MỤC LỤC
2
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tiền thân là Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ra đời ngày
27/12/1990, đến nay loại thuế đánh lên thu nhập của cá nhân ở nước ta đã trải
qua một giai đoạn hình thành và phát triển kéo dài 23 năm. Hiện tại, Luật thuế
thu nhập cá nhân hiện hành được Quốc hội ban hành ngày 21/11/2007, có
hiệu lực từ 1/1/2009, và mới được sửa đổi bổ sung bởi Luật Thuế thu nhập cá
nhân số 26/2012/QH13 ngày 03 tháng 12 năm 2012.
Trong bất kỳ một chế độ xã hội nào, thuế luôn luôn là một công cụ thể
hiện quyền lực của Nhà nước và là nguồn tài chính chủ yếu đóng góp vào
ngân sách quốc gia, nhằm đảm bảo cho Nhà nước vận hành và thực hiện các
chức năng xã hội, kinh tế, an ninh quốc phòng của quốc gia đó. Thuế còn
được sử dụng như một công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thông qua khả
năng điều tiết giá cả thị trường, thúc đẩy đầu tư, kềm chế lạm phát. Bên cạnh
đó, thuế giúp cải thiện một biểu hiện tiêu cực trong quan hệ kinh tế thị
trường- sự phân hóa giàu nghèo, bằng cách góp phần điều tiết thu nhập, thực
hiện công bằng xã hội.
Chính vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung các quy định về thuế khóa luôn là
một đề tài thu hút được sự quan tâm của xã hội. Thuế thu nhập cá nhân càng
nhận được sự quan tâm đông đảo hơn, vì đây là sắc thuế trực tiếp điều tiết lên
thu nhập của các cá nhân trong xã hội, làm giảm một phần nguồn thu tài chính
của cá nhân và ngân sách của gia đình. Điều này gây ảnh hưởng lớn đến đời
sống của người dân, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi nền kinh tế chỉ
mới vừa phục hồi, giá cả vật chất không ngừng tăng cao…Tác động của
những điều được sửa đổi, bổ sung đó lên đời sống kinh tế- xã hội của người
dân sẽ thế nào? Đây là câu hỏi mà mọi người đều muốn có câu trả lời.
Những quy định mới của Luật thuế thu nhập cá nhân cũng phải giải
quyết được vấn đề làm sao có thể cân bằng lợi ích, giữa việc bổ sung nguồn
2
có những đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện sắc thuế này ở Việt Nam.
4. Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là một số vấn đề pháp lý trong Luật
thuế thu nhập cá nhân hiện hành mà người viết cho rằng chưa phù hợp với
tình hình kinh tế- xã hội của đất nước, cũng như tâm tư, nguyện vọng của
người dân hoặc những vấn đề pháp lý còn gây ra nhiều tranh cãi xoay quanh
hiệu quả áp dụng của chúng trong thực tế. Những quy định này có thể được
sửa đổi hoặc kế thừa từ Luật thuế thu nhập cá nhân 2007, bao gồm:
- Thu nhập chịu thuế
- Mức giảm trừ gia cảnh
- Biểu thuế suất lũy tiến
Phương pháp dùng để nghiên cứu đề tài là phương pháp tổng hợp, thống
kế số liệu kết hợp với so sánh và đối chiếu.
5. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Luật thuế thu nhập cá nhân 2007 tuy chỉ mới được thực hiện trong
khoảng thời gian hơn 3 năm, nhưng đã mau chóng được sửa đổi, bổ sung bởi
Luật thuế thu nhập cá nhân sửa đổi 2012 ban hành vào 22/11/2012. Với tình
hình biến động kinh tế, xã hội nhanh chóng như hiện nay, việc những quy
định mới ra đời và sửa đổi, bổ sung hay thay thế cho những quy định hiện
hành là rất có thể xảy ra trong thời gian gần. Nhất là khi tuy đã kế thừa những
kinh nghiệm từ Luật thuế thu nhập cá nhân 2007, cùng với học tập theo
những xu hướng cải cách trên thế giới nhưng Luật thuế thu nhập cá nhân sửa
đổi 2012 vẫn bộc lộ nhiều bất cập. Chính vì vậy, thông qua việc nghiên cứu
những vấn đề nổi cộm trong luật, người viết mong rằng bài viết này có giá trị
ứng dụng về mặt thực tiễn cũng như nghiên cứu và được dùng để tham khảo
trong những lần sửa đổi luật sắp tới.
2
6. Bố cục của đề tài:
Bố cục đề tài gồm 5 phần:
- Lời mở đầu
phối của cải trong xã hội. Thông thường, thu nhập thường được hiểu là khoản
tiền nhận được do lao động, dùng để đáp ứng nhu cầu sinh sống hàng ngày và
các nhu cầu vật chất, tinh thần khác. Do Nhà nước là chủ thể điều tiết vĩ mô
nền kinh tế, nắm vai trò chủ đạo trong việc tạo ra môi trường giúp các chủ thể
tạo ra thu nhập, nên thu nhập cũng là yếu tố mà Nhà nước nhắm đến nhằm tạo
nguồn ngân sách cho Nhà nước. Mặt khác, quá trình lưu chuyển, phân phối
thu nhập không thể tránh khỏi sự chênh lệch về mức độ phân phối. Điều này
đặt Nhà nước trước yêu cầu điều tiết thu nhập để cân bằng các lợi ích thông
qua thuế. Bên cạnh đó, Nhà nước có thể sử dụng thuế thu nhập như một công
cụ để quản lý và điều tiết các hoạt động kinh tế xã hội, vì thu nhập của mỗi cá
nhân, tổ chức hay quốc gia là chỉ tiêu quan trọng quyết định vấn đề tích lũy,
đầu tư, tiết kiệm, tiêu dùng và phân bổ nguồn lực trong xã hội. Như vậy, Nhà
nước điều tiết thuế thu nhập không chỉ để bổ sung cho ngân sách nhà nước,
mà còn vì mục tiêu điều tiết thu nhập và thực hiện công bằng xã hội.
Căn cứ vào chủ thể sở hữu thu nhập, thu nhập bao gồm: thu nhập cá
nhân, thu nhập doanh nghiệp, thu nhập Nhà nước. Dựa vào đặc tính, thu nhập
được chia thành thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên.
Hoặc dựa vào nguồn hình thành, thu nhập bao gồm thu nhập từ hoạt động
kinh doanh, thu nhập từ hoạt động lao động, thu nhập từ nhận thừa kế và thu
nhập từ các nguồn hình thành khác… Với mỗi loại thuế thu nhập khác nhau,
Nhà nước có cách điều tiết khác nhau.
Trong đó, “thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu, thu trực tiếp trên
thu nhập nhận được từ nhiều nguồn khác nhau của cá nhân trong một khoảng
thời gian nhất định, thường là một năm hoặc từng lần phát sinh”.
Thuế thu nhập cá nhân mang những đặc điểm sau đây
• Với tư cách là một loại thuế trong hệ thống thuế của pháp luật Việt Nam, thuế
thu nhập cá nhân mang một số đặc điểm chung của mọi thứ thuế khác, như:
tính gắn liền với quyền lực Nhà nước. Đặc điểm này thể hiện ở chỗ: thuế thu
nhập cá nhân do cơ quan lập pháp của mỗi quốc gia ban hành, được quy định
dưới dạng văn bản luật. Việc thu thuế được Nhà nước đảm bảo thực hiện, bất
• Thuế thu nhập cá nhân có phạm vi điều tiết rất rộng, thể hiện trên hai khía
cạnh. Một là đối tượng đánh thuế là các khoản thu nhập chịu thuế của cá nhân
cư trú không phân biệt phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam. Thứ hai,
đối tượng nộp thuế còn bao gồm các cá nhân không cư trú có thu nhập chịu
thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam. Điều này cho thấy phạm vi điều tiết
của thuế thu nhập cá nhân dựa trên 2 yếu tố đó là địa điểm phát sinh thu nhập
và yếu tố cư trú. Yếu tố cư trú phụ thuộc vào số ngày có mặt, làm việc, có thu
nhập tùy theo pháp luật các nước.
1.1.2 Vai trò
a) Vai trò kinh tế của thuế thu nhập cá nhân
Có thể thấy rằng, thuế thu nhập cá nhân thường đóng vai trò quan trọng
trong hệ thống thuế của một nước. Một mặt, nguồn thu từ việc thu thuế thu
nhập cá nhân góp một phần lớn vào tổng nguồn thu ngân sách quốc gia, mặt
khác, thuế thu nhập cá nhân còn được sử dụng như một công cụ để điều tiết
nền kinh tế.
Ở nhiều nước, nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân được xem là một phần
quan trọng của ngân sách. Thông thường, tỷ lệ của nguồn thu này trên GDP
hàng năm vào khoảng xấp xỉ 10% và trên tổng nguồn thu từ thuế vào khoảng
25%. Đặc biệt ở một số nước như Đan Mạch, New Zealand, Australia nguồn
thu từ thuế thu nhập cá nhân có vai trò chủ chốt đối với ngân sách quốc gia.
Ngoài tác động làm tăng nguồn thu ngân sách quốc gia, đến cuối những
năm 1970, thuế thu nhập cá nhân còn có một vai trò mới là nhằm điều tiết,
định hướng sự phát triển kinh tế với sự xuất hiện của cơ chế đánh thuế thu
nhập thuế suất kép. Đây là cơ chế đánh thuế thu nhập cá nhân với các mức
suất khác nhau đối với thu nhập do sức lao động đưa lại và thu nhập do đầu tư
vốn đưa lại. Khi một nước áp dụng mức thuế suất cao đối với thu nhập từ việc
đầu tư vốn, có thể sẽ làm hạn chế nguồn vốn đầu tư vào nền kinh tế, làm cho
nền kinh tế phát triển chậm lại theo ý muốn của Chính phủ. Hoặc ngược lại,
việc miễn hoặc giảm thuế thu nhập cá nhân đối với một khoản đầu tư nào đó
sẽ làm khuyến khích các nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực này. Đây là kinh
thống nhất là hoàn cảnh gia đình của cá nhân người nộp thuế sẽ được xem xét
để chiết giảm khoản thuế phải nộp.
Thứ ba, thuế thu nhập cá nhân làm tăng ý thức của công dân trong việc
giám sát nguồn chi tiêu ngân sách của Chính phủ. Thuế thu nhập cá nhân là
một loại thuế trực thu. Khác với các loại thuế gián thu khác, qua thuế trực thu
người dân sẽ biết rõ ai là người nộp thuế và ý thức được vai trò của mình đối
với nguồn thu ngân sách của quốc gia. Bằng cách nộp thuế để nuôi sống Nhà
nước, người đóng thuế thể hiện quyền lực của mình đối với nhà nước: Nhà
nước do dân (dân bầu ra nhà nước), của dân (dân nuôi nhà nước), vì thế, phải
phục vụ dân (vì dân). Từ đó, người dân sẽ có ý thức hơn đến việc giám sát các
nguồn chi tiêu của Chính phủ với tư cách là một khách hàng giám sát việc sử
dụng chi phí của mình đã trả (qua thuế) cho các dịch vụ công do Nhà nước
thực hiện.
1.1.3 Quá trình hình thành và phát triển của thuế thu nhập cá nhân
a) Trên thế giới
Mặc dù trong thời kỳ trung cổ, ở một số thành phố ở Italia, người ta cũng
đã tiến hành đánh thuế đối với thu nhập của các cá nhân, nhưng thuế thu nhập
cá nhân, về bản chất là một loại thuế hiện đại, chỉ ra đời khi xã hội loài người
đã có một số điều kiện kinh tế cơ bản như: có nền kinh tế tiền tệ, có việc
thanh toán qua tài khoản và các khái niệm về hóa đơn, chi phí và lợi nhuận đã
được xã hội thừa nhận và đưa vào sử dụng rộng rãi. Vào thời đầu của nền văn
minh, khi những điều kiện kinh tế cơ bản chưa tồn tại, thuế được đánh dựa
trên các yếu tố như là: sự giàu có, địa vị xã hội, và quyền sở hữu đối với các
phương tiện sản xuất (thường là đất đai và nô lệ) rất phổ biến.
Đạo luật thuế thu nhập đầu tiên theo đúng bản chất được William Pitt thi
hành ở Anh Quốc vào năm 1799 để trang trải cho cuộc chiến tranh với
Napoleon. Sau một vài lần áp dụng các loại thuế thu nhập tạm thời, đến năm
1874, thuế thu nhập cá nhân đã được áp dụng lâu dài tại nước này.
Đạo luật thuế thu nhập đầu tiên ở Hoa Kỳ được ban hành vào năm 1864
trong cuộc nội chiến nhưng bị tạm dừng thu vào năm 1872 vì bị cho là trái với
tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE), Oman, Qatar, Kuwait, Cayman
Islands, Bahrain, Bermuda, Bahamas. Thay vì tạo doanh thu từ thuế thu nhập,
các quốc gia trên tìm thu nhập từ các nguồn khác, đặc biệt là từ thuế tài
nguyên đánh lên phần tài nguyên dầu mỏ dồi dào của họ hoặc thuế nhập khẩu.
UAE đứng vào danh sách các nước có thu nhập bình quân trên đầu người cao
nhất thế giới (48.200 USD), chính phủ nước này áp dụng mức thuế cao ngất
ngưởng đối với các doanh nghiệp dầu mỏ (55%). Các ngân hàng nước ngoài
phải trả mức thuế doanh nghiệp 20%, dù không phải đóng thuế thu nhập cá
nhân cũng như thuế lợi nhuận đầu tư nhưng công dân Oman phải đóng góp
6,5% thu nhập hàng tháng cho hệ thống an sinh xã hội. Tại Cayman Islands,
Thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập không được áp dụng nhưng chính phủ
lại đánh thuế nhập khẩu khá cao, lên tới 25%.
3
Các Nhà nước có khuynh hướng tăng cường vai trò của thuế thu nhập cá
nhân vì xu hướng toàn cầu hóa và yêu cầu bảo đảm công bằng đã khiến các
nhà nước bị cắt giảm các nguồn thu từ thuế quan và thuế gián thu khác. Thuế
thu nhập cá nhân điều tiết vào chủ thể nhó nhất- cá nhân trong xã hội nên khả
năng bảo đảm công bằng cao hơn so với các sắc thuế khác. Theo xu hướng
đó, thuế thu nhập cá nhân ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong nguồn thu ngân
sách Nhà nước của các Quốc gia.
b) Tại Việt Nam
3 http://www.vef.vn/2012-07-13-dan-nuoc-nao-khong-can-dong-thue-thu-nhap-ca-nhan truy cập ngày
25/2/2012 lúc 15h00
Sau khi xóa bỏ tập trung bao cấp, nhận thức được hệ thống thuế của
nước ta còn tồn tại nhiều nhược điểm, không phù hợp với cơ chế quản lý mới
trong giai đoạn đổi mới toàn diện nền kinh tế, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VII (6/1991) đã đề ra yêu cầu "tiếp tục đổi mới và bổ sung các
luật thuế. Kiện toàn hệ thống thu thuế, chống thất thu và lạm thu, chống mọi
biểu hiện tiêu cực trong công tác thuế. Tăng cường thanh tra tài chính, kiểm
soát việc chấp hành Pháp lệnh kế toán, thống kê” trong bối cảnh "Tiếp tục xây
cứu được triển khai khẩn trương, thận trọng, nhiệt tình của nhiều chuyên gia
các Bộ, ngành được cử trực tiếp tham gia điều tra, khảo sát, tổng hợp, phân
tích tình hình, tính toán số liệu, xây dựng các dự luật thuế cùng các dự thảo
văn bản quy định, hướng dẫn chi tiết thi hành. Các dự án thuế đã được đưa ra
bàn bạc, thảo luận với nhiều nhà khoa học, nhà kinh tế và Uỷ ban nhân dân
(UBND) tỉnh, thành phố. Các dự luật thuế cũng đã được thông báo công khai
để tranh thủ ý kiến tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân trước khi
được Ban soạn thảo tiếp thu, hoàn chỉnh các dự án trình Chính phủ, Hội đồng
Nhà nước và Quốc hội
Từ đặc điểm tình hình kinh tế xã hội ở nước ta và qua phân tích, vận
dụng có chọn lọc kinh nghiệm trong chính sách thuế trên thế giới, ngày
28/12/1989, Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 6 đã có Nghị quyết giao cho Hội
đồng Nhà nước nghiên cứu xem xét, ban hành hệ thống thuế mới ở nước ta
bao gồm 9 sắc thuế và các loại phí, lệ phí. Kết quả nghiên cứu được thể hiện
trong đề án chung về đổi mới hệ thống thuế và các sơ thảo các luật thuế, các
pháp lệnh thuế trình Quốc hội và Hội đồng Nhà nước xem xét, lần lượt thông
qua và ban hành, bao gồm các loại luật: Thuế doanh thu (30/6/1990); Thuế
tiêu thụ đặc biệt (30/6/1990); Thuế lợi tức (30/6/1990); Thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu (26/12/1991)…. Và ngày 20/12/1990, Chủ tịch nước đã công bố
“Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao”.
Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, loại thuế đánh vào thu
nhập của các cá nhân trong xã hội đã ra đời dưới hình thức pháp lệnh Ủy ban
thường vụ Quốc hội ban hành. Để phù hợp với tình hình thực tế của từng giai
đoạn phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, từ đó tới nay Pháp lệnh thuế thu
nhập đối với người có thu nhập cao đã trải qua 6 lần sửa đổi, bổ sung, cụ thể:
lần thứ nhất vào 10/3/1992, lần thứ hai vào 1/6/1994, lần thứ ba vào 6/2/1997,
lần thứ tư vào 30/6/1999 và lần thứ 5 vào 13/6/2001 và lần thứ 6 là pháp lệnh
sửa đổi, bổ sung số 14/2004/PL-Ủy ban thường vụQH11 có hiệu lực từ ngày
01/07/2004.
Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao có phạm vi điều
pháp luật. Bên cạnh đó, đã có sự nâng cao hiệu quả rõ rệt trong quá trình quản
lý, kê khai và thu thuế, thông qua: thực hiện đăng ký mã số thuế cho tất cả các
cá nhân, hoàn thiện xây dựng phần mềm quản lý thuế, tăng cường tuyên
truyền, phổ biến về thuế thu nhập cá nhân để nâng cao ý thức tuân thủ nghĩa
vụ thuế của người dân.
Qua 3 năm thực hiện, Luật thuế thu nhập cá nhân 2007 đã đạt được một
số mục tiêu nhất định. Bên cạnh đó, do tình hình kinh tế- xã hội đã có sự thay
đổi, đặc biệt ảnh hưởng của giai đoạn suy thoái kinh tế trên toàn thế giới, tỷ lệ
lạm phát cao, số doanh nghiệp phá sản gia tăng nên đời sống người dân khó
khăn hơn. Luật thuế thu nhập cá nhân 2007 lại bộc lộ nhiều bất cập do không
theo kịp tình hình trong nước và trên thế giới. Chính vì vậy, Luật thuế thu
nhập cá nhân 2007 được sửa đổi bổ sung lần đầu tiên và được Quốc hội thông
qua vào ngày 22/11/2012 và sẽ chính thức được áp dụng kể từ 1/7/2013.
1.2 Sự cần thiết phải sửa đổi Luật thuế thu nhập cá nhân
1.2.1 Những mục tiêu đã đạt được trong 3 năm thực hiện Luật thuế thu nhập cá
nhân 2007
Xuất phát từ những nhu cầu thiết thực nêu ở phần trên, ngày 21/1/2007,
Luật thuế thu nhập cá nhân 2007 được Quốc hội ban hành, có hiệu lực từ
1/1/2009. Đây là văn bản luật đầu tiên ở nước ta dùng để điều chỉnh sự điều
tiết thu nhập của cá nhân, đã để lại nhiều dấu ấn tích cực trong việc áp dụng
và đã đạt được những thành công nhất định trong suốt 3 năm thực hiện. Cụ
thể:
Thứ nhất, Luật thuế thu nhập cá nhân 2007 đã bao quát và mở rộng được
đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế.
- Về đối tượng chịu thuế: Ngoài việc kế thừa có chọn lọc các chính sách
điều tiết thu nhập trước đây (thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao,
thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân kinh doanh, thuế
chuyển quyền sử dụng đất), Luật thuế thu nhập cá nhân đã bổ sung điều tiết
đối với các khoản thu nhập mới phát sinh, như: thu nhập từ đầu tư vốn; thu
nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng chứng khoán; thu nhập từ thừa
của người có thu nhập. Bên cạnh đó, đã tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong
công tác quản lý thu, tính đến hết năm 2011 đã có trên 15 triệu cá nhân được
cấp mã số thuế (12,6 triệu cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công và từ
thu nhập khác; 3,2 triệu cá nhân có thu nhập từ kinh doanh). Trong đó chỉ có
khoảng 1,3 triệu cá nhân có thu nhập từ tiền lương tiền công (chiếm 10,2%);
194 nghìn hộ, cá nhân kinh doanh (chiếm 6%) phải nộp thuế.
Ba là, góp phần đảm bảo nguồn thu ngân sách Nhà nước: Qua 3 năm
thực hiện Luật, số thu thuế thu nhập cá nhân có sự tăng trưởng khá: số thu
năm 2009 đạt 110% so với năm 2008, đạt 3,4% tổng số thu ngân sách Nhà
nước (năm 2009 Quốc hội cho miễn thuế thu nhập cá nhân 6 tháng đầu năm
đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh và từ tiền lương, tiền công,
miễn thuế cả năm đối với thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn). Số thu
2010 bằng 183,6% so với thực hiện 2009, đạt 6,1% tổng thu nội địa (khoảng
4,7% tổng thu ngân sách Nhà nước). Năm 2011 số thu ước bằng 141,38% so
với số thu 2010, đạt khoảng 7,1% số thu nội địa (khoảng 5,5% tổng thu ngân
sách Nhà nước).
Bốn là, góp phần thực hiện kiểm soát thu nhập của dân cư: Tính đến hết
năm 2011, ngành Thuế đã hoàn thành việc cấp mã số thuế cho 15.894.719 cá
nhân. Thông qua cá nhân, cơ quan chi trả được cấp mã số thuế, ngành thuế
nắm được số người nộp thuế, số người chưa phải nộp thuế đối với thu nhập từ
tiền lương tiền công và từ thu nhập khác, số thuế thu được từ các loại thu
nhập của cá nhân theo phương thức khấu trừ tại nguồn và theo phương thức
kê khai, nộp thuế.
1.2.2 Những hạn chế trong Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007
Bên cạnh những kết quả đạt được, do sự biến động nhanh của nền kinh
tế nên một số quy định trong Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 đã bộc lộ một
số tồn tại, hạn chế, chưa phù hợp với thực tiễn, một số quy định còn phức tạp,
phát sinh thủ tục hành chính, chưa tạo thuận lợi cho người nộp thuế và khó
khăn cho công tác quản lý thuế. Việc sửa đổi, bổ sung Luật thuế thu nhập cá
nhân 2007 là cần thiết để khắc phục những hạn chế vướng mắc sau đây:
thuế và thông lệ quốc tế; tuy nhiên, vẫn đảm bảo tính thống nhất của hệ thống
pháp luật và có tính ổn định, không làm ảnh hưởng lớn đến số thu ngân sách
Nhà nước.
1.2.3 Những nội dung mới trong Luật thuế thu nhập cá nhân sửa đổi năm 2012
Bên cạnh những kết quả đạt được, do sự biến động nhanh của nền kinh
tế nên một số quy định trong Luật Thuế thu nhập cá nhân ban hành năm 2007
đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế, chưa phù hợp với thực tiễn. Vì vậy, việc sửa
đổi, bổ sung Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 là sự cần thiết tất yếu để
khắc phục những hạn chế tồn tại và nhằm đáp ứng mục tiêu dài hạn là đảm
bảo chính sách rõ ràng, minh bạch, đơn giản, giảm thủ tục hành chính tạo
thuận lợi cho người nộp thuế và công tác quản lý thuế, tạo điều kiện cho việc
hiện đại hoá quản lý thuế; đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập, động
viên ổn định một cách hợp lý thu nhập dân cư.
Ngày 03/12/2012, kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa 13 đã thông qua Luật
Thuế thu nhập cá nhân số 26/2012/QH13 sửa đổi bổ sung một số điều của
Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12. Các nội dung sửa đổi mới của
Luật thuế thu nhập cá nhân sẽ có hiệu lực thi hành từ 01/07/2013 cụ thể như
sau:
1. Thay đổi thời điểm đăng ký kỳ tính thuế cho phù hợp với thực tế phát sinh đối
với trường hợp cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán. Theo đó,
cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán có thể đăng ký kỳ tính
thuế theo năm bất kỳ thời điểm nào trong năm. Cụ thể, tại Điều 1 Luật thuế
thu nhập cá nhân 2012 sửa đổi bổ sung Điểm c, Khoản 1, Điều 7 Luật thuế
thu nhập cá nhân 2007, theo đó bỏ quy định: “trường hợp cá nhân áp dụng kỳ
tính thuế theo năm thì phải đăng ký từ đầu năm với cơ quan thuế”.
2. Bỏ cụm từ “đối với mọi khoản thu nhập” trong quy định trách nhiệm phải kê
khai, nộp thuế, quyết toán thuế thu nhập cá nhân của cá nhân (tại Điều 1 Luật
thuế thu nhập cá nhân 2012 sửa đổi Điều 24 Luật thuế thu nhập cá nhân 2007)
nhằm phù hợp với các quy định liên quan kể cả trường hợp nếu có phát sinh
thay đổi sau này.
là để có cơ sở pháp lý trong thực hiện đối với các khoản phụ cấp, trợ cấp có
thể sẽ phát sinh sau này do các Luật chuyên ngành khác có quy định. Cụ thể:
Tại Điều 1 Luật thuế thu nhập cá nhân 2012 sửa đổi bổ sung Khoản 2,
Điều 3 Luật thuế thu nhập cá nhân 2007:
“b) Các khoản phụ cấp, trợ cấp, trừ các khoản: phụ cấp, trợ cấp theo quy
định của pháp luật về ưu đãi người có công; phụ cấp quốc phòng, an ninh;
phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm
việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy
định của pháp luật; trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do
suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng và
các khoản trợ cấp khác theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; trợ
cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của Bộ luật lao động; trợ cấp
mang tính chất bảo trợ xã hội và các khoản phụ cấp, trợ cấp khác không mang
tính chất tiền lương, tiền công theo quy định của Chính phủ.”
6. Bao quát hơn về nguồn thu đối với thu nhập nhận được từ chuyển
nhượng bất động sản của cá nhân dưới mọi hình thức bao gồm các trường hợp
mới phát sinh theo quy định của pháp luật liên quan mới sửa đổi, bổ sung;
quy định về thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, các trường hợp uỷ
quyền chuyển nhượng nhà, đất mà người uỷ quyền có đầy đủ các quyền về
nhà, đất, trường hợp đổi nhà, đổi đất có phát sinh thu nhập. Cụ thể:
Tại Điều 1 Luật thuế thu nhập cá nhân 2012 sửa đổi bổ sung Khoản 5,
Điều 3 Luật thuế thu nhập cá nhân 2007:
"5. Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, bao gồm:
…
d) Các khoản thu nhập khác nhận được từ chuyển nhượng bất động sản
dưới mọi hình thức."
7. Bổ sung “tiền lương hưu do quỹ hưu trí tự nguyện chi trả hàng tháng”
vào thu nhập được miễn thuế thu nhập cá nhân, không tính vào thu nhập tính
thuế nhằm để phù hợp với thực tế và nâng cao hiệu lực hiệu quả của Luật thuế