngày 29/5/1948 trong đó có quy định về phụ cấp
gia đình, phụ caaos khu vực khí hậu xấu, phụ cấp khu vực tiền tuyến;
chế độ tai sản cho công chức nữ.
- Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 về quy chế công chức Việt Nam,
trong đó quy định công chức có quyền hưu bổng, được chăm sóc về
sức khỏe và trợ cấp khi bị tai nạn.
- Sắc lệnh số 77/SL ngày 22/5/1950 về quy chế công nhân giúp việc
chính phủ, trong đó có quy định chế độ phụ cấp đình, phụ cấp khu
vực, phụ cấp ngành nghê công việc nguy hiểm; chế độ ốm đau, thai
được hưởng quyền đó”. Theo đó, các văn bản pháp luật này đã quy định rõ
đối tượng, phạm vi điều chỉnh; quy định các chế độ BHXH (gồm 6 chế độ:
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động,
hưu trí và tửu tuất); quy định về quyền và nghĩa vụ các bên có liên quan
trong BHXH. Mức trợ cấp BHXH hàng tháng được căn cứ vào thời gian
công tác nói chung và thời gian công tác cho cách mạng, vào tuổi đời, vào
điều kiện làm việc, vào tình trạng suy giảm khả năng lao động. Đối với
người được tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến nếu có đủ 15 năm
công tác liên tục mà bị mất sức lao động từ 61% trở lên thì được hưởng hưu
trí không phụ thuộc tuổi đời.
Cái mới ở giai đoạn này là đã có thêm chế độ BHXH đối với khu vực
ngoài quốc doanh. Trong khu vực tiểu thủ công nghiệp, liên hiệp xã, Trung
ương ban hành Điều kệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với các xã viên
hợp tác xã và các tổ hợp sản xuất tiểu thủ công nghiệp theo Quyết định số
292/BCĐ-LĐ ngày 15 tháng 12 năm 1982. Về cơ bản Điều lệ này được thiết
1
kế theo các chế độ BHXH trong khu vực nhà nước. Điểm đặc trưng cơ bản
là nguồn thu dựa trên cơ sở tiền đóng góp của người lao động. Do sản xuất
tiểu thủ công nghiệp không ổn định, người lao động đóng góp không thường
xuyên, quỹ BHXH chưa được sự bảo hộ Nhà nước, vì vậy Điều lệ này chỉ
được thực hiện trong một khoảng thời gian ngắn.
Tóm lại, Điều lệ tạm thời về BHXH trong giai đoạn này được coi là
văn bản gốc của pháp luật BHXH, đã góp phần vào việc giải quyết các chế
độ chính sách xã hội, trong giai đoạn lịch sử nước ta vừa xây dựng Chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa tiến hành đấu tranh giải phóng miền Nam và
góp phần ổn định tình hình xã hội thời kỳ say tháng 4 năm 1975 cả hai miền
cùng xây dựng chủa nghĩa xã hội.
1.2.2. Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1994
Năm 1985, khi Nhà nước thực hiện cải cách tiền lương lần thứ 2, Hội
đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 236/HĐBT ngày 18 tháng 9 năm
các quy định của Bộ luật Lao động liên quan tới BHXH, thời kỳ này BHXH
có thể được chia thành 3 giai đoạn sau:
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1995 đến 2000.
Các văn bản pháp luật BHXH giai đoạn này đã thể chế hóa các chủ
trương, đường lối của Đảng và Nhà nước theo hướng mọi người lao động và
các đơn vị thuộ mọi thành phần kinh tế đều có quyền và trách nhiệm tham
gia BHXH; thực hiện từng bước tách quỹ BHXH đối với công nhân viên
chức nhà nước ra khỏi ngân sách. Một số quy định này thể chế hóa các vấn
đề cơ bản sau:
- Đối tượng áp dụng là người lao động làm việc trong các cơ quan,
doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài quốc doanh có từ 10
lao động trở lên.
- Quy định rõ người lao động muốn được hưởng thì phải đóng BHXH,
người sử dụng lao động cũng phải có trách nhiệm đóng BHXH cho
người lao động mà mình thuê mướn hoặc sử dụng. Nhà nước có trách
nhiệm đóng BHXH cho người lao động làm việc trong khu vực do
ngân sách trả lương. Quy định này đã ràng buộc trách nhiệm của các
bên tham gia BHXH, đồng thời quy định rõ nghĩa vụ và quyền lời của
người hưởng thụ.
1
- Quy định trong chính sách BHXH có 5 chế độ là ốm đau, thai sản, tai
nạn lao động – bệnh nghê nghiệp, hưu trí và tử tuất.
- Quỹ BHXH là một quỹ tài chính nằm ngoài ngân sách nhà nước. Quỹ
được hình thành chủ yếu từ các nguồn do người lao động và người sử
dụng lao động đóng góp.
- Quy định rõ các chức năng quản lý nhà nước về BHXH và chức năng
hoạt động sự nghiệp BHXH. Sự phân định rõ các chức năng này là
một bước tiến mới trong BHXH nhằm hạn chế sự chồng chéo, tăng
cường hiệu lực và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan có
liên quan trong BHXH.
03/2003/NĐ-CP ngày 15/01/2003, Nghị định số 32/2004/NĐ-CP ngày
19/01/2004, Nghị định số 208/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 và Nghị định
số 117/2005/NĐ-CP ngày 15/09/2005 của Chính phủ.
1.4. Giai đoạn từ năm 2006 đến nay
Giai đoạn từ năm 2006 đến nay, lĩnh vực BHXH tiếp tục là một trong
các lĩnh vực quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, bảo đảm định hướng xã hội
chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ở nước ta trong việc thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội, với định hướng phát triển là tiếp tục cải cách hệ thống
BHXH.
Nhiệm vụ trọng tâm được tập trung vào các nội dung sau:
- Triển khai Nghị quyetes số 35/2004/QH11 ngày 25/11/2004 về
chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2005 của Quốc hội, phối
hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành có liên quan xây dựng Luật BHXH
trình chính phủ, trình Quốc hội và ngày 29/06/2006 Luật BHXH đã
được Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 9 thông qua.
- Xây dựng hệ thống các văn bản hướng dẫn thực hiện các quy định của
Luật BHXH. Đó là, Nghị định hướng dẫn một số điều của Luật
BHXH về BHXH bắt buộc đối với cán bộ, công chức; BHXH bắt
buộc đối với lực lượng vũ trang; BHXH tự nguyện; bảo hiểm thất
nghiệp; xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH; Nghị định
quy định vể tổ chức BHXH.
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực BHXH, cụ thể:
1
o Xúc tiến mạnh mẽ công tác phổ biến, tuyên truyền sâu rộng đến
người lao động, người sử dụng lao động về pháp luật BHXH
nhằm nâng cao nhận thức quyền lợi và trách nhiệm thực hiện
đóng BHXH, góp phần làm lành mạnh quan hệ lao động, tăng
thu hút đầu tư và tạo nhiều việc làm.
o Kiện toàn hệ thống thanh tra, trước hết là hệ thống thanh tra lao
động. Coi trọng công tác thanh tra, kiểm tra tại cơ sở với sự