nâng cao hiệu quả thu nộp quỹ bảo hiểm xã hội - Pdf 23

Lời mở đầu
Nh mọi quốc gia trên thế giới, BHXH Việt Nam trong những
năm qua đợc xem là một trong những chính sách rất lớn của Nhà n-
ớc, luôn đợc sự quan tâm và chỉ đạo kịp thời của Đảng và Nhà n ớc;
điều này có thể dễ dàng lý giải bởi BHXH không chỉ liên quan đến
hàng triệu lao động mà còn bởi nó có ý nghĩa rất lớn đối với cả
những ngời phụ thuộc vào các đối tợng trên. BHXH chẳng những có
ý nghĩa về mặt kinh tế - xã hội mà còn có ý nghĩa nhân đạo sâu sắc,
chính sách này thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực kinh tế và khả
năng tổ chức quản lý của Nhà nớc.
Khi đất nớc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị tr -
ờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN thì việc bao
cấp toàn bộ cho hoạt động BHXH tỏ ra không còn phù hợp với tình
hình mới. Để từng bớc đổi mới công tác tổ chức quản lý BHXH,
chính phủ đã ra Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995 về việc ban hành
điều lệ BHXH và Nghị định 19/CP ngày 16/02/1995 về việc thành
lập BHXH Việt Nam và các quyết định khác kèm theo về việc ban
hành quy chế tổ chức và hoạt động của BHXH Việt Nam. Với mục
đích thống nhất việc quản lý và thực hiện các chế độ BHXH nhằm
đảm bảo tốt hơn lợi ích của ngời lao động thì BHXH Việt Nam đã
đợc thành lập trên cơ sở thống nhất các tổ chức BHXH ở trung ơng
và địa phơng thuộc hệ thống Bộ Lao động - TB&XH và Tổng Liên
đoàn lao động Việt Nam nhằm giúp Thủ tớng chính phủ chỉ đạo
công tác quản lý quỹ BHXH và thực hiện chế độ chính sách BHXH
theo pháp luật hiện hành. Và để giải quyết tốt vấn đề trên đảm bảo
nguồn quỹ chi trả các chế độ BHXH cho các đối tợng đợc hởng trợ
cấp BHXH thì việc nâng cao hiệu quả thu quỹ đồng thời duy trì và
phát triển nguồn quỹ là đòi hỏi bức bách khiến em đi đến lựa chọn
nghiên cứu đề tài: "Thực trạng thu nộp quỹ BHXH và một số biện
pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu nộp quỹ BHXH Việt Nam hiện nay"

kiện sinh sống bình thờng. Trái lại, có rất nhiều trờng hợp khó khăn
bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho ngời ta bị giảm hoặc
mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác. Chẳng hạn, bất
ngờ bị ốm đau hay bị tai nạn trong lao động, mất việc làm hay khi
tuổi già khả năng lao động và khả năng tự phục vụ bị suy giảm
v.v... Khi rơi vào những trờng hợp này, các nhu cầu cần thiết trong
cuộc sống không vì thế mà mất đi, trái lại có cái còn tăng lên, thậm
chí còn xuất hiện thêm một số nhu cầu mới nh : cần đợc khám chứa
bệnh và điều trị ốm đau; tai nạn thơng tật nặng cần phải có ngời
chăm sóc nuôi dỡng v.v... Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc
sống, con ngời và xã hội loài ngời phải tìm ra và thực tế đã tìm ra
nhiều cách giải quyết khác nhau nh: san sẻ, đùm bọc lẫn nhau trong
nội bộ công đồng; đi vay, đi xin hoặc dựa vào sự cứu trợ của Nhà n -
ớc v.v... Rõ ràng, những cách đó là hoàn toàn thụ động và không
chắc chắn.
Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mớn nhân công
trở nên phổ biến. Lúc đầu ngời chủ chỉ cam kết trả công lao động,
3
nhng về sau đã phải cam kết cả việc bảo đảm cho ngời làm thuê có
một số thu nhập nhất định để họ trang trải những nhu cu thiết yếu
khi không may bị ốm đau, tại nạn, thai sản v.v... Trong thực tế,
nhiều khi các trờng hợp trên không xảy ra và ngời chủ không phải
chi ra một đồng nào. Nhng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ
phải bỏ ra một lúc nhiều khoản tiền lớn mà họ không muốn. Vì thế,
mâu thuẫn chủ - thợ phát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh buộc giới
chủ thực hiện cam kết. Cuộc đấu tranh này diễn ra ngày càng rộng
lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội. Do vậy,
Nhà nớc đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn. Sự can
thiệp này một mặt làm tăng đợc vai trò của Nhà nớc, mặt khác buộc
cả giới chủ và giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định

tật do lao động hình thành năm 1889. Đến nay BHXH đợc thực hiện
trên rất nhiều nớc và trở thành một bộ phận quan trọng trong hoạt
động của Liên hợp quốc. Một tổ chức quốc tế lớn nhất thế giới hiện
nay. Trong tuyên ngôn của Liên hợp quốc thông qua ngày 10 tháng
12 năm 1948 có ghi: "Tất cả mọi ngời, với t cách là thành viên của
xã hội, có quyền hởng BHXH. Quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn
các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho nhân cách và sự tự
do phát triển con ngời".. Để thể chế hoá tinh thần đó, tổ chức lao
động quốc tế ILO (một tổ chức cơ cấu trong liên hợp quốc) đã đ a ra
Công ớc 102 quy định về tiêu chuẩn tối thiểu của BHXH và những
khuyến nghị các nớc thành viên về việc thực hiện các tiêu chuẩn
này.
2.2. Khái quát về sự hình thành và phát triển chính sách
BHXH ở Việt Nam
Nh ở phần trên, BHXH phát triển gắn liền với sự phát triển của
nền kinh tế hàng hoá, ở Việt Nam trong gần một thế kỷ cai trị, bọn
thực dân Pháp hầu nh không đề ra đợc những gì để bảo vệ các
quyền cơ bản của con ngời. Không thực hiện đợc chế độ chính sách
về BHXH đối với ngời lao động Việt Nam. Ngay sau cách mạng
tháng 8 thành công trên cơ sở Hiến pháp năm 1946 của nớc Việt
Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ đã ban hành một loạt các sắc
5
lệnh quy định về các chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn, hu trí cho công
nhân viên chức Nhà nớc (có Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947; Sắc
lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 và Sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950). Cơ
sở pháp lý tiếp theo của BHXH đợc thể hiện trong Hiến pháp năm
1959. Hiến pháp năm 1959 của nớc ta đã thừa nhận công nhân viên
chức có quyền đợc trợ cấp BHXH. Quyền này đợc cụ thể hoá trong
Điều lệ tạm thời về BHXH đối với công nhân viên chức Nhà nớc,
ban hành kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 và Điều lệ

thành phần kinh tế của cả nớc.
II. Những nội dung chủ yếu của BHXH
1. Khái niệm BHXH
Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách xã hội quan
trọng của Đảng và Nhà nớc. Chính sách BHXH đã đợc thể chế hoá
và thực hiện theo Luật. BHXH là sự chia sẻ rủi ro và các nguồn quỹ
nhằm bảo vệ ngời lao động khi họ không còn khả năng làm việc.
"Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần
thu nhập cho ngời lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập
từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất
việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng
một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH,
nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của ngời lao động và gia
đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội". Chính vì vậy,
đối tợng của BHXH chính là thu nhập của ngời lao động bị biến
động giảm hoặc mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất
việc làm của những ngời lao động tham gia BHXH.
Đồi tợng tham gia BHXH là ngời lao động và ngời sử dụng lao
động. Tuy vậy, tuỳ theo sự phát triển kinh tế xã hội cuả mỗi nớc
mà đối tợng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận những ngời lao
động nào đó.
Dới giác độ pháp lý, BHXH là một loại chế độ pháp định bảo
vệ ngời lao động, sử dụng nguồn tiền đóng góp của ngời lao động,
ngời sử dụng lao động và sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nớc, nhằm trợ
cấp vật chất cho ngời đợc bảo hiểm và gia đình trong trờng hợp bị
giảm hoặc mất thu nhập bình thờng do ốm đau, tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp, thai sản, thất nghiệp, hết tuổi lao động theo quy
định của pháp luật, hoặc chết.
7
Quỹ bảo hiểm xã hội dành chi trả các chế độ trợ cấp và quản lý

Vấn đề này có quan hệ trực tiếp đến các khía cạnh có liên quan
đến việc thiết kế các chính sách và nội dung cụ thể của từng chế độ
8
BHXH. Mức tối thiểu của các chế độ BHXH là mức đóng định kỳ
(hàng tháng), mức thời gian tối thiểu để tham gia và đợc hởng các
chế độ BHXH cụ thể. Các mức tối thiểu này, khi thiết kế th ờng dựa
vào tiền lơng tối thiểu, tiền lơng bình quân, quảng đời lao động
v.v... Mặt khác, mức tối thiểu còn phải tính đến giá trị của các chế
độ BHXH mà ngời tham gia đợc hởng. Nguyên tắc này liên quan
trức tiếp đến việc tạo nguồn, xây dựng quỹ BHXH, và khuyến khích
ngời lao động và các tầng lớp xã hội tham gia.
2.4. BHXH phải đảm bảo sự thống nhất và liên tục cả về mức
tham gia và thời gian thức hiện, đảm bảo quyền lợi của ng ời lao
động
Nguyên tắc này đảm bảo sự thích hợp của BHXH trong cơ chế
thị trờng, trong đó sự di chuyển và biến động lao động có thể xảy
ra, thậm trí mang tính thờng xuyên. Sự thay đổi nơI làm việc và
thay đổi hợp đồng lao động cả vể nội dung đối, tác v.v tạo ra
những giai đoạn có thể vệ thời gian và không gian của quá trình
làm việc. Điều này có thể xảy ra trong cả các quan hệ về BHXH.
Việc đảm bảo cho ngời tham gia BHXH có thể duy trì quan hệ một
cách liên tục theo thời gian có tham gia và thống nhất về các chế độ
sẽ tạo ra sự linh hoạt cần thiết và thuận tiên cho ngời lao động tham
gia vào các quan hệ BHXH tốt hơn, đầy đủ và tích cực hơn. Do vậy,
mức tham gia và thời gian thực tế tham gia là căn cứ chủ yếu nhất
đẻ duy trì quan hệ BHXH đối với ngời lao động.
2.5. Công bằng trong BHXH
Đây là nguyên tắc rất quan trọng songcũng rất phức tạp trong
chính sách BHXH. Quan hệ BHXH đợc thực hiên trong một thời
gian dài, cả trong và ngoài quá trình lao động. Trong quá trình đó

BHXH (Bên nhận nhiệm vụ BHXH) thông thờng là cơ quan chuyên
trách do Nhà nớc lập ra và bảo trợ. Bên đợc BHXH là ngời lao động
và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết.
- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất
việc làm trong BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý
muốn chủ quan của con ngời nh: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp... Hoặc cũng có thể là những trờng hợp xảy ra không
10
hoàn toàn ngẫu nhiên nh: Tuổi già, thai sản v.v.... Đồng thời những
biến cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động.
- Phần thu nhập của ngời lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp
phải những biến cố, rủi ro sẽ đợc bù đắp hoặc thay thế từ một
nguồn quỹ tiền tệ tập trung đợc tồn tích lại. Nguồn quỹ này do bên
tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu, ngoài ra còn đợc sự hỗ trợ từ
phía Nhà nớc.
- Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết
yếu của ngời lao động trong trờng hợp bị giảm hoặc mất thu nhập,
mất việc làm. Mục tiêu này đã đợc tổ chức lao động quốc tế (ILO)
cụ thể hoá nh sau:
+ Đền bù cho ngời lao động những khoản thu nhập bị mất để
đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ.
+ Chăm sóc sức khoản và chống bệnh tật.
+ Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân c và
các nhu cầu đặc biệt của ngời già, ngời tàn tật và trẻ em.
Với những mục tiêu trên, BHXH đã trở thành một trong những
quyền con ngời và đợc Đại hội đồng Liên hợp quốc thừa nhận và
ghi vào Tuyên ngôn Nhân quyền ngày 10/12/1948 rằng: "Tất cả mọi
ngời với t cách là thành viên của xã hội có quyền hởng bảo hiểm xã
hội, quyền đó đợc đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế,
xã hội và văn hoá nhu cầu cho nhân cách và sự tự do phát triển con

năng lao động hoặc mất việc làm. Sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp
này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy cho cùng, mất khả năng lao động sẽ
đến với tất cả mọi ngời lao động khi hết tuổi lao động theo các điều
kiện quy định của BHXH. Còn mất việc làm và mất khả năng lao
động cũng sẽ đợc hởng trợ cấp BHXH với mức hởng phụ thuộc vào
các điều kiện cần thiết, thời điểm và thời hạn đợc hởng phải đúng
quy định. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định
nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH.
- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những
ngời tham gia BHXH. Tham gia BHXH không chỉ có ngời lao động
mà cả những ngời sử dụng lao động. Các bên tham gia đều phải
đóng góp vào quỹ BHXH. Quỹ này dùng để trợ cấp cho một số ng ời
12
lao động tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập. Số lợng những
ngời này thờng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số những ngời tham
gia đóng góp. Nh vậy, theo quy luật số đông bù số ít, BHXH thực
hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang. Phân
phối lại giữa những ngời lao động có thu nhập cao và thấp, giữa
những ngời khoẻ mạnh đang làm việc với những ngời ốm yếu phải
nghỉ việc v.v... Thực hiện chức năng này có nghĩa là BHXH góp
phần thực hiện công bằng xã hội.
- Góp phần kích thích ngời lao động hăng hái lao động sản xuất
nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội.
Khi khoẻ mạnh tham gia lao động sản xuất, ngời lao động đợc chủ
sử dụng lao động trả lơng hoặc tiền công. Khi ốm đau, thai sản, tai
nạn lao động, hoặc khi về già đã có BHXH trợ cấp thay thế nguồn
thu nhập bị mất. Vì thế cuộc sống của họ và gia đình họ luôn đợc
đảm bảo ổn định và có chỗ dựa. Do đó, ngời lao động luôn yên tâm,
gắn bó tận tình với công việc, với nơi làm việc. Từ đó, họ rất tích
cực lao động sản xuất, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả

tế xã hội của mỗi nớc.
- BHXH có tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo
thời gian và không gian. Tính chất này thể hiện rất rõ ở những nội
dung cơ bản của BHXH. Từ thời điểm hình thành và triển khai, đến
mức đóng góp của các bên tham gia để hình thành quỹ BHXH. Từ
những rủi ro phát sinh ngẫu nhiên theo thời gian và không gian đến
mức trợ cấp BHXH theo từng chế độ cho ngời lao động v.v...
- BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội, đồng thời còn
có tính dịch vụ.
Tính kinh tế thể hiện rõ nhất là ở chỗ, quỹ BHXH muốn đ ợc
hình thành, bảo toàn và tăng trởng phải có sự đóng góp của các bên
tham gia và phải đợc quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích. Mức
đóng góp của các bên phải đợc tính toán rất cụ thể dựa trên xác suất
phát sinh thiệt hại cuả tập hợp ngời lao động tham gia BHXH. Quỹ
BHXH chủ yếu dùng để trợ cấp cho ngời lao động theo các điều
kiện của BHXH. Thực chất, phần đóng góp của mỗi ng ời lao động
là không đáng kể, nhng quyền lợi nhận đợc là rất lớn khi gặp rủi ro.
Đối với ngời sử dụng lao động việc tham gia đóng góp vào quỹ
14
BHXH là để bảo hiểm cho ngời lao động mà mình sử dụng. Xét dới
góc độ kinh tế, họ cũng có lợi vì không phải bỏ ra một khoản tiền
lớn để trang thải cho những ngời lao động bị mất hoặc giảm khả
năng lao động. Với Nhà nớc BHXH góp phầm làm giảm gánh nặng
cho ngân sách đồng thời quỹ BHXH còn là nguồn đầu t đáng kể cho nền
kinh tế quốc dân.
BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống bảo đảm xã hội, vì vậy
tính xã hội của nó thể hiện rất rõ nét. Xét về lâu dài, mọi ngời lao
động trong xã hội đều có quyền tham gia BHXH. Và ngợc lại,
BHXH phải có trách nhiệm bảo hiểm cho mọi ngời lao động và gia
đình họ, kể cả khi họ còn đang trong độ tuổi lao động. Tính xã hội

đóng góp vào quỹ BHXH và có trách nhiệm thực hiện các chế độ
BHXH đối với ngời lao động mà mình sử dụng theo đúng luật pháp
quy định. Ngời sử dụng lao động muốn ổn định sản xuất kinh doanh
thì ngoài việc phải chăm lo đầu t để có thiết bị hiện đại, công nghệ
tiên tiến còn phải chăm lo tay nghề và đời sống cho ngời lao động
mà mình sử dụng. Khi ngời lao động làm việc bình thờng thì phải
trả lơng thoả đáng cho họ. Khi họ gặp rủi ro, bị ốm đau, tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp v.v... trong đó có rất nhiều tr ờng hợp gắn
với quá trình lao động với những điều kiện lao động cụ thể của
doanh nghiệp thì phải có trách nhiệm BHXH cho họ. Chỉ có nh vậy,
ngời lao động mới yên tâm, tích cực lao động sản xuất, phát huy
sáng kiến cải tiến kỹ thuật góp phần nâng cao năng suất lao động
và tăng hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp.
6.3. Ngời lao động đợc bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi đối
với BHXH, không phân biệt nam nữ, dân tộc, tôn giáo, nghề
nghiệp v.v...
Điều đó có nghĩa là mọi ngời lao động trong xã hội đều đợc h-
ởng BHXH nh tuyên ngôn dân quyền đã nêu,đồng thời bình đẳng về
nghĩa vụ đóng góp và quyền lợi trợ cấp BHXH. Ng ời lao động khi
gặp rủi ro không mong muốn và không phải hoàn toàn hay trực tiếp
do lỗi của ngời khác thì trớc hết đó là rủi ro của bản thân. Vì thế,
muốn đợc BHXH tức là muốn nhiều ngời khác hỗ trợ cho mìnhlà
dàn trải rủi ro của mình cho nhiều ngời khác thì tự mình phải gánh
chịu trực tiếp và trớc hết. Điều đó có nghĩa là ngời lao động phải có
trách nhiệm tham gia BHXH để tự bảo hiểm cho mình.
16
Tuy nhiên, nghĩa vụ và quyền lợi của ngời lao động về BHXH
còn tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, vào các mối quan hệ
kinh tế, chính trị, xã hội ổn định thì ngời lao động tham gia và đợc
hởng trợ cấp BHXH ngày càng đông.

bộ máy thực hiện chính sách BHXH
Bởi vì, BHXH là một bộ phần cấu thành các chính sách xã hội,
nó vừa là nhân tố ổn định, vừa là nhân tố động lực phát triển kinh tế
- xã hội. Cho nên, vai trò của Nhà nớc là rất quan trọng. Thực tế đã
chỉ rõ, nếu không có sự can thiệp của Nhà nớc, nếu không có sự
quản lý vĩ mô của Nhà nớc thì mối quan hệ giữa ngời lao động và
ngời sử dụng lao động sẽ không đợc duy trì bền vững, mối quan hệ
ba bên trong BHXH sẽ bị phá vỡ.
Hơn nữa, BHXH đợc thực hiện thông qua một quy trình, từ việc
hoạch định chính sách, đảm bảo vật chất đến việc xét trợ cấp v.v...
Vì vậy, Nhà nớc quản lý toàn bộ quy trình này, hay có những giới
hạn về mức độ và phạm vi.
Trớc hết, phải khảng định rằng việc hoạch định chính sách
BHXH là khâu đầu tiên và quan trọng nhất. Sự quản lý của Nhà nớc
về vấn đề này thể hiện ở việc xây dựng các dự án luật, các văn bản
pháp quy về BHXH và ban hành thực hiện. Sau đó là hớng dẫn, kiểm
tra, thanh tra các tổ chức, cá nhân thực hiện chính sách.
Đối với việc đảm bảo vật chất cho BHXH thì vai trò của Nhà n-
ớc phụ thuộc vào chính sách BHXH do Nhà nớc quy định. Có những
mô hình về bảo đảm vật chất cho BHXH do ngân sách Nhà nớc
cung cấp thì vai trò quản lý Nhà nớc là trực tiếp và toàn diện, nếu
nguồn đảm bảo trợ cấp do ngời sử dụng lao động, ngời lao động và
Nhà nớc đóng góp thì Nhà nớc tham gia quản lý.
Để quản lý BHXH, Nhà nớc sử dụng các công cụ chủ yếu nh
luật pháp và bộ máy tổ chức. Nhìn chung, hầu hết các nớc trên thế
giới, việc quản lý vĩ mô BHXH đều đợc Nhà nớc giao cho Bộ Lao
động hoặc bộ xã hội trực tiếp điều hành.
18
III. Quỹ BHXH
1. Khái niệm

hệ tốt đẹp giữa chủ - thợ. Về phía ngời lao động, đóng góp một
phần để BHXH cho mình vừa biểu hiện sự tự gánh chịu trực tiếp rủi
ro của chính mình, vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi
một cách chặt chẽ.
Mối quan hệ chủ - thợ trong BHXH thực chất là mối quan hệ
lợi ích. Vì thế, cũng nh nhiều lĩnh vực khác trong quan hệ lao động,
BHXH không thể thiếu đợc sự tham gia đóng góp của Nhà nớc. Trớc
hết là các luật lệ của Nhà nớc về BHXH là những chuẩn mực pháp
lý cho cả ngời lao động và ngời sử dụng lao động đều phải tuân
theo, những tranh chấp chủ - thợ trong lĩnh vực BHXH có cơ sở
vững chắc để giải quyết. Ngoài ra, bằng nhiều hình thức, biện pháp
và mức độ can thiệp khác nhau, Nhà nớc không chỉ tham gia đóng
góp và hỗ trợ thêm cho quỹ BHXH, mà còn chở thành chỗ dựa để
đảm bảo cho hoạt động BHXH chắc chắn và ổn định.
Phần lớn các nớc trên thế giới, quỹ BHXH đều đợc hình thành
từ các nguồn trên. Tuy nhiên, phơng thức đóng góp và mức đóng
góp của các bên tham gia BHXH có khác nhau.
Về phơng thức đóng góp BHXH của ngời lao động và ngời sử
dụng lao động hiện vẫn còn hai quan điểm. Quan điểm thứ nhất cho
rằng, phải căn cứ vào mức lơng và quỹ lơng của cơ quan, doanh
nghiệp. Quan điểm thứ hai lại nêu lên, phải căn cứ vào mức thu
nhập cơ bản của ngời lao động đợc cân đối chung cho toàn bộ nền
kinh tế quốc dân để xác định mức đóng góp.
Về mức đóng góp BHXH, một số nớc quy định ngời sử dụng
lao động phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động,
Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại cả
ngời lao động và ngời sử dụng lao động cùng đóng góp mỗi bên
một phần bằng nhau. Một số nớc khác lại quy định, Chính phủ bù
thiếu cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí quản lý BHXH v.v...
Mức đóng góp BHXH ở một số nớc trên thế giới

đóng góp BHXH lại khá phức tạp vì nó liên quan tới cả ngời lao
động, ngời sử dụng lao động và Nhà nớc. Liên quan đến khả năng
cân đối thu nhập của ngời lao động và kiều kiện phát triển kinh tế
xã hội của đất nớc. Tuy nhiên, khi xác định mức đóng góp BHXH
vẫn phải đảm bảo nguyên tắc: cân bằng thu chi, lấy số đông bù số ít
và có dự phòng. Mức đóng góp xác định phải đợc cân đối với mức
hởng, với nhu cấu BHXH và điều chỉnh sao cho tối u nhất.
Mức đóng góp BHXH đợc cấu thành từ 3 bộ phận và đợc xác
định theo công thức:
P = f1 + f2 + f3
Trong đó: P - Mức đóng góp BHXH
f1- Đóng góp thuần tuý trợ cấp BHXH
21
f2- Đóng góp dự phòng
f3- Đóng góp quản lý
Đóng góp thuần tuý trợ cấp BHXH cho cả các chế độ ngắn hạn
và dài hạn. Đối với các chế độ BHXH ngắn hạn việc đóng và h ởng
BHXH xảy ra trong thời gian ngắn (thờng là 1 năm) nh: ốm đau,
thai sản, tai nạn lao động nhẹ... Vì vậy, số đóng góp BHXH phải đủ
cho số phát sinh chi trả trong năm. Đối với các chế độ BHXH dài
hạn nh: Hu trí mất ngời nuôi dỡng, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề
nghiệp nặng v.v... quá trình đóng góp và quá trình h ởng tơng đối
độc lập với nhau và diễn ra trong khoảng thời gian nhất định. Cho
nên, sự công băng giữa đóng góp và hởng BHXH phải đợc dàn trải
trong cả thời kỳ dài. Vì thế, ngoài đóng góp thuần tuý phải có đóng
góp dự phòng để đảm bảo quỹ BHXH có dự trữ đủ lớn.
Nh vậy, để xác định đợc mức đóng góp và mức hởng BHXH
phải dựa vào nhiều yếu tố và nhiều thông tin khác nhau về nguồn
lao động, cơ cấu nguồn lao động theo tuổi, giới tính, ngành nghề
v.v... ngoài ra còn phải xác định và dự báo đợc tuổi thọ bình quân

dựng còn phải tính đến yếu tố sinh học; tuổi thọ bình quân của
quốc gia; nhu cầu dinh dỡng; xác xuất tử vong v.v...
Hệ thống các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
+ Các chế độ đợc xây dựng theo luật pháp mỗi nớc.
+ Hệ thống các chế độ mang tính chất chia sẻ rủi ro, chia sẻ tài chính.
+ Mỗi chế đọ đợc chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp
của các bên tham gia BHXH.
+ Phần lớn các chế độ là chi trả định kỳ.
+ Đồng tiền đợc sử dụng làm phơng tiện chi trả và thanh quyết
toán.
+ Chi trả BHXH là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH.
+ Mức chi trả còn phụ thuộc vào quỹ dự trữ. Nếu quỹ dự trữ đ-
ợc đầu t có hiệu quả và an toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định.
Tuy nhiên, cơ sở để xác định điều kiện hởng BHXH phải tính
đến một loạt các yếu tố liên quan đến toàn bộ hệ thống các chế độ
cũng nh tựng chế độ BHXH cụ thể. Chẳng hạn, khi xác định điều
kiện trợ cấp BHXH tuối già phải dừa vào cơ sớ sinh học là tuổi đời
và giới tính của ngời lao động là chủ yếu. Bởi vì tuổi già để hởng
trợ cấp hu trí của mỗi giới, mỗi vùng, mỗi quốc gia có những khác
biệt nhất định. Do đó, có những nớc quy định: Nam 60 tuổi và nữ
23
55 tuổi sẽ đợc nghỉ hu. Nhng cũng có những nớc quy định: Nam 65
tuổi và nữ 60 tuổi v.v... Hoặc khi xác định điều kiên h ởng trợ cấp
cho chế độ tai nan lao động và bệnh nghề nghiệp phải tính đến các
yếu tố nh: điều kiên và môi trơng lao động; bảo hộ lao động v.v...
Các yếu tố này thờng có quan hệ và tác động qua lại với nhau ít
nhiều ảnh hởng tới điều kiện BHXH của từng chế độ và toàn bộ hệ
thống các chế độ BHXH.
Thời gian hởng trợ cấp và mức hởng trợ cấp BHXH nói chung
phụ thuộc vào từng trờng hợp cụ thể và thời gian đóng bảo hiểm của

và tăng trởng nguồn quỹ.
Qúa trình đầu t quỹ BHXH phải đảm bảo nguyên tắc: an toàn,
có lợi nhuận, có khả năng thanh toán và đảm bảo lợi ích kinh tế -
xã hội.
3.2. Các chế độ BHXH đang đợc thực hiện ở Việt Nam hiện
nay
Theo điều 2 của Điều lệ BHXH Việt Nam, BHXH n ớc ta hiện
nay bao gồm 5 chế độ:
1. Chế độ trợ cấp ốm đau
2. Chế độ trợ cấp thai sản
3. Chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
4. Chế độ hu trí
5. Chế độ tử tuất
So với trớc đây, chế độ trợ cấp mất sức lao động bị loại bỏ. Nội
dung của 5 chế đọ nêu trên đợc quy định thống nhất trong chơng II
của Điều lệ. Mỗi chế độ BHXH khi xây dựng đều căn cứ vào một
loạt những cơ sở nh: sinh học; kinh tế - xã hội; điều kiện và môi tr -
ờng lao động v.v...
4. Cơ chế quản lý quỹ BHXH
4.1. Một số nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và quản lý quỹ BHXH
Để thực hiện tốt mục đích của quỹ BHXH, trong quá trình quản lý điều
hành hoạt động quỹ BHXH cần quán triệt những nguyên tắc cơ bản sau đây:
- Tài chính BHXH là một quỹ tồn tại và hoạt động độc lập, cơ chế thu,
chi của quỹ phải luôn bảo đảm cân đối, phải bảo toàn và phát triển quỹ để
bảo đảm quyền lợi cho ngời tham gia BHXH. Vì thế, tổ chức quản lý điều
hành quỹ BHXH phải đợc tổ chức độc lập thống nhất trong phạm vi cả nớc
trên cơ sở pháp luật của Nhà nớc đã ban hành và chịu sự kiểm tra, giám sát,
quản lý của Nhà nớc về chấp hành pháp luật BHXH đối với các bên tham gia
BHXH. Tổ chức BHXH Việt Nam có hoạt động độc lập thì mới có điều kiện
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status